ỏn mụn hc Kim toỏn
GVHD: ThS. Phan Th Thanh Loan
TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QuốC DÂN
viện kế toán - kiểm toán
à
đề án môn học kiểm toán
đề tài:
bàn về vai trò và địa vị pháp lý
của kiểm toán nhà nớc
Sinh viên thực hiện
: dơng văn nhất
Mã sinh viên
: Cq522638
Lớp
: kiểm toán 52a
Giáo viên hớng dẫn
: ths. phan thị thanh loan
Hà NộI - 2014
SV: Dng Vn Nht
Lp: Kim toỏn 52A
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
MỤC LỤC
PHẦN 1 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA 2
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 2
!"#
$%&#$
'()#'
$JTU'
$4+GHI7789*
$F2=7?H4-667789) #/
$$V?77WN45-667789#3%E
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC
DNNN
GAO
INTOSAI
KTNN
NSNN
QH
Báo cáo tài chính
Doanh nghiệp Nhà nước
The Government Accountability Office - Văn phòng Trách nhiệm
Chính phủ Hoa Kỳ
Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao
Kiểm toán Nhà nước
Ngân sách Nhà nước
Quốc hội
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 13
Phần 3: Đánh giá vai trò và địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam.
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
1
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
PHẦN 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
1.1. Khái quát chung về Kiểm toán Nhà nước
1.1.1. Tính tất yếu khách quan hình thành Kiểm toán Nhà nước
Sự hình thành KTNN xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu
quả, hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước, yêu cầu lành mạnh hoá nền tài chính
quốc gia trong cơ chế quản lý kinh tế mới, trong công cuộc đổi mới đất nước.
Tuyên bố Lima (Peru, 10/1977) đã khẳng định: “Việc sử dụng hợp lệ và hợp lý
các nguồn kinh phí công là một trong những tiền đề cơ bản đối với việc sử dụng
đúng đắn các nguồn tài chính công và hiệu lực của các quyết định do các cơ quan
có thẩm quyền ban hành. Để đạt được mục đích nêu trên, nhất thiết mỗi quốc gia
phải có một Cơ quan Kiểm toán Tối cao và tính độc lập của nó phải được xác lập
bằng pháp luật. Sự tồn tại của một cơ quan như vậy càng cần thiết hơn vì các hoạt
động ngày càng mở rộng sang lĩnh vực xã hội và kinh tế; do vậy, sẽ vượt ra khỏi
những giới hạn của nền tài chính công ”
Kinh nghiệm nhiều năm ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng cho thấy rằng, sự
hiện diện và hoạt động của cơ quan KTNN đã góp phần quan trọng vào việc thiết
lập và giữ vững kỷ cương tài chính, chấp hành Luật NSNN, phát hiện và ngăn chặn
các hành vi tham nhũng, tiêu xài phung phí tiền của Nhà nước. Vai trò, tác dụng của
KTNN đã được thừa nhận và không một tổ chức nào khác có thể thay thế được vị trí
của nó trong việc kiểm tra, kiểm soát việc quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả
các nguồn lực Nhà nước trong các đơn vị trong khu vực công cộng.
