LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo khóa học 2011-2013 và đánh giá
kết quả học tập của học sinh, sinh viên trước khi ra trường, được sự nhất trí của
khoa Nông Lâm và Trường Cao Đẳng Sơn La em được về địa phương thực tập
tại xã Mường Giôn và để hoàn thành đề tài “ Nghiên cứu kiến thức bản địa
trong việc khai thác và sử dụng các loài côn trùng làm thực phẩm tại Xã Mường
Giôn – Huyện Quỳnh Nhai – Tỉnh Sơn La “đến nay em đã hoàn thành luận văn.
Đầu tiên em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn Th.s
Hoàng Thị Hồng Nghiệp đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và thực
hiện đề tài. Qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các bác , cô ,chú ,anh ,chị
trong ủy ban xã Mường Giôn, các bạn bè đồng nghiệp, người dân tại địa phương
và gia đình đã giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực tập và thực
hiện đề tài tốt nghiệp này.
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn và những khó khăn khách
quan khác nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được những ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để luận
văn của em hoàn thiện và đầy đủ hơn.
Em xin cam đoan nghiên cứu này là của cá nhân em.các tài liệu thu
thập kết quả nghiên cứu trong đề tài là hoàn toàn có thật, em xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày….tháng…. năm….
HỌC SINH
Lò Thị Bửa
1
Chƣơng 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
mật, loài bướm cung cấp dinh dưỡng cho các loài động vật, kìm hãm các sinh
vật gây hại góp phần tạo nên cân bằng sinh thái.
Côn trùng cũng có thể tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực khi chúng có cơ
hội phá hại. Tuy vậy sự có mặt của các loài côn trùng trên những loài cây bản
địa ít được quan tâm, chú trọng. Vậy để biết được thành phần, mật độ, diễn biến
của chúng ra sao chúng em tiến hành “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong việc
khai thác và sử dụng các loài côn trùng làm thực phẩm tại xã Mường Giôn huyện Quỳnh Nhai - tỉnh Sơn La”. Qua nghiên cứu này nhằm đạt được những
kết quả mong muốn trong quá trình nghiên cứu.
3
Chƣơng 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Trên thế giới
Ngay từ khi loài người mới xuất hiện, đặc biệt là từ lúc con người bắt đầu
biết trồng trọt và chăn nuôi, họ đã va chạm với sự phá hoại nhiều mặt của côn
trùng. Do đó con người phải bắt tay vào tìm hiểu và nghiên cứu về côn trùng.
Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú. Trong một cuốn
sách cổ của Xêri viết vào năm 3000 TCN đã nói tới những cuộc bay khổng lồ và
sự phá hoại khủng khiếp của những đàn châu chấu sa mạc.
Trong các tác phẩm nghiên cứu của ông nhà triết học cổ Hy Lạp
aristoteles (384 - 322 TCN) đã hệ thống hoá được hơn 60 loài côn trùng. Ông đã
gọi tất cả những loài côn trùng ấy là những loài chân có đốt. Nhà tự nhiên học vĩ
đại người Thụy Điển Carl von Linne được coi là người đầu tiên đưa ra đơn vị
phân loại và đã tập hợp xây dựng được một bảng phân loại về động vật và thực
vật trong đó có côn trùng. Sách phân loại thiên nhiên của ông đã được xuất bản
tới 10 lần. Liên tiếp các thế kỉ sau như thế kỉ XIX có Lamarck, thế kỉ XX có
Handlirich, Krepton 1904, Ma-tư-nốp 1928, Weber 1938 tiếp tục cho ra những
lá chrysomelidae.
Năm 1965 và năm 1975 N.N Pađi, A.N Boronxop đã viết giáo trình “Côn
trùng rừng” trong các tác phẩm này đã đề cập đến nhiều loài côn trùng Bộ Cánh
cứng hại rừng như: mọt, xén tóc, sâu đinh và bọ lá.
Năm 1966 Bey - Bienko đã phát hiện và mô tả được 300.000 loài côn
trùng thuộc Bộ Cánh cứng. ở Trung Quốc môn côn trùng lâm nghiệp đã được
chính thức giảng dạy trong các trường Đại học lâm nghiệp từ năm 1952, từ đó
việc nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp được đẩy mạnh.
