Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc điạ bàn hành chính
huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40 km về hướng Bắc.
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng nằm trên địa bàn các
xã Thần Sa, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên, được thành lập ngày 01 tháng 12 năm 1999 với diện tích là 11.280 ha
theo Quyết định số 3841/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Khu
vực này có hệ sinh thái rừng núi đá độc đáo, có tính đa dạng sinh học phong
phú với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm và nhiều hệ sinh thái chuẩn
của vùng núi đá. Nơi đây còn lưu giữ các di chỉ khảo cổ học cũng như các di
tích lịch sử, danh lam có giá trị.
Năm 2006, thực hiện Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 5 tháng 12 năm
2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát 3 loại rừng, Khu bảo tồn thiên
nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng được quy hoạch theo ranh giới mới trên địa
bàn 6 xã và 1 thị trấn gồm: Thần Sa, Sảng Mộc, Thượng Nung, Nghinh Tường,
Vũ Chấn, Phú Thượng, Đình Cả, với tổng diện tích là 17.639,0 ha và đã được
Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên phê duyệt tại Quyết định số 1563/QĐ-UB
ngày 08 tháng 8 năm 2007.
Theo kết quả điều tra tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng
Hoàng thành phần thực vật ở khu bảo tồn có 1.096 loài, 645 chi, 160 họ ở 5
ngành thực vật khác nhau; 56 loài thú 25 họ và 8 bộ; 117 loài Chim; 11 loài
lưỡng cư; 28 loài bò sát; 77 loài cá thuộc 13 họ và 4 bộ; trong đó có nhiều
loài có tên trong sách đỏ Việt Nam như: Lan hài Việt Nam, Re hương, Đảng
sâm, Trò xanh, Nghiến gân ba, Hoàng đằng, Trai lý, Đinh mật, Hổ mang chúa,
Tê tê, Voọc mũi hếch, Voọc bạc má, Hươu xạ,
Đây là hệ thống rừng núi đá tập trung ở các xã phía Bắc huyện Võ Nhai,
là một trong ít khu vực còn lại diện tích và trữ lượng rừng tự nhiên đáng kể trong
tỉnh Thái Nguyên. Nó nằm trong vùng núi đá miền Bắc Việt Nam và có tính đa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm về quản lý rừng bền vững
Từ lâu việc quản lý rừng bền vững đã được các nhà lâm học xem là vấn
đề cơ bản của kinh doanh rừng. Phần lớn các học thuyết về rừng đều hướng
vào phân tích những quy luật sinh trưởng, phát triển của cá thể và quần thể
rừng trong mối quan hệ với các điều kiện tự nhiên và những tác động kỹ thuật
của con người làm cơ sở để xây dựng những biện pháp quản lý thích hợp nhằm
nâng cao năng suất và tính ổn định của hệ sinh thái rừng. Những kiến thức liên
quan đến quản lý rừng bền vững được trình bày trong nhiều môn học khác
nhau như Lâm học, trồng rừng, quy hoạch rừng, điều chế rừng, Tuy nhiên,
trong những năm gần đây, do nhận thức được vai trò quan trọng của rừng với
môi trường và sự phát triển bền vững nói chung, vấn đề quản lý rừng bền vững
nói riêng được mọ i người quan tâm nhiều hơn trong đó có cả những chuyên gia
lâm nghiệp, chủ rừng, chính quyền và nhiều tổ chức kinh tế - xã hội khác.
Theo Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) thì “QLRBV là quá trình quản lý
những diện tích rừng cố định, nhằm đạt được những mục tiêu là đảm bảo sản
xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ của rừng như mong muốn mà không làm
giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây
ra những tác động tiêu cực của những môi trường vật lý và xã hội” [26].
Theo Tiến trình Helsinki thì QLRBV quản lý rừng và đất rừng một cách
hợp lý để duy trì tính đa dạ ng sinh họ c, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống
của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội
và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp địa
phương, cấp quốc gia và toàn cầu, không gây ra những tác hại đối với các hệ
sinh thái khác [26].