1.1.2. Chức năng của Kiểm toán Nhà nước
Tại hầu hết các quốc gia, các loại hình kiểm toán chủ yếu thường là kiểm toán
tuân thủ và kiểm toán tài chính. Trong đó, kiểm toán tài chính là nội dung cốt lõi
của KTNN. KTNN thực hiện các cuộc kiểm toán tuân thủ sẽ xem xét việc chấp
hành các chính sách, luật lệ và chế độ của Nhà nước tại các đơn vị sử dụng vốn và
tài sản công. KTNN cũng thực hiện các cuộc kiểm toán hoạt động để đánh giá hiệu
quả hoạt động và hiệu năng quản lý của các đơn vị công. Để thực hiện nhiệm vụ
này, KTNN cần thực hiện:
- Lập kế hoạch kiểm toán hàng năm, trình cơ quan có thẩm quyền duyệt;
- Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm đã được phê duyệt và các
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
3
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
nhiệm vụ đột xuất theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
- Kiểm tra, xác minh tính đúng đắn, trung thực, hợp lý của các tài liệu có
liên quan đến NSNN; kiểm tra các thông tin, tài liệu kế toán - tài chính của các tổ
chức, đơn vị sử dụng kinh phí Nhà nước, xem xét việc chấp hành các chế độ, chính
sách tài chính, ngân sách, kế toán của Nhà nước;
- Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc sửa chữa, xử lý những sai phạm
của các đơn vị được kiểm toán để chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, ngân sách,
chế độ kế toán;
- Quản lý hồ sơ kiểm toán, giữ gìn bí mật thông tin, tài liệu, số liệu kế toán
và thông tin về hoạt động của đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp luật.
• Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
KTNN có nhiệm vụ soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh về KTNN, ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật khác về lĩnh vực KTNN theo thẩm quyền. KTNN
đóng góp ý kiến với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng và
ban hành các văn bản pháp luật về ngân sách, tài chính, kế toán.
• Chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán
bản của KTNN:
- Tuân thủ pháp luật, chuẩn mực và quy trình kiểm toán đã được pháp luật
thừa nhận.
- Đảm bảo tính độc lập một cách tương đối: không một tổ chức, cá nhân nào
được phép can thiệp một cách trái pháp luật vào hoạt động của KTNN.
- Đảm bảo tính trung thực, khách quan và giữ gìn bí mật Nhà nước, bí mật
của các đơn vị, tổ chức được kiểm toán.
- Không gây cản trở hoạt động và can thiệp vào công việc điều hành, quản lý
của đơn vị được kiểm toán.
- Đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động kiểm toán.
1.1.6. Các mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước
Bộ máy KTNN là một hệ thống tập hợp những viên chức Nhà nước để thực
hiện chức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công. Như vậy:
- Trong quan hệ với hệ thống bộ máy Nhà nước, KTNN là một phân hệ thực
hiện chức năng kiểm toán.
- Xét trong hệ thống kiểm toán nói chung, KTNN là một phân hệ thực hiện
chức năng kiểm toán đối với một đối tượng cụ thể là tài sản Nhà nước.
- Xét trong mối quan hệ với kiểm toán viên Nhà nước, KTNN là một hệ
thống tập hợp các kiểm toán viên này theo một trật tự xác định để thực hiện chức
năng kiểm toán tài sản công.
Trong hàng loạt những mối liên hệ phức tạp với bộ máy Nhà nước, hệ thống
kiểm toán và các kiểm toán viên, đã hình thành nhiều mô hình tổ chức bộ máy
KTNN khác nhau tuỳ theo tính chất và phạm vi của các mối liên hệ đó:
• Xét trong mối liên hệ với bộ máy Nhà nước, có các mô hình tổ chức bộ
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
5
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
máy KTNN sau:
KTNN Liên bang ấn định thời gian và tính chất của các cuộc kiểm toán và
có thể lập các cuộc thanh tra tại chỗ nếu cần thiết.
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
6
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
• Nhiệm vụ:
- Toàn bộ công tác quản lý ngân sách và kinh tế của Liên bang, kể cả các tài
sản đặc biệt và xí nghiệp của Liên bang đều được KTNN Liên bang kiểm toán theo
chuẩn mực.
- Trên cơ sở kinh nghiệm kiểm toán, KTNN Liên bang có thể tư vấn cho
Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang, Chính phủ Liên bang và cho từng Bộ của
Liên bang về những vấn đề có liên quan. Khi KTNN Liên bang tư vấn cho Quốc hội
hoặc Hội đồng Liên bang thì đồng thời cũng thông báo cho Chính phủ Liên bang.