Năm 1959 Trương Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng
học” liên tiếp từ năm 1965 giáo trình “Sâm lâm côn trùng học” được viết lại
nhiều lần. Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và
các biện pháp phòng trừ nhiều loài bọ lá phá hoại nhiều loài cây rừng.
Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xây dựng một bảng tra của ba họ
phụ của Họ Bọ lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelinea đã giới thiệu
35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae đã giới
thiệu 93 loài. ở Rumani năm 1962 M.A. Ionescu đã xuất bản cuốn “Côn trùng
5
học”trong đó có đề cập đến phân loại Họ Bọ lá Chrysomelidae. Tác giả cho biết
trên thế giới đã phát hiện được 24.000 loài bọ lá và tác giả đã mô tả cụ thể được
14 loài. ở Mỹ theo tài liệu sách hướng dẫn về lĩnh vực côn trùng ở Bắc châu Mỹ
thuộc Mêhicô của Donald.J.Borror và Richard. E. White (1970 - 1978) đã đề cập
đến đặc điểm phân loại của 9 họ phụ thuộc Họ Bọ lá Chrysomelidae. Đó là điểm
qua về một số mốc lịch sử nổi bật sự phát triển nghiên cứu về côn trùng của thế
giới. Vì côn trùng là một lớp phong phú nhất trong giới động vật nên các tài liệu
nghiên cứu về côn trùng cũng vô cùng phong phú.
2.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam phong trào ăn côn trùng mới chỉ phát triển trong vài năm gần
đây với một số lọa côn trùng như ; Bọ xít, cào cào, châu chấu, bọ cạp, dế mèn ...
- Lập được danh lục các loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm tại
khu vực nhgiên cứu.
- Đánh giá được hiện trạng khai thác, sử dụng kiến thức bản địa liên quan
đến khai thác sử dụng
- Đề xuất được các giải pháp phát triển và quản lý côn trùng làm thực phẩm.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài, trữ lượng của các loài côn trùng được sử dụng
là thành phần tại khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu hiên trạng khai thác, sử dụng kiến thức bản địa liên quan
đến khai thác sử dụng.
- Đề xuất được các giải pháp phát triển và quản lý côn trùng làm thực phẩm.
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung trên, chúng tôi tiến hành các bước như sau:
3.4.1. Công tác ngoại nghiệp
Điều tra về cách thức bảo tồn và sử dụng các loài côn trùng làm thực
phẩm, quá trình điều tra được tiến hành theo các phương pháp sau:
3.4.1
-Các nguồn cung cấp tài liệu:
Các cơ quan chính quyền địa phương
+Các tài liệu xuất bản có liên quan đến địa phương.
-Phương pháp thu thập số liệu.
7
Liệt kê các số liệu, thông tin cần thiết có thể thu thập, hệ thống hóa theo
nội dung hay địa điểm thu thập và dự kiến địa điểm cơ quan cung cấp thông tin.
Liên hệ với các cơ quan cung cấp thông tin.
Tiến hành thu thập bằng cách ghi chép sao chụp.
iểm tra tính thực tiến của thông tin thông qua quan sát trực tiếp và
3.4.1
Tiến hành đi theo người dân trong quá trình khai thác và sử dụng một số
loài côn trùng được dùng làm thực phẩm để tìm hiểu, phỏng vấn kinh nghiệm
khai thác ngoài thực tế.
3.4.1.4
Phương pháp này được tiến hành chưng cầu
kiến của các chuyên gia để
thu được kết quả chính xác nhất và nhằm.
Điều chỉnh và hoàn thiện các giải pháp được hình thành trong phân tích
nội nghiệp.
Xác định một cách chính xác tên khoa học các loài côn trùng được sử
dụng làm thực phẩm bảo tồn và sử dụng tại địa phương.