cần thiết để góp phần phục hồi và ổn định môi trường sống. Với ý nghĩa này,
quản lý sử dụng rừng bền vững đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách, một giải
pháp quan trọng cho sự tồn tại lâu dài của con người và thiên nhiên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
1.2. Trên thế giới
Tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống của hầu hết người
dân vùng núi. Ở đây, rừng mang lại cho họ nhiều loại sản phẩm khác nhau như:
gỗ, củi, lương thực, thực phẩm, dược liệu, Quan trọng hơn nữa là rừng đảm
bảo những điều kiện sinh thái cần thiết để duy trì các hoạt động sản xuất và đời
sống của người dân. Những cố gắng trong việc quản lý bảo vệ các khu rừng
cấm quốc gia thường gây nên những mâu thuẫn lợi ích giữa cá nhân, cộng
đồng dân cư địa phương với quốc gia. Từ đây, người ta nhận thức được rằng
công tác QLRBV phải hướng đến phục vụ các nhu cầu xã hội. Việc đáp ứng
các nhu cầu đó phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và ổn định lâu dài.
Theo tài liệu của FAO, công cụ để QLRBV phải bao gồm các quy trình công
nghệ, cả các chính sách kinh tế xã hội. Nó đảm bảo các hoạt động quản lý rừng
thoả mãn đồng thời những nguyên lý về kinh tế, xã hội và môi trường [32]. Có
thể nói quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững là phương thức quản lý được
xã hội chấp nhận, có cơ sở về mặt khoa học, có tính khả thi về mặt kỹ thuật và
hiệu quả về mặt kinh tế.
Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập
trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển
[17]. Trong giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ít được
quan tâm. Vì vậy, họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng lấy lâm sản và đất đai
để canh tác nông nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng đã dẫn đến tình trạng
khai thác quá mức tài nguyên rừng và làm cho tài nguyên rừng ngày càng bị
suy thoái nghiêm trọng.
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học cũng
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế đã biên soạn một số tài liệu quan trọng như
“Hướng dẫn quản lý rừng tự nhiên nhiệt đới” (ITTO, 1990), “Tiêu chí đánh giá
quản lý bền vững rừng tự nhiên nhiệt đới” (ITTO, 1992), “Hướng dẫn thiết lập
hệ thống quản lý bền vững các khu rừng trồng trong rừng nhiệt đới” (ITTO,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
1993) và “Hướng dẫn bảo tồn ĐDSH của rừng sản xuất trong vùng nhiệt đới”
(ITTO, 1993 b). Tổ chức ITTO đã xây dựng chiến lược quản lý bền vững rừng
nhiệt đới, buôn bán lâm sản nhiệt đới cho năm 2000.
Hai động lực thúc đẩy sự hình thành hệ thống QLRBV là xuất phát từ các
nước sản xuất các sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn tái lập một lâm phận sản
xuất ổn định và khách hàng tiêu thụ sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn điều tiết
việc khai thác rừng để đáp ứng các chức năng sinh thái toàn cầu. Vấn đề đặt ra là
phải xây dựng những tổ chức đánh giá QLRBV. Trên quy mô quốc tế, hội đồng
quản trị rừng đã được thành lập để xét công nhận tư cách của các tổ chức xét và
cấp chứng chỉ rừng. Với sự phát triển của QLRBV, Canada đã đề nghị đặt vấn đề
QLRBV trong hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 [27].
Hiện nay, trên thế giới đã có bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc
gia như: Canada, Thuỵ Điển, Malaysia, Indonesia,vv và cấp quốc tế của tiến
trình Helsinki, tiến trình Montreal. Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ
nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng (P&C)”
đã được công nhận và được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ chức
cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình trạng quản lý
rừng và xét cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng [26].
Tháng 8/1998, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã họp hội nghị lần
thứ 18 tại Hà Nội để thoả thuận về đề nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêu chí
và chỉ số về QLRBV ở vùng ASEAN (Viết tắt là C&I ASEAN). Thực chất
C&I của ASEAN cũng giống như C&I của ITTO, bao gồm 7 tiêu chí và cũng
chia làm 2 cấp quản lý là cấp quốc gia và cấp đơn vị quản lý [13]. Hiện nay, ở
tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực.
Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999), tại Khu bảo tồn Hoàng gia
Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được
tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng
đệm phục vụ cho du lịch. Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hằng năm sẽ được đầu tư trở lại
cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng[33].
Các mô hình quản lý bền vững các khu bảo vệ được nêu trên đã góp
phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên. Chúng đã đưa ra được một số
chính sách như chia sẽ lợi ích, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
vv và một số giải pháp như đồng quản lý, quản lý có sự tham gia của người
dân, v.v Tuy nhiên, các mô hình trên chỉ phù hợp với một số quốc gia và một
số khu bảo vệ có tiềm năng về du lịch, tài nguyên, đất đai phù hợp.