- KTNN Liên bang tổng hợp những kết luận kiểm toán của mình vào những
Báo cáo kiểm toán gửi cho các đơn vị được kiểm toán, để đơn vị này trình bày quan
điểm.
KTNN Liên bang có thể thông báo bất kể lúc nào về những vấn đề có ý nghĩa
quan trọng cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang
(Báo cáo đặc biệt).
- KTNN Liên bang chẳng những tư vấn cho các cơ quan hành pháp và lập
pháp thông qua những kiến nghị trong Báo cáo kiểm toán và Báo cáo năm, mà
trước hết thông qua các bài tham luận (bằng văn bản hoặc bằng miệng) về những
chủ đề thời sự (như những dự án mua sắm với lượng tài chính lớn) hoặc trong
khuôn khổ xây dựng dự toán ngân sách.
• Phạm vi hoạt động: KTNN Liên bang kiểm tra:
- Các khoản thu, các khoản chi, các nghĩa vụ chi tài sản và các khoản nợ.
- Các chương trình có ảnh hưởng tới tài chính.
- Các khoản lưu giữ và tạm ứng.
GAO là “Bộ phận cấu thành ngành lập pháp của Chính phủ”
- Đứng đầu GAO là Tổng Kiểm soát viên Hoa Kỳ, một vị trí chuyên nghiệp
và phi đảng phái trong chính phủ Hoa Kỳ.
- GAO quyết định phần lớn kế hoạch công việc của mình thông qua quy
trình lập kế hoạch chiến lược nội bộ, trong đó định rõ các dự án và vấn đề nghiên
cứu để trả lời trước Nghị viện.
- Ủy ban Thượng viện về các công tác của Chính phủ vả Ủy ban Hạ viện về
các hoạt động của Chính phủ thực hiện giám sát đối với GAO.
- Nghị viện có thể sửa đổi quy chế quyền lực của GAO bất cứ lúc nào và có
thể tác động đến hoạt động của GAO bằng các yêu cầu về công việc và báo cáo
hàng năm.
• Vai trò:
- Nhiệm vụ hiện nay của GAO là hỗ trợ Quốc hội hoàn thiện trách nhiệm
hiến pháp của mình và nâng cao hiệu suất hoạt động cũng như đảm bảo trách nhiệm
của Chính phủ Liên bang với lợi ích của công dân Hoa Kỳ.
- Trong khi KTNN ở các quốc gia tập trung chủ yếu tiến hành kiểm toán tài
chính, kiểm toán viên của GAO không chỉ thực hiện kiểm toán tài chính, mà còn
tiến hành rộng rãi kiểm toán hoạt động.
- GAO thực hiện kiểm toán hàng năm và báo cáo điều tra về những khoản
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
8
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
chi lãng phí và kém hiệu quả của Chính phủ.
- Hàng năm, GAO công bố thông tin về Báo cáo tài chính và Nợ công của
Chính phủ.
- Ngoài ra, GAO huy động các nhân viên của cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ
quan điều tra từ bên ngoài để thành lập cơ quan điều tra đặc biệt OSI, nhằm nhận
diện và điều tra các nguy cơ gian lận, hành vi sai phạm và lạm dụng trong các
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
hoạt động độc lập, trách nhiệm cá nhân rất lớn về tổ chức và hoạt động; có ảnh
hưởng sâu rộng đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước.
- Cơ chế kiểm soát: đều có cơ quan kiểm soát lại hoạt động và ngân quỹ chi
tiêu đảm bảo sự tiết kiệm và hợp lý.
• Về vai trò:
- Thường tiến hành nhiều loại hình kiểm toán, trong đó tập trung kiểm toán
BCTC và kiểm toán tuân thủ, bao gồm kiểm toán tính hợp pháp và hợp lệ của công
tác tài chính, kế toán; cả các hoạt động quản lý khác như tổ chức, hệ thống hành
chính.