3.4.2. Công tác n i nghiệp
- Xác định các loài chính ưu tiên trong khai thác và phát triển
Từ việc tổng hợp kết quả phiếu phỏng vấn và phân tích số liệu điều tra thực địa
xác định ra các loài chính ưu tiên trong khai thác và phát triển với các tiêu chí
đánh giá:
+ Loài rất hay gặp tại địa phương;
+ Loài có trữ lượng lớn, thời gian thu bắt trong năm dài;
Loài được sử dụng làm thực phẩm một cách phổ biến;
Loài được đánh giá là rất ngon khi sử dụng và được coi là món ăn ưa
thích của nhiều người, nhiều thành phần trong xã hội;
Loài được buôn bán rộng rãi trên thị trường, có giá thành cao và rễ tiêu thụ.
Phân tích SWOT: Tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của
việc nhân nuôi phát triển côn trùng thực phẩm tại Sơn La.
9
- Tài nguyên khoáng sản hiện nay trên địa bàn xã chưa có khảo sát về
tài ngyên khoáng sản trong lòng đất.
10
-Tài nguyên nhân văn trên địa bàn xã có 4 dân tộc cùng sống đó là thái,
kinh ,mông,kháng.
Thực trạng môi trường
Cảnh quan môi trường của xã còn khá tốt, trong lành và giữ được nét đẹp
tự nhiên của vùng núi Tây Bắc. Tuy nhiên trong những thập niên gần đây có
nhiều nơi diện tích rừng bị khai thác quá mức, sản xuất nông nghiệp theo hình
thức bóc lột đất không có biện pháp bồi bổ cải tạo đất xảy ra khá phổ biến đã
làm giảm độ phì của đất.
4.2. tình hình dân sinh kinh tế - xã hội
Dân số, lao động, việc làm, thu nhập và đời sống dân cư
- Dân số:
Dân số toàn xã năm 2010 là 1.251 người với 1.991 hộ, quy mô hộ 3,2-7,1
người / hộ , gồm 26 bản. Mật độ dân số trung bình của xã 53, 54 người / km2 có
4 dân tộc chính là: háng, Thái, Mông, kinh trong đó dân tộc Thái chiếm tỷ lệ
cao nhất . Tỷ lệ phát triển dân số là 1, 50% / năm.
- Lao động việc làm và thu nhập: toàn xã có 5. 536 lao động chiếm 54%
dân số .
- Đời sống dân cư: năm 2010 số hộ nghèo giảm còn 598 hộ, chiếm 30%
tổng số hộ ( số hộ nghèo được tính theo tiêu chí mới) giảm 20 hộ so với năm
2009, trong xã không còn hộ đói. Thu nhập bình quân đầu người đạt 4 triệu đồng
/ người / năm.
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Thực trạng của hệ thống hạ tầng kỹ thuật
+,Giao thông
Mạng lưới giao thông trên địa bàn xã bao gồm: Quốc lộ 279, tuyến đường
xây dựng 6, 38% tăng 2, 8% so với năm 2005. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
trong 5 năm ước đạt 200 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người đạt 4 triệu
đồng/ người/ năm vượt 21, 8% 4 ( Nghị quy Đ i Hộ XVIII
t từ 3, tri u đồng /
n 3,5 tỷ ồ
n cuối nhi m kỳ
ời / ăm). Thu ngân sách đạt từ 4, 1 tỷ đồng ( NQ là từ
/ ăm ).
Nông lâm nghiệp, thủy sản: Từ năm 2005 – 2010, GDP ngành nông lâm
nghiệp , thủy sản giảm bình quân 4, 4% / năm.Tuy nhiên trên tốc độ tăng trưởng
trên đều thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế . Vì vậy tỷ trọng
12
của ngành 82, 3% ( năm 2005) giảm xuống năm 2010 có 78, 35% giá trị tuyệt
đối của ngành vẫn tăng liên tục .
Công nghiệp - xây dựng : Từ năm 2005 – 2010, phát triển mạnh, tốc độ
tăng trưởng không lớn tỷ trọng GDP của của ngành giao động, trong khoảng 4 –
4, 8% / năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005 – 2010 đạt 10% .
- Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Khu vực kinh tế nông, lâm nghiệp
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp có những chuyển biến tích
cực. Gía trị sản xuất của ngành nông nghiệp năm 2010 ước đạt 59, 98 tỷ đồng,
trong đó: Trồng trọt là 66, 0%, ngành chăn nuôi chiếm 33, 49% và lâm nghiệp
chiếm 0, 51%.
- Về trồng trọt : Năm 2010 tổng diện tích gieo trồng 2. 150, 0 ha (
5.1. Thành phần loài, trữ lƣợng của các loài côn trùng đƣợc sử dụng làm
thực phẩm tại xã Mƣờng Giôn.
Qua thời gian thực tập, thu thập tài liệu và mẫu tại xã Mường Giôn , dựa
vào các dạng địa hình, hướng phơi và sinh cảnh khác nhau, kết hợp với nghiên
cứu tài liệu phân loại côn trùng làm thực phẩm đã xác định được 8 loại côn trùng
thuộc 5 bộ và thuộc 8 họ khác nhau kết quả điều tra trong bảng dưới đây:
Bảng 5.1: Danh lục các loài côn trùng thu c đối tượng nghiên cứu
TT Tên khoa học
Tên Việt Nam
I
ORTHOPTERA
BỘ CÁNH THẲNG
1
Acridiae
Họ Châu chấu
Độ
Số lần bắt
P
3,3
x
bắt
gặp
Oxyachinensis
2
Thunberg
Châu chấu lúa
Gryllidae
Họ Dế mèn
Brachytrupes
Portentosus L
Dế mèn nâu lớn
Gryllotalpidae
Họ Dế dũi
Gryllotalpa Orienta
Họ Bọ xít vải
Tessaratoma papillosa Bọ xít nhãn vải
IV
COL EOPTERA
BỘ CÁNH CỨNG
15
6
Cerambycidae
Họ Xén tóc
Plocaederus ruficornis Xén tóc
V
HOMOPERA
BỘ CÁNH ĐỀU
7
Gcadiea
Họ ve sầu
1-3
3,0
x
5.1.1. Sự phân bố của các loài côn trùng trong khu vực nghiên cứu
Qua bảng 5.1 danh lục trên cho biết sự đa dạng về phân bố của các loài
côn trùng được sử cụng làm thực phẩm. Môi trường sống của chúng rất đa dạng
và phong phú , mỗi loài có những đặc tính riêng phân bố cũng khác nhau, có loài
sống ở dưới đất, có loài sống trên các đồng cỏ, đồng ruộng , bụi dậm và rừng cây, có
loài sống trong các khu vực trồng cây nông nghiệp quanh khu dân cư.
Sự phân bố của các loài côn trùng không những phụ thuộc vào nguồn thức
ăn, nơi cư trú mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố môi trường như: Nhiệt
độ, độ ẩm, gió mưa, ánh sáng … các yếu tố này thay đổi theo vị trí địa l , địa
hình khác nhau nên các loài côn trùng phân bố khác nhau.
5.1.2. Đa dạng về phân bố côn trùng theo điểm điều tra.
Hệ thống với 8 loài côn trùng , được bố trí 8 điểm điều tra sinh cảnh
khác nhau, vì vậy các loài côn trùng thu thập được tại 8 điểm điều tra là khác
nhau. Để thấy được sự phân bố các loài côn trùng the điểm điều tra em đã tiến
hành lập thdạng bảng thống kê các loài côn trùng đã thu thập được như sau:
Bảng 5.2: Số lƣợng các loài côn trùng thu thập đƣợc tại điểm điều tra
STT
Số lƣợng loài
Tỷ lệ %
1
6
1
2.22
7
1
11.11
8
1
5.55
Qua bảng 5.2 cho thấy điều tra các loài côn trùng Châu chấu , Ve sầu,
Dế mèn, Bọ ngựa Trung Quốc, Bọ trĩ là những loài điêu tra tại các điểm khác
nhau có số lượng loài nhiều nhất, trong đó những loài của các điểm ít hơn so với
các loài ở các điểm trên.