1.3. Ở Việt Nam
Là một nguồn tài nguyên quan trọng, rừng ảnh hưởng trực tiếp đến thu
nhập và đời sống kinh tế nói chung của khoảng một phần ba dân số của cả nước.
Nó không chỉ cung cấp những sản phẩm phục vụ sinh hoạt hằng ngày như gỗ,
củi, lương thực, thực phẩm, dược liệu vv mà còn cung cấp những sản phẩm
phục vụ nhu cầu công nghiệp, thủ công nghiệp và xuất khẩu. Ngoài ra, do phân
bố ở những vùng sinh thái nhạy cảm như các vùng đầu nguồn rộng lớn, các vùng
ngập mặn, các vùng sình lầy vv rừng còn là một trong những yếu tố có ảnh
hưởng mạnh mẽ nhất đến môi trường của đất nước. Nó góp phần quan trọng vào
việc chống lại sự biến đổi khí hậu, điều tiết nguồn nước, giảm tần suất và cường
độ phá hoại của các thiên tai như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng vv
Sự thất bại của công tác quản lý rừng và tài nguyên đất đai vùng đầu
nguồn trong những thập kỷ qua đã làm Việt Nam mất đi hàng triệu hecta rừng và
là nguyên nhân chủ yếu gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất và mức
không phụ thuộc nhiều vào ranh giới hành chính tỉnh, huyện mà là đơn vị quản
lý nhà nước trong một lãnh thổ có rừng, có chức năng thừa hành pháp luật.
Trong thời kỳ này, toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các
chức năng để quản lý, sử dụng như sau:
+ Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm
trở, dân cư thưa thớt, nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, người dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
được tự do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy. Việc khai thác sử dụng lâm
sản đang ở mức tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hoá.
+ Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở những vùng có
dân cư và đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản. Những
diện tích rừng này được chia thành các đơn vị như khu, từ khu được chia thành
các lô khai thác và theo chu kỳ, sản lượng do hạt trưởng lâm nghiệp quản lý,
đấu thầu khai thác.
+ Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ để
tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế, cũng có thể là khu rừng có
tác dụng đặc biệt cần được bảo vệ [16].
Nhìn chung, trong thời kỳ trước năm 1945 tài nguyên rừng Việt Nam khá
phong phú, nhu cầu lâm sản của con người còn thấp, mức độ tác động của con
người vào tài nguyên rừng chưa cao, vấn đề QLRBV chưa được đặt ra. Theo số
liệu thống kê tài nguyên rừng khu vực Đông Dương, diện tích rừng nước ta vào
năm 1945 còn khoảng 14,3 triệu hécta, tương đương độ che phủ 43% [16].
Từ sau hoà bình lập lại rừng được chia thành 3 chức năng để quản lý sử
dụng đó là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Tổ chức quản lý sử
dụng 3 loại rừng được hình thành và phát triển từ năm 1986 [16].
Trong thời kỳ này, hoạt động của ngành lâm nghiệp đã trải qua nhiều
giai đoạn khác nhau. Ngay sau khi hoà bình lập lại, toàn bộ diện tích rừng và
đất rừng ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trường quốc doanh. Nhiệm
trọng để quản lý, bảo vệ phát triển rừng, đó là:
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi 2004;
- Luật Bảo vệ Môi trường;
- Luật Đất đai;
- Nghị định 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính Phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
- Chỉ thị 12/2003/CT-Ttg ngày 16/5/2003 về việc tăng cường các biện
pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính
phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được
thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
- Thông tư số 56/1999/TT/BNN-KL ngày 30/3/1999 của Bộ NN&PTNT
về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân
cư thôn, làng, bản, ấp.
- Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/1/2006 của Chính phủ quy định
về phòng cháy chữa cháy rừng.
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính
phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
- Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng.
- Quyết định 245/1998/QĐ - TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính
phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất
Lâm nghiệp.
- Quyết định số 186/1006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng.
- Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của Bộ NN&PTNT về
việc ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản khác.
tính đa dạng sinh học sẽ ngày càng lớn mạnh hơn, từ đó dẫn đến nhiều tổn thất
mà chúng ta sẽ gặp phải cả về kinh tế, xã hội và đặc biệt là môi trường.