- Kiểm toán hoạt động là một loại hình kiểm toán đang trở thành phương
pháp tiếp cận quan trọng đối với trên thế giới. Hiện tại, loại hình kiểm toán này
đang được thực hiện nhằm hỗ trợ cho loại hình kiểm toán BCTC, kiểm toán tuân
thủ và ngày càng có vị trí đặc biệt quan trọng khi vấn đề cải cách khu vực công trở
nên cấp thiết với trọng lâm là nâng cao tính kinh tế, hiệu suất và hiệu quả của những
đơn vị này.
- Công bố báo cáo: các báo cáo rất được coi trọng, có quy định chặt chẽ và
được chuẩn bị công phu. Được báo cáo lên những cơ quan quan trọng, công bố
công khai khi cần thiết theo quy định của pháp luật, đảm bảo phát huy tối đa hiệu
quả của các báo cáo.
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
10
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
PHẦN 2
THỰC TRẠNG VAI TRÒ VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1. Tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
đơn vị KTNN khu vực; 3 đơn vị sự nghiệp.
.
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
(Nguồn: />SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
12
TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ
NƯỚC
HỘI ĐỒNG KIỂM TOÁN NHÀ
NƯỚC
KHỐI CÁC ĐƠN VỊ THAM MƯU
Văn phòng Kiểm toán Nhà nước
Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng
kiểm toán
Vụ Tổ chức cán bộ
Vụ Pháp chế
Vụ Quan hệ quốc tế
KHỐI CÁC ĐƠN VỊ CHUYÊN MÔN
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành Ia
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành Ib
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành II
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành III
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành IV
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành V
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành VI
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành VII
Kiểm toán Nhà nước khu vực I
KHỐI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
Kiểm toán Nhà nước khu vực II
Kiểm toán Nhà nước khu vực III
độc lập về mặt nghiệp vụ và thiết chế của KTNN.
Năm 2013,Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp
thứ 6 là văn kiện chính trị pháp lý đặc biệt quan trọng, là luật cơ bản, luật gốc của
Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước và hội
nhập quốc tế. Lần đầu tiên Kiểm toán Nhà nước được quy định trong Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng chính là sự ghi nhận của
Đảng, Nhà nước và nhân dân về vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời ghi nhận những cố gắng và thành tích
của cơ quan Kiểm toán Nhà nước trong gần 20 năm qua, trong đó có những cống
hiến đáng tự hào của các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động
trong toàn ngành.
Vai trò
Là một cơ quan nằm trong tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam, KTNN một
công cụ mạnh của quản lý Nhà nước, cung cấp phương tiện, căn cứ thực tiễn để
Nhà nước thực hiện việc quản lý vĩ mô nền kinh tế nói chung và quản lý việc sử
dụng NSNN và nguồn tài sản quốc gia nói riêng.
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
13
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
Tuy cơ quan KTNN Việt Nam không có một tổ chức tiền thân, không có tiền
lệ trong cơ cấu tổ chức Nhà nước, nhưng nó vẫn có chức năng kiểm tra tài chính
công cao nhất. Hoạt động của KTNN có tác động mạnh đến quá trình ra quyết định
của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các nhà đầu tư, các nhà quản lý, các nhà
tài trợ và các tổ chức, cá nhân khác quan tâm đến tình hình hoạt động của các đơn
vị thuộc khu vực công.
• Chức năng:
Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994 và Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày
13/8/2003 của Chính phủ khẳng định: KTNN là cơ quan thuộc Chính Phủ, thực hiện
- Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm và thực hiện nhiệm vụ
kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ.
- Xem xét, quyết định việc kiểm toán khi Thường trực Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có yêu cầu.
- Trình ý kiến của KTNN để Quốc hội xem xét, quyết định dự toán NSNN,
quyết định phân bổ ngân sách trung ương, quyết định dự án, công trình quan trọng
quốc gia, phê chuẩn quyết toán NSNN.