5.1.3. Sự phân bố của của côn trùng theo hướng phơi .
Hướng phơi có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố của các loài côn trùng
. Hướng phơi khác nhau có chế độ nhiệt, ánh sáng, độ ẩm khác nhau (hướng
Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc) kết quả điều tra được thể hiện trong bảng dưới
đây ;
Bảng 03: Kết quả điều tra sự ảnh hưởng của hướng phơi đến các loài côn trùng
STT
Sự phân bố theo dạng sinh cảnh khác nhau do tập tính của chúng cũng
như có sự ảnh hưởng của của yếu tố môi trường. Đa số các loài côn trùng phân
bố ở những khu vực như cád đồng cỏ, ruộng, dưới đất...
5.1.4. Mô tả các loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm
* Châu chấu lúa (Oxyachinensis Thunberg)
Thuộc họ Châu chấu (Acrdiae), bộ cánh thẳng (Orthoptera)
- Hình thái
Sâu trưởng thành thân thể dài 38 – 45 mm, miệng gặm nhai, mắt kép, râu đầu
hình sợi có 21 đốt. Mảnh lưng của phần ngực có một vết gờ chạy dọc. Cánh
màu xám có nhiều chấm đen, khi không bay cánh chập lại thành một vạt dài trên
17
lưng. Có 3 đôi chân, chân sau là chân nhảy, đùi to khoẻ, có gai ở đốt chày, có 2
đôi cánh.
- Tập tính sinh hoạt
Châu chấu là loài đa thực. Một năm có 2 vòng đời, thuộc kiểu biến thái
không hoàn toàn. Giai đoạn phá hại chủ yếu là giai đoạn sâu non, giai đoạn
trưởng thành ăn bổ sung.
* Dế mèn nâu lớn (Brachtrupes Protentosus)
Thuộc họ dế mèn (Gryllidae), bộ cánh thẳng (Orthoptera)
- Hình thái
Sâu trưởng thành có thân dài 40 – 50 mm , rộng 13mm, màu nâu
sẫm. Đầu và mảnh bụng ngực trước phát triển to rộng hơn thân có hai mắt đơn
nằm trên ngấn trán, râu đầu hình sợi chỉ dài bằng thân, cánh trên con đực có
nếp nhăn, cánh phủ hết bụng, sâu non con có 5 tuổi, lúc mới nở màu trắng
xám, đến 4 tuổi, tuổi 5 biến thành màu nau nhạt. Trứng hình quả bí đao dài
khoảng 4, 5mm.
của cây.
* Bọ ngựa Trung Quốc (Tenodera sinensis )
Họ bọ ngựa thường (Mantidea), bộ bọ ngựa (Mantodea)
- Hình thái
Sâu trưởng thành có thân thể dài từ 7-7,5cm, chiều rộng từ 1-1,5cm. Toàn
thân màu xanh lá mạ, hoặc màu lá mốc. Con đực có hình dáng mảnh hơn con cái.
Nhìn đối diện đầu hình tam giác, có hai mắt kép to, màu nâu đen óng ánh.
Râu đầu hình lông cứng dài bằng ½ thân thể, rất mảnh và có nhiều đốt,
đốt chân râu lớn. Cánh trước hình lá, từ mạch mép trước màu xanh lá mạ, dày,
còn từ mạch mép trước về sau nhạt dần trong suốt. Chân trước là chân bắt mồi,
chân giữa và chân sau dài, mảnh. Bàn chân có 5 đốt, bụng nhìn từ dưới có 6 đốt,
đốt cuối có 2 lông cứng.
Trứng có chiều dài 2-2,5cm, chiều rộng từ 1-1,5cm, màu nâu, cứng. Khi
sắp nở có màu đỏ nâu, trứng liên kết với nhau thành một khối lớn có từ 100-120
trứng, lỗ vũ hoá hướng lên phía trên.
Sâu non qua 5 lần lột xác, khi mới nở bò rất nhanh, sau mỗi lần lột xác
chúng lớn về kích thước, màu sắc thường ít thay đổi về cơ bản cũng như sâu
trưởng thành, chỉ khác là chưa có cánh.