Trong nhiều năm qua, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc, lương thực
đã đủ ăn và phục vụ xuất khẩu, nhiều loại chất đốt đã thay thế một phần gỗ củi
như than, điện, ga, vì vậy, công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng đã có
nhiều tiến bộ, Nhà nước có nhiều điều kiện thuận lợi để làm tốt công tác quản lý,
bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng. Cụ thể năm 1992, Chính phủ đã phê duyệt
chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (chương trình 327) giai đoạn 1993-
1998; tiếp đó là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được thực hiện từ năm 1998-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
2010 với mục tiêu là xây dựng, bảo vệ rừng để đảm bảo an toàn môi trường sinh
thái, đồng thời thoả mãn nhu cầu lâm sản phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.
Hưởng ứng phong trào Quốc tế "Rừng và con người", tháng 6/1997 Bộ
Nông nghiệp và PTNT thay mặt Chính phủ nước ta đã ký cam kết bảo tồn ít
nhất 10% diện tích rừng gồm các hệ sinh thái rừng hiện có và cùng với cộng
đồng Quốc tế, Việt Nam sẽ tham gia thị trường lâm sản bằng các sản phẩm
được dán nhãn là khai thác hợp pháp từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ
trong khối AFTA và WTO [11].
Hiện nay ở Việt Nam, tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV được tổ công tác
FSC Việt Nam biên soạn trên cơ sở điều chỉnh bổ sung những tiêu chuẩn và tiêu
chí quản lý rừng của FSC quốc tế, có sử dụng những ý kiến đóng góp của các
nhà quản lý và sản xuất lâm nghiệp trong nước và trên thế giới, để vừa đảm bảo
những tiêu chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và đã
được Ban giám đốc FSC quốc tế phê duyệt năm 1999. Do những tiêu chuẩn và
những tiêu chí áp dụng chung cho toàn quốc, đồng thời phải phù hợp với tiêu
chuẩn chung của quốc tế nên việc áp dụng không thể phù hợp hoàn toàn trong
mọi trường hợp và mọi điều kiện ở từng địa phương. Vì vậy, khi áp dụng những
tiêu chuẩn và những tiêu chí cần có sự mềm dẻo trong một phạm vi nhất định,
Việt Nam, đồng thời đã đề xuất tập đoàn cây trồng nhằm sử dụng bền vững và
ổn định đất rừng;
- Cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh
doanh rừng của Trần Văn Con năm 1999 [9], tác giả đã đánh giá lại các nghiên
cứu về cấu trúc rừng tự nhiên ở vùng Tây Nguyên để xem xét thực trạng sự
hiểu biết, khả năng ứng dụng sự hiểu biết về cấu trúc rừng tự nhiên trong kinh
doanh rừng tự nhiên;
- Nghiên cứu phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và
Vườn Quốc gia của Trần Ngọc Lân và cộng sự (1999) thực hiện tại Vườn Quốc
gia Pù Mát [15], các tác giả đã đề xuất một số giải pháp về mặt xã hội và kinh
tế để phát triển bền vững vùng đệm của Vườn Quốc gia Pù Mát;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
- Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải
pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
của Suree và Đào Thị Minh Châu (2004) [7], các tác giả đã đánh giá thực trạng
và ảnh hưởng của việc khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ đồng thời đã nêu ra
được một số giải pháp về xã hội và kỹ thuật nhằm quản lý rừng bền vững ở
vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống;
- Dự án kết hợp bảo tồn và phát triển (Integrated Conservation and
Development - ICD) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên do Quỹ Quốc tế về Bảo tồn
thiên nhiên (WWF) tài trợ (1997), trong dự án này chỉ đưa ra giải pháp đồng
quản lý tài nguyên trong đó đề cập đến sự tham gia quản lý tài nguyên rừng của
cộng đồng địa phương và các bên liên quan mà chưa đề cập đến các giải pháp
khác nhằm QLRBV.
Tuy các kết quả nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng ở khu vực còn
chưa đầy đủ và có tính hệ thống, nhưng những kết quả nghiên cứu đó sẽ là
những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu một số giải pháp chính
áp dụng cho công tác quản lý sử dụng rừng theo hướng tổng hợp và bền vững
rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
2.2. Giới hạn nghiên cứu
- Về địa điểm: Giới hạn trong Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng
Hoàng và khu vực vùng đệm thuộc địa phận 7 xã, thị trấn huyện Võ Nhai, bao
gồm: Thần Sa, Sảng Mộc, Thượng Nung, Nghinh Tường, Vũ Chấn, Phú
Thượng, Thị trấn Đình Cả.