- Tham gia với Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội và các cơ quan
khác của Quốc hội, Chính phủ trong việc xem xét, thẩm tra báo cáo về dự toán
NSNN, phương án phân bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán
NSNN, phương án bố trí ngân sách cho dự án, công trình quan trọng quốc gia do
Quốc hội quyết định và quyết toán NSNN.
- Tham gia với Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội khi có yêu cầu
trong hoạt động giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách, giám
sát việc thực hiện NSNN và chính sách tài chính.
- Tham gia với các cơ quan của Chính phủ, của Quốc hội khi có yêu cầu
trong việc xây dựng và thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh.
- Báo cáo kết quả kiểm toán năm và kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán
với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; gửi báo cáo kiểm toán cho Hội đồng dân
tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
cung cấp kết quả kiểm toán cho Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân nơi kiểm toán và
các cơ quan khác theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức công bố công khai báo cáo kiểm toán theo quy định tại Điều 58,
Điều 59 của Luật này và các quy định khác của pháp luật.
- Chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Nhà nước có
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
15
thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán của KTNN.
- Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý những vi phạm pháp luật
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
16
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
của tổ chức, cá nhân đã được làm rõ thông qua hoạt động kiểm toán.
- Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo pháp luật đối với tổ chức, cá
nhân có hành vi cản trở hoạt động kiểm toán của KTNN hoặc cung cấp thông tin,
tài liệu sai sự thật cho KTNN và Kiểm toán viên Nhà nước.
- Trưng cầu giám định chuyên môn khi cần thiết.
- Được uỷ thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán cơ
quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước; KTNN chịu
trách nhiệm về tính chính xác của số liệu, tài liệu và kết luận kiểm toán do doanh
nghiệp kiểm toán thực hiện.
- Kiến nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính
sách và pháp luật cho phù hợp.
2.1.4. Lĩnh vực hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
Có 3 phương pháp tiếp cận tài chính đối với KTNN, đó là: Kiểm toán Báo cáo
tài chính, Kiểm toán tuân thủ, và Kiểm toán hoạt động. Kiểm toán BCTC và kiểm
toán tuân thủ vẫn là hai loại hình kiểm toán chủ yếu được KTNN thực hiện.
• Kiểm toán BCTC bao gồm
- Kiểm toán BCTC đối với các đơn vị được kiểm toán thuộc hoạt động thu,
chi NSNN: Tiền và các khoản tương đương tiền; Nguồn kinh phí, quỹ; Thu, chi
NSNN các cấp; Các tài sản khác là đối tượng kế toán của đơn vị được kiểm toán.
- Kiểm toán BCTC đối với các đơn vị được kiểm toán thuộc lĩnh vực hành
chính, sự nghiệp và các tổ chức khác sử dụng kinh phí NSNN: Tiền và các khoản
tương đương tiền; Vật tư và tài sản cố định; Thu, chi và xử lý chênh lệch thu, chi
Theo Kiểm toán Nhà nước, trong năm 2014: Tổng số đầu mối kiểm toán là
185, bao gồm 14 bộ, ngành, cơ quan trung ương; 35 tỉnh, thành phố; 17 chuyên đề
độc lập, 35 dự án đầu tư, 42 doanh nghiệp và ngân hàng thương mại nhà nước; 11
đầu mối thuộc Bộ Quốc phòng, 30 đầu mối thuộc lĩnh vực an ninh.
2.2.1. Kiểm toán ngân sách Nhà nước
• Đối với tổ chức hoạt động kiểm toán NSNN nói chung:
- Trong lĩnh vực NSNN, KTNN luôn xác định kiểm toán báo cáo quyết toán
NSNN các cấp là nhiệm vụ trọng tâm và chủ yếu nhất của mình. Mặc dù năng lực
kiểm toán còn hạn chế nhưng hàng năm KTNN đều tiến hành kiểm toán báo cáo
tổng quyết toán NSNN và khoảng 50% báo cáo NSNN các tỉnh, thành phố trực
thuộc TW; và 10-20% các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và các cơ
quan khác ở TW; tổ chức kiểm toán báo cáo tổng quyết toán NSNN như một cuộc
SV: Dương Văn Nhất
Lớp: Kiểm toán 52A
18
Đề án môn học Kiểm toán
GVHD: ThS. Phan Thị Thanh Loan
kiểm toán độc lập kể từ 2005.
- KTNN đã thực hiện kiểm toán theo xu hướng ngày càng tăng quyết toán
ngân sách của các tỉnh, thành phố: quyết toán ngân sách các bộ, cơ quan TW và
quyết toán NSNN; kiểm toán các quỹ tiền tệ của Nhà nước, các DNNN, các công
trình dự án quan trọng của Nhà nước, các chương trình mục tiêu quốc gia, qua đó
góp phần quản lí nguồn lực tài chính Nhà nước một cách tiết kiệm, có hiệu quả.
- KTNN kiểm toán báo cáo quyết toán thu-chi NSNN của các địa phương;
kiểm toán báo cáo ngân sách của các bộ, ngành TW và kiểm toán báo cáo quyết
toán NSNN do Bộ Tài Chính lập trước khi trình quốc hội phê chuẩn, kiểm toán các
dự án đầu tư, các chương trình mục tiêu quốc gia.
- KTNN đã xây dựng được quy trình kiểm toán NSNN ban hành theo quyết
định số 08/1999/QĐ-KTNN ngày 15/12/1999 của Tổng KTNN. Quy trình kiểm
toán NSNN được áp dụng chung cho các cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách các
giảm chi, quản lý qua NSNN hàng chục nghìn tỷ đồng (niên độ ngân sách 2007:
17,3 nghìn tỷ đồng; năm 2008: 16,6 nghìn tỷ đồng, năm 2009: 17,1 nghìn tỷ đồng;
năm 2010: 21,7 nghìn tỷ đồng, năm 2013: 22.778,1 tỷ đồng)
Bảng 2.1: Các phát hiện của Kiểm toán Nhà nước năm 2007
Một số khoản tăng thu, giảm chi được Kiểm toán Nhà nước
phát hiện và đề xuất (Đơn vị tính: tỉ đồng)
Lĩnh vực kiểm toán Tổng cộng Đơn vị sử dụng ngân sách
và cấp ngân sách DNNN
Chỉ tiêu
I. Các khoản tăng thu NSNN 4.166 3.516 650
1. Tăng thu thuế nội địa 1.203 572 631
2. Tăng thu thuế XNK 1.415 1.415 0
3. Tăng thu phí, lệ phí 155 155 0
4. Tăng thu tiền sử dụng đất 1.049 1.049 0
5. Thu từ xổ số kiến thiết 74 74 0
6. Tăng thu ngân sách 268 249 19
II. Các khoản giảm chi NSNN 2.731,6 2.730,1 1,5
1. Chi thường xuyên 1.371,2 1.371,2 0
2. Chi đầu tư xây dựng, chương
trình, dự án
1.360 1.358,5 1,5
(Nguồn: Báo cáo kiểm toán Nhà nước năm 2007)
- Năm 2013, KTNN đã thực hiện 151 cuộc kiểm toán tại 34 tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương; 17 bộ, ngành và kiểm toán Báo cáo quyết toán ngân sách nhà
nước năm 2012; 32 dự án đầu tư, chương trình, dự án quốc gia; 11 chuyên đề; 24
đầu mối thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, các cơ quan đảng; 32 đầu mối thuộc
lĩnh vực doanh nghiệp và các tổ chức tài chính - ngân hàng, phù hợp với yêu cầu
công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, giám sát của Quốc hội. Đã kiến nghị xử
lý tài chính 22.778,1 tỷ đồng, trong đó các khoản tăng thu 4.014,4 tỷ đồng; các
SV: Dương Văn Nhất