Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là nền tảng cho
việc lưu chuyển tiền tệ của nền kinh tế, vì thế đó đúng một vai trò quan trọng
không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Sau sự kiện Việt
Nam gia nhập WTO, mang lại cho hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt
Nam nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn nếu như không có sự nỗ
lực, cố gắng. Sự mở cửa hệ thống Ngân hàng với những quy định nới lỏng và
một lộ trình giảm dần sự bảo hộ của Chính phủ đang và sẽ tạo điều kiện cho
các ngân hàng nước ngoài tham gia, mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt
Nam. Họ có nhiều lợi thế hơn các Ngân hàng Việt Nam về vốn, công nghệ,
trình độ quản lý và đặc biệt là cung ứng những sản phẩm dịch vụ ngân hàng
quốc tế cùng với các sản phẩm dịch vụ nội địa hoàn hảo, mang tính cạnh tranh
cao dựa vào đó thu hút thêm nhiều khách hàng lớn, mở rộng thị phần kinh
doanh, tăng lợi nhuận. Tình hình này đặt ra cho các NHTMCP Việt Nam phải
có chiến lược phát triển lâu dài để thích nghi với sự cạnh tranh gay gắt đó.
Hơn thế nữa, đất nước ta đã đạt được thành quả về kinh tế cũng như
môi trường chính trị pháp luật ổn định, đó giỳp cho môi trường kinh doanh
tiền tệ ngày càng thông thoáng hơn. Cộng với việc, Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) đã có những chính sách trong cải cách các thủ tục hành chính, tạo
điều kiện cho các Ngân hàng cổ phần đáp ứng được những thách thức trong
hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
các NHTMCP Việt Nam thời kỳ quốc tế hóa là đặc biệt quan trọng để tồn tại
và phát triển trở thành những ngân hàng đa năng, hiện đại. Đó cũng là lý do
em quyết định chọn đề tài “Ứng dụng mô hình SWOT nâng cao năng lực
cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong tiến
trình hội nhập quốc tế” làm đề tài nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Việt Nam.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH
SWOT ĐỂ PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
1.1. Khái quát về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Luật cạnh tranh không đưa ra khái niệm hay giải thích từ ngữ về “cạnh
tranh” nói chung hay các khái niệm về cạnh tranh trong từng lĩnh vực, từng
ngành nghề. Ngay cả trong Luật TCTD cũng không đưa ra khái niệm hay giải
thích từ ngữ về “cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng”. Tuy nhiên nhiều
người đồng tình với quan điểm: Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng là chủ
thể TCTD với nghệ thuật sử dụng các phương thức, yếu tố, nhằm giành được
phần thắng trên thị trường với lợi nhuận cao nhất và nâng cao vị thế của mỡnh
trờn thị trường.
Thực tế cho thấy cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các
chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh
nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp
cho các chủ thể tham gia biết qỳy trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình
có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước. Thông qua cạnh
tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu
cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có
những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh.
1.1.1.2. Các loại hình cạnh tranh
Có nhiều hình thức được dùng để phân loại hình cạnh tranh bao gồm:
căn cứ vào chủ thể tham gia, phạm vi ngành kinh tế và tính chất của cạnh
tranh.
sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thị trường,
làm ảnh hưởng đến giá cả. Cạnh tranh hoàn hảo được mô tả: Tất cả các hàng
hóa trao đổi được coi là giống nhau; tất cả những người bán và người mua đều
có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi;
không có gì cản trở việc gia nhập hay rút khỏi thị trường của người mua hay
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
người bán. Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự tìm
cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của
mình so với các đối thủ khác.
Cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trường khi
các điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn. Các
loại cạnh tranh không hoàn hảo gồm: Độc quyền; Độc quyền nhóm; Cạnh tranh
độc quyền; Độc quyền mua; Độc quyền nhóm mua. Trong thị trường cũng có
thể xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo do những người bán hoặc người mua
thiếu các thông tin về giá cả các loại hàng hóa được trao đổi.
1.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng và những đặc
trưng của cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng.