- Tập tính sinh hoạt
19
Bọ ngựa xanh phân bố rộng trên nhiều loại lâm phần và trên nhiều loài
cây. Chúng ăn nhiều loài sâu hại, động vật đa túc và nhiều loài sâu có ích khác,
chúng còn có hiện tượng ăn thịt lẫn nhau. Tháng 10, 11 xuất hiện nhiều bọ ngựa
trưởng thành, chúng giao phối và bắt đầu đẻ trứng. Trứng thường được đẻ ở thân
cây, cành cây theo từng khối. Sau khi giao phối thì con cái ăn thịt con đực. Bọ
ngựa qua đông ở giai đoạn trứng. Trứng nở vào tháng 3,4 đến tháng 6,7 trở
thành sâu trưởng thành và bắt đầu đẻ trứng. Một năm bọ ngựa có 2 thế hệ.
đoạn sâu non khác hoàn toàn với sâu trưởng thành về màu sắc và cơ thể .
- Tập tính sinh hoạt.
Xén tóc từ giai đoạn sâu non chúng bắt đầu chíc hút các chất ding dưỡng
phá hoại nhiều cây gỗ, từ tháng 6 – 8 xuất hiện xén tóc trưởng thành chúng bắt đầu
giao phối và đẻ trứng. Trứng tường được đẻ vào trong các thân cây gỗ sau khi đẻ
trứng Sâu trưởng thành bắt đầu chết đi, vào tháng 9 – 12 trúng bắt đầu nở.
* Ve Sầu
Thuộc họ ve sầu( Gcaliae), bộ cánh đều ( Homotpe te ra).
- Hình thái.
Sâu trưởng thành. Thân dài từ 30 – 43mm, rộng từ 11 – 13mm. có đặc
điểm của bọn hút dịch cây, râu đầu ngấn và roi râu dạng lông cứng các đốt nhỏ
dần, bàn chân có 3 đốt có khả năng nhảy rất tốt bằng chân sau. Cánh được xếp
dạng mái nhà trên lưng.
Trứng luôn đẻ bằng ống dạng khoan vào mô thực vật .
- Tập tính sinh hoạt .
Ve sầu là loài đa thực, giai đoạn phá hoại sâu non, sâu trưởng thành để
tích chất dinh dưỡng, chủ yếu là hút dịch cây rừng. Ban ngày chúng bám vào
các thân cây để chích hút nhựa cây, ban đêm chúng ngủ tại các cành cây , khi hút hết
nhựa cây này chúng bắt đầu chuyển sang cây khác, tháng có nhiều nhất là tháng 46 chúng bắt đầu giao phối và đẻ trứng , một năm có 1 vòng đời .
* Bọ hung nâu lớn
Thuộc bộ cánh cứng (Hemipte ra),
- Hình thái .
Sâu trưởng thành chiều dài thân thể từ 26 – 28mm, rộng từ 10 -12mm .
Toàn thân màu nâu sẫm , có 6 chân 2 chân ở trên cổ, 4 chân ở trước ngực, bụng
có 3 đốt, có 2 cái râu ngắn đối diện từ mắt sang.
21
Trứng đẻ vào tháng 6 thường trứng thường được đẻ vao dưới các lớp đất
gốc cây .
một năm thời gian thu bắt từ tháng 9 – 10 thời gian này xuất hiện nhiều sâu
trưởng thành con đực và con cái giao phối. Dế dũi thời gian thu bắt từ tháng 4 –
5 chúng có 1 vòng đòi trong một năm. Bọ ngựa Trung Quốc thời gian rhu bắt
10 -11. bọ xít thu bắt từ 3 – 5 hàng năm, ve sầu từ 3 – 6 là mùa thu bắt. Xén tóc
thu bắt đầu lớn thu bắt vào tháng 4 – 5. Đây các thời điêmthu bắt của các côn
trùng mà em đã thu thập được từ người dân địa phương .các côn trùng sống
ngoài tự nhiên nên số lượng tương đối ít, số lần thu bắt cũng ít từ 1 -2 ,2-5 , 3-6
lần trong các tháng của năm và khi thu bắt rất khó khăn và tốn nhiều thời gian.