- Về nội dung: Chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến
tài nguyên rừng, những giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng
tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội đến
công tác bảo tồn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.
- Đánh giá thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở Khu Bảo tồn thiên nhiên
Thần Sa - Phượng Hoàng.
- Bước đầu đánh giá hiệu quả các giải pháp đã áp dụng trong quản lý bảo
vệ rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
- Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng
tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Cách tiếp cận và quan điểm nghiên cứu của đề tài
* Cách tiếp cận:
Nghiên cứu này xuất phát từ việc khảo sát, đánh giá các nhân tố chi phối
đặc thù đến công tác bảo tồn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng
Hoàng như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Khu bảo tồn
thiên nhiên; thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở khu vực nghiên cứu, cơ chế,
chính sách,… từ đó nhìn nhận rõ mối quan hệ của công tác quản lý bảo tồn tài
nguyên rừng với các vấn đề kinh tế, xã hội của địa phương để thấy rõ được
sách trong quản
lý rừng
Phân tích, xử lý, đánh giá
thông tin
Đề xuất các giải pháp quản lý rừng
bền vững
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Trên cơ sở đó, vấn đề nghiên cứu được xem xét trên các quan điểm sau:
- Quan điểm hệ thống: Rừng vừa là một bộ phận của hệ thống tự nhiên,
vừa là một bộ phận của hệ thống kinh tế - xã hội và bản thân nó cũng là một hệ
thống hoàn chỉnh.
+ Rừng là một bộ phận của hệ thống tự nhiên: Sự tồn tại và phát triển của
rừng phụ thuộc vào những quy luật của tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố khác trong hệ thống tự nhiên như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, sinh vật,
vv Do rừng có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tự nhiên mà có thể quản lý
rừng bằng tác động vào các yếu tố tự nhiên. Trên quan điểm hệ thống có thể
xem những giải pháp quản lý rừng như là những giải pháp điều khiển hệ thống
tự nhiên để ổn định thành phần và các mối quan hệ trong hệ sinh thái rừng. Vì
vậy, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến công tác quản
lý rừng là cần thiết.
+ Rừng cũng là một bộ phận của hệ thống kinh tế vì sự tồn tại và phát
triển của nó gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như trồng rừng,
khai thác lâm sản, làm nương rẫy, đốt than, săn bắt chim thú, phát triển du lịch,
vv Các hoạt động này lại phụ thuộc vào mức sống kinh tế, cơ cấu ngành
nghề, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận, vv Ngoài ra, rừng cũng
tác động mạnh mẽ tới các yếu tố kinh tế thông qua việc cung cấp nguyên liệu,
năng lượng và thông tin cho nhiều hoạt động kinh tế của con người. Vì có quan
hệ chặt chẽ với các yếu tố trong hệ thống kinh tế nên có thể quản lý rừng bằng
2.4.2.1. Thu thập các thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu đã có
- Những kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm về quản lý rừng của các
nước trên thế giới.
- Những tài liệu về thể chế, chính sách trong nông lâm nghiệp ở Việt
Nam như Luật đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Chính sách giao đất lâm
nghiệp, Chính sách khoán bảo vệ rừng; quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia
đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; trách
nhiệm quản lý Nhà nước các cấp về rừng và đất lâm nghiệp,vv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
- Những tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Khu
bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.
- Những tài liệu, kết quả nghiên cứu về tài nguyên động thực vật tại Khu
bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng .
2.4.2.2. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA và đánh giá nông
thôn có sự tham gia PRA
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA
+ Lựa chọn 162 người là cán bộ quản lý, cán bộ thôn và các hộ gia đình
để phỏng vấn theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA. Các hộ gia
đình và cán bộ được lựa chọn từ 5 xã thuộc khu vực trung tâm vùng lõi và
vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm: Thần Sa, Sảng Mộc, Thượng
Nung, Nghinh Tường, Vũ Chấn.
Tiêu chí để lựa chọn là các cá nhân, hộ gia đình phải đại diện cho các địa
vị xã hội, mức sống, địa bàn cư trú, nhận thức, thành phần dân tộc, khả năng
tiếp cận, lĩnh vực quản lý (nếu là cán bộ) khác nhau.