1.1.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Điểm lại lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lịch sử có thể
thấy hai trường phái tiêu biểu: trường phái cổ điển và trường phái hiện đại.
Trường phái cổ điển với các đại biểu như A.Smith, John Stuart Mill,
Darwin và C.Mỏc đó cú những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh
tranh sau này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với ba
quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái
Chicago và Harvard, tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises,
Chumpeter, Hayek thuộc trường phái Viên, tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo”
phát triển lý thuyết của Tân cổ điển.
Theo đó có thể hiểu: “Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng là các chỉ
tiền tệ là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh
tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống, văn hóa … mỗi một nhân tố này có sự
thay đổi dù là nhỏ nhất cũng có tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến
môi trường kinh doanh chung. Ví dụ chỉ là một tin đồn thổi dù là thất thiệt
cũng có thể gây ra cơn chấn động rất lớn về tâm lý, thậm chí đe dọa sự tồn
vong của hệ thống các tổ chức tín dụng. Một ngân hàng hoạt động kém
thanh khoản cũng có thể trở thành gánh nặng cho các ngân hàng khác và
dân chúng trên địa bàn. Vì vậy trong kinh doanh việc cạnh tranh là để từng
bước mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính
đối thủ của mình, bởi vì đối thủ là các ngân hàng thương mại khác bị suy yếu
dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả mang lại thường là rất lớn, thậm chí dẫn
đến đổ vỡ luụn chớnh ngân hàng mình do tác động dây chuyền. Do đó:
+ NH cần có hệ thống sản phẩm đa dạng, mạng lưới chi nhánh rộng và
liên
thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bất kỳ vị trí địa
lý nào.
+ NH cần phải xây dựng được uy tín, tạo sự tin tưởng đối với khách
hàng tránh sự sụp đổ của các chủ thể có liên quan.
- Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng chịu sự ảnh hưởng thường xuyên
của thị trường tài chính quốc tế. Hoạt động của các ngân hàng thường liên quan đến
lưu chuyển tiền tệ, không chỉ trong phạm vi một nước, mà có liên quan đến nhiều
nước để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đối ngoại, do vậy kinh doanh trong hệ thống
ngân hàng phải chịu nhiều yếu tố trong nước và quốc tế như: Môi trường pháp luật,
tập quán kinh doanh trong nước, các thông lệ quốc tế… Đặc biệt là sự chi phối
mạnh mẽ của cơ sở tài chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ
quan trọng, có tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các
đầy đủ và đồng bộ, một mặt nâng cao năng lực cạnh tranh cho các
TCTD trỏnh cỏc hành vi vi phạm pháp luật của những TCTC muốn
đạt được vị trí mà cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bỏ
qua pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, mặt khác tránh khả năng
xảy ra rủi ro hệ thống dẫn đến khủng hoảng kinh tế nội địa.
1.1.3. Cỏc tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngân hàng
1.1.3.1. Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của một NH được thể hiện qua các yếu tố sau:
Vốn của chủ sở hữu
Đối với NH, vốn chủ sở hữu bao giờ cũng thực hiện 3 chức năng cơ
bản: Chức năng chống đỡ hay bù đắp rủi ro, là cơ sở tạo niềm tin cho khách
hàng gửi tiền và thu hút tiền gửi, là nguồn hình thành quỹ đầu tư và cho vay.
Vốn tự có thấp đồng nghĩa với sức mạnh tài chính yếu và khả năng chống đỡ
rủi ro của ngân hàng thấp. Theo qui định của Ủy ban Bassel, vốn tự có của
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
NHTM phải đạt tối thiểu 8% trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi của ngân
hàng đó. Đó là điều kiện đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của NH.
Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của một
NH. Nó được phân tích qua các thông số sau:
Thu nhập sau thuế
ROE = ( tỷ lệ thu nhập trên vốn tự có)
VCSH
ROE: thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu
Thu nhập sau thuế
ROA = ( tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản)
Tổng tài sản
ROA: thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản- đánh giá công tác quản lý
chất” sánh ngang hàng với các yếu tố vật chất khác và là yếu tố quyết định
phần lớn đến năng lực cạnh tranh. Một câu châm ngôn đối với tất cả những ai
muốn tiến thân, lại rất đúng với các nhà quản trị: “Điều quan trọng không
phải là vị trí mà ta đang đứng mà chính là hướng mà ta đang đi”.