5.2.2. Kinh nghiệm sửu dụng và chế biến các loài côn trùng làm thực phẩm
Sau khi thu bắt được nhiều côn trùng về nếu bắt được nhiều có thể mang
đi bán tuỳ theo người có nhu cầu bán có thể bán với giá từ 6.000 đ/1 lạng trở lên.
* Cách chế biến châu chấu như sau.
Sau khi bắt về ta đổ châu chấu vào nồi nước nóng và đậy vung nồi lại cho
cho đến khi chúng đã chết hết rồi rửa sạch ta nhặt chúng ra sau đó mang mang đi
chế biến, cho ướp vói mì chính muối tuỳ vào cố lượng châu chấu nhiều hay ít rồi
chuẩn bị xào khô hay xào với dưa muối ta, chiên giòn ta có thể chế biến theo 3
cách cụ thể như sau:
- Cách 1: xào khô ta ướp với mì chính muối trong vài giây tuỳ theo số
lượng châu chấu nhiều hay ít cho ít nước sạch đểnó chín kỹ, khi cho vào nồi nên
đậy vung kín lại đến khi hết nước ta dùng đũa để đảo khoảng từ 3 – 5 lần sau
khi chín ta cho mỡ vào koảng môt thìa tuỳ theo số lượng châu chấu nhiều hay ít
đơi sau khi nó đã khô cho ra đĩa.
- Cách 2: xào với dưa muối ta cho ít mỡ vào chảo đợi mỡ nóng lên rồi lần
lượtcho chấu chấu vào gần chín ta cho cho dưa và mì chính muối vào tùy từng
sở thích mỗi người sau khi chín ta thái hành lá vào hoàn thành món ăn.
- Cách 3: chiên giòn cho gia vị cần thiết vào sau đó ta đấy tay hay đũa để
đảo lên đảm bảo cho độ mặn ngọt, rồi cho mỡ vào tùy thuộc vào số lượng châu
chấu cần chiên, cho châu chấu đổ vào cho đến khi nó có màu vang nhạt ta mới
cho ra có thể cho ít rau thơm cho lên phần trên của châu chấu .
loài này chủ yếu xào khô và nướng trên than
-Cách 1: xào khi xào ta cho mì chính muối và ít nước sạch rồi cho vào
chảo dùng đũa đảo khoảng 30 phút chín cho thêm ít mỡ cho nó khô và cho ra
đĩa như thế ta được món xào ngon bổ dưỡng.
24
- cách 2: Rất đơn giản cho ra lò than và đặt chúng trên than và thường
xuyên đổi bên cho ta có món nướng hoàn chỉnh.
5.2.3.Gía trị dinh dưỡng, sức khỏe, hiệu quả kinh tế
Qua thời gian nghiên cứu và phỏng vấn tại khu vực nhiên cứu em nhận
thấy các loài côn trùng làm thực phẩm mang lại giá trị đặc sản, các loài côn
trùng được sử dụng tại địa phương và nói rộng hơn cả trên thế giới. côn trùng
không có độc rát tốt cho sức khỏe con người, bổ dưỡng hội tụ cả yếu tố lạ và
các chất vi lượng protein , Axítamin giúp tiêu hóa.
Gía trị kinh tế hiện nay các loài côn trùng sử dụng rất nhiều, trên thị
trường hiện nay được buôn bán rất nhiều , tại chợ Mường Giôn đang được bán
theo điều tra do số lượng côn trùng ít và hiếm nên giá của côn trùng bán rất
chạy và đắt khách được giá cao 8.000đ/ 1 lang côn trùng trở lên.
5.2.4. kết quả phỏng vấn qua điều tra
Qua phỏng vấn số lượng người đưa ra thông tin được thống kê qua các
bảng dưới đây.
* Phiếu thu thập kiến thức bản địa
Bảng 5.4: Ý kiến về hiện trạng của côn trùng tại khu vực nghiên cứu
STT
Nội dung
Rất hay
2
0
1
3
Dế dũi
0
3
1
0
4
Bọ ngựa Trung Quốc
0
2
2
0
0
2
0
8
Bọ hung nâu lớn
2
2
0
0
Bảng 5.5: Tình hình sử dụng tại địa phƣơng
25