+ Địa điểm khu vực thu thập thông tin có tính đại diện cao, phản ánh đúng
thực trạng vấn đề nghiên cứu.
+ Các chủ đề phỏng vấn tập trung vào: Mức sống của các hộ gia đình,
những hoạt động có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, sự phụ thuộc của người
Lịch thời vụ: Lịch thời vụ được sử dụng để thu thập thông tin về bố trí
cơ cấu cây trồng, biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây hiện có ở địa
phương để xem xét đánh giá các kiến thức bản địa tương ứng.
+ Công cụ được lựa chọn cho phương pháp này là bảng câu hỏi phỏng
vấn. Các câu hỏi phỏng vấn là những câu hỏi bán định hướng và được sắp xếp
theo chủ đề phỏng vấn
2.4.2.3. Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để hiệu chỉnh và hoàn thiện kết
quả thông tin thu thập sau khi xử lý tài liệu ngoại nghiệp. Với phương pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
này, kết quả phân tích đánh giá thông tin của đề tài được gửi đến một số
chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý rừng bền vững, các nhà quản
lý và tổ chức cộng đồng của địa phương đóng góp ý kiến. Những ý kiến của
các chuyên gia, nhà quản lý sẽ được sử dụng để điều chỉnh và hoàn thiện các
thông tin đã thu thập ở địa phương.
2.4.3. Phương pháp phân tích thông tin và xử lý số liệu
Các số liệu, thông tin thu thập được trong thời gian ngoại nghiệp sẽ được
thống kê, sắp xếp theo thư tự ưu tiên, mức độ quan trọng của từng vấn đề, từng
ý kiến và từng quan điểm. Sau đó, thông tin được tổng hợp, phân tích và đánh
giá theo phương pháp SWOT, khung logic và bằng các phần mềm thông dụng
Excel, đối chiếu với kết quả điều tra nhanh. Những thông tin thu được bằng
phân tích định tính và định lượng đều có tầm quan trọng như nhau và được sử
dụng làm tư liệu cơ bản để xây dựng báo cáo tổng kết đề tài. Các thông tin, số
liệu được tổng hợp, phân tích, đánh giá theo các nội dung sau:
- Phân tích, đánh giá các thông tin về điều kiện tự nhiên liên quan đến
quản lý rừng.
- Phân tích, đánh giá các thông tin về kinh tế liên quan đến quản lý rừng.
- Phân tích các thông tin về thực trạng quản lý rừng trong vùng nghiên cứu.
trn ỡnh C, xó Phỳ Thng, xó Sng Mc, xó Thn Sa, xó Thng Nung, xó
Nghinh Tng, xó V Chn. Tng din tớch t quy hoch vựng lừi khu rng
c dng l 17.639,0 ha.
2.5.1.2. a hỡnh a mo
Nhỡn chung, a hỡnh Khu bo tn thiờn nhiờn Thn Sa - Phng Hong
b chia ct khỏ mnh, do lch s kin to a cht v to sn hỡnh thnh. Chỳng
cú c im chung l: nỳi ỏ cú dc ln, b chia ct sõu . Cú 3 kiu a hỡnh
chớnh nh sau:
+ Nhóm kiểu địa hình đồi núi thấp: Nhóm này chiếm điện tích khá lớn,
có độ cao d-ới 800m, là nơi hoạt động sản xuất lâm nghiệp vùng đệm của khu
bảo tồn.
+ Núi kiểu địa hình núi đá vôi: Nhóm này chiếm hầu hết diện tích khu
bảo tồn, chúng có kiểu kiến trúc dễ nhận biết, độ cao trung bình trên 800m.
+ Nhóm kiểu địa hình trũng nằm xen kẽ giữa núi đá vôi và núi đồi đất:
Nhóm này có địa hình thấp, bằng phằng, ở giữa những dãy núi th-ờng xuất hiện
những con sông, suối và những cánh đồng lúa hoặc hoa màu của dân chúng
thuộc vùng đệm khu bảo tồn.
2.5.1.3. Khớ hu
Khí hậu nóng ẩm, m-a mùa, khá lạnh về mùa đông, mặt khác do ảnh
h-ởng bởi hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn (bắt nguồn từ Bắc
Sơn dến Võ Nhai, Đồng Hỷ) tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn so với
các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và th-ờng có s-ơng
muối vào mùa đông.