1.1.3.3. Chất lượng của tài sản có
Như đã biết, TSC bao gồm ngân quỹ, các khoản cho vay, đầu tư và tài
sản cố định của các NH. Các khoản mục thuộc tài sản có luôn thực hiện 3
chức năng cơ bản đó là đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi xuất hiện các nhu
cầu rút tiền bất thường của khách hàng trong các tình huống không lường
trước, chức năng sinh lợi thông qua cho vay và đầu tư, và tạo niềm tin đối với
khách hàng gửi tiền, nhưng chủ yếu vẫn là đảm bảo tính an toàn trong hoạt
động và tính sinh lời. Tính sinh lời và tính an toàn luôn là một cặp đôi song
hành. Say mê và theo đuổi quá đáng về tính sinh lời dễ làm yếu đi tính an
toàn. Ngược lại, chú ý quá mức đến tính an toàn sẽ làm yếu đi khả năng sinh
lời. Như vậy cũng có nghĩa là làm suy yếu năng lực cạnh tranh của một NH.
1.1.3.4. Năng lực công nghệ và nhân lực
Về công nghệ: Trong lĩnh vực ngân hàng thì việc áp dụng công
nghệ hiện đại là một trong những yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của NH bằng
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Công nghệ sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến mang tính độc đáo và tiện
ích hơn. Trong diễn đàn quốc tế “Banking Vietnam” khẳng định việc sử dụng
CNTT là công cụ chính để khẳng định năng lực cạnh tranh của các NH, sự
phát triển các sản phẩm dịch vụ E-banking là xu hướng thời thượng, công
nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các NH trong kinh doanh.
Về nhân lực: Bất kể là DN sản xuất hay NH thì con người bao giờ
cũng được đánh giá là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng sản phẩm,
dịch vụ. Trong NH, đội ngũ nhân viên chính là người người trực tiếp đem lại
sức mạnh mà các NHTMCP hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng
phó.
Sức ép từ phía khách hàng:
Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân hàng là tất cả các
cá nhân, tổ chức kinh doanh, sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là các ngân
hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua, vừa là người bán các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng. Những người bán sản phẩm thông qua các hình thức gửi
tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mong muốn là nhận được một
lãi suất cao hơn, trong khi đó những người mua sản phẩm (vay vốn) lại muốn
mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế. Như vậy, Ngân hàng
sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả và
giữ chân được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
NHTM
CP
NHTM CP
hiện tại
Khách hàng
NHTMCP
mới
Dịch vụ mới
thay thế
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
thể. Điều này đặt ra cho ngân hàng nhiều khó khăn trong định hướng cũng
như phương thức hoạt động trong tương lai.
Sự xuất hiện của dịch vụ mới:
Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các
NHTMCP khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ
chính trong nước phát triển mạnh là điều kiện để các ngân hàng phát triển và
gia tăng cung vào một ngành có lợi nhuận, từ đó dẫn đến mức độ cạnh tranh
cũng gia tăng.
1.1.4.2. Nhóm nhân tố chủ quan
Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của
các NHTMCP, trên thực tế, nhúm cỏc nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống
NHTMCP cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
này. Có thể khái quát hóa thành sơ đồ 1.2 sau đây:
Bên cạnh đó, đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ cũng là nhân tố thuộc
về ngân hàng chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Sản phẩm chính trong kinh doanh ngân hàng là tiền tệ, đó là
sản phẩm có tính xã hội và tính nhạy cảm cao, chỉ một biến động nhỏ về lãi
suất cũng có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động ngân hàng. Từ đó làm tăng tính
cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh giữa các ngân hàng hơn. Về dịch vụ
với quá trình mở cửa nền kinh tế, tự do hóa và hội nhập thị trường tài chính
tiền tệ, sự cạnh tranh đối với ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở nên
gay gắt và quyết liệt. Hiện nay, cạnh tranh giữa các NH không chỉ dừng ở các
loại hình dịch vụ truyền thống (huy động và cho vay) mà còn cạnh tranh ở thị
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Năng lực điều hành của BLĐ ngân hàng
Quy mô vốn và tình hình tài chính của NH
Công nghệ cung ứng cho các sản phẩm, DV
Chất lượng phục vụ của nhân viên ngân hàng
Cấu trúc tổ chức, danh tiếng, uy tín của NH
Năng
lực
cạnh
tranh
Thị
phần
hàng nước ngoài dự kiến sẽ áp dụng ở Việt Nam. Hơn nữa, việc mở cửa thị
trường cho hàng hoá xuất khẩu cũng sẽ là một cơ hội tốt để cỏc ngõn hàng mở
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
rộng kinh doanh. Các NH sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh hơn, có nhiều khách
hàng hơn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
1.2.2. Những khó khăn cho ngành ngân hàng Việt Nam năm 2010
Các chuyên gia Ngân hàng Việt Nam nhận định nền kinh tế mở tuy có
hữu ích rất lớn cho các Ngân hàng về nhiều mặt nhưng song hành với nó lại là
một chặng đường đầy rẫy những khó khăn:
Trở ngại đối với hoạt động của ngành ngân hàng trong năm 2010 gồm
đầu tư khu vực doanh nghiệp và tư nhân giảm, tiêu dùng nội địa và quốc tế
phục hồi chậm, tín dụng được thắt chặt, cạnh tranh hàng nhập khẩu tăng
mạnh, niềm tin của nhà đầu tư còn yếu
Khó khăn lớn nhất đối với ngành ngân hàng chính là nguồn vốn, song
điều này cũng là bình thường, vì với một nền kinh tế bắt đầu phục hồi thì vốn
liếng sẽ trở nên khan hiếm. Trước đây, người có vốn không thể đầu tư, kinh
doanh, nên gửi tiền vào ngân hàng. Còn nay tình hình đã thay đổi, nhiều
người nhìn thấy được cơ hội đầu tư, kinh doanh, nên sẽ rút vốn ra để đầu tư
vào những lĩnh vực khác có lợi nhuận cao hơn. Bất động sản sẽ ấm lên và có
thể sẽ phục hồi vào cuối năm nay. Thị trường chứng khoán cũng sẽ phục hồi
và trái phiếu hấp dẫn hơn trước. Vì vậy, tiền gửi vào ngân hàng sẽ ít đi, đó là
chưa kể đối với việc khống chế trần lãi suất huy động Áp lực chạy đua lãi
suất huy động của các Ngân hàng ngày một gia tăng.
Hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục phải đối mặt với cường độ cạnh tranh
ngày càng tăng cao, trong đó, có sự thâm nhập của ngân hàng con 100% vốn
nước ngoài với đầy đủ ưu thế về vốn, kinh nghiệm, kỹ năng quản trị, nhân sự,
công nghệ Cựng với cam kết WTO, sau 7 năm gia nhập, ngoài việc cấp phép
các hạn chế định lượng được dỡ bỏ, sẽ không còn sự phân biệt giữa ngân
Nghiên cứu Standford, Menlo Park, California, đã tổ chức một nhóm nghiên
cứu với mục đích tìm hiểu quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp nhằm tìm
ra giải pháp giỳp cỏc nhà lãnh đạo đồng thuận và tiếp tục thực hiện việc
hoạch định, điều mà ngày nay chúng ta gọi là “thay đổi cung cách quản lý”.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
Công trình nghiên cứu kéo dài 9 năm, từ 1960 đến 1969 với hơn 5000
nhân viên làm việc cật lực để hoàn thành bản thu thập ý kiến gồm 250 nội
dung thực hiện trên 1100 công ty, tổ chức. Và sau cùng, nhóm nghiên cứu đã
tìm ra 8 vấn đề chính trong việc tổ chức, điều hành doanh nghiệp hiệu quả.
Tiến sĩ Otis Benepe đó xác định ra “Chuỗi lụgớc”, hạt nhân của hệ thống như
sau:
1. Values (Giá trị)
2. Appraise (Đánh giá)
3. Motivation (Động cơ)
4. Search (Tìm kiếm)
5. Select (Lựa chọn)
6. Programme (Lập chương trình)
7. Act (Hành động)
8. Monitor and repeat steps 1,2 and 3 (Giám sát và lặp lại các
bước 1,2 và 3).
Sau đó các nhà nghiên cứu lại cho rằng: Nhà kinh doanh nên bắt đầu hệ
thống này bằng cách tự đặt câu hỏi về những điều “tốt” và “xấu” cho hiện tại
và tương lai. Những điều “tốt” ở hiện tại là “Những điều hài lũng”
(Satisfactory), và những điều “tốt” trong tương lai được gọi là “Cơ hội”
(Opportunity); những điều “xấu” ở hiện tại là “Sai lầm” (Fault) và những điều
“xấu” trong tương lai là “Nguy cơ” (Threat). Công việc này được gọi là phân
tích SOFT.
Khi trình bày với Urick và Orr tại Hội thảo về Lập kế hoạch dài hạn tại
môi trường chính trị và pháp luật.
Nguyên tắc của mô hình SWOT là tập trung kết quả nghiên cứu thành 4
nhóm:
Strengths (sức mạnh - ưu thế): Lợi thế của mình là gì? Công
việc nào mình làm tốt nhất? Nguồn lực nào mình cần, có thể sử dụng? Ưu thế
mà người khác thấy được ở mình là gì? Phải xem xét vấn đề từ trên phương
diện bản thân và của người khác. Cần thực tế chứ không khiêm tốn. Các ưu
thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn,
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
nếu tất cả các đối thủ cạnh tranh đều cung cấp các sản phẩm chất lượng cao
thì một quy trình sản xuất với chất lượng như vậy không phải là ưu thế mà là
điều cần thiết phải có để tồn tại trên thị trường.
Weaknesses (điểm yếu - hạn chế): Có thể cải thiện điều gì?
Công việc nào mình làm tồi nhất? Cần tránh làm gì? Phải xem xét vấn đề trên
cơ sở bên trong và cả bên ngoài. Người khác có thể nhìn thấy yếu điểm mà
bản thân mình không thấy. Vì sao đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình?
Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với sự thật.
Opportunities (cơ hội): Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng
quan tâm nào mỡnh đó biết? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ
và thị trường dù là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính
sách của nhà nước có liên quan tới lĩnh vự hoạt động của công ty, từ sự thay
đổi khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời trang , từ các sự kiện
diễn ra trong khu vực.
Threats (thách thức): Những trở ngại đang gặp phải? Các đối thủ
cạnh tranh đang làm gì? Những đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay
dịch vụ có thay đổi gỡ khụng? Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với NH hay
không? Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay luồng tiền? Liệu có yếu điểm nào đang
đe dọa NH? Mô hình SWOT minh họa bằng sơ đồ 1.3 sau:
là một trong những thách thức hàng đầu đối với các NHTMCP, đặc biệt là các
NHTMCP nhỏ, yếu kém ở các nước đang phát triển. Vấn đề quản lý vốn tự có
càng cần được quan tâm hơn khi tốc độ toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ
nhanh, môi trường cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng đang đứng trước
những thay đổi lớn cả về bản chất và cấp độ, cùng với việc chứng khoán hóa
cỏc tài sản đòi hỏi các hoạt động tài chính phải được quản lý theo giá trị thị
trường góp phần làm giảm các nguy cơ rủi ro trở nên ngày càng phức tạp và
khó giải quyết hơn. Trên thế giới, trước áp lực thực thi cựng lỳc cả quy chế
Basel II và Luật Sarbannes – Oxley, sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ
kinh doanh mới và những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng buộc các
ngân hàng phải đẩy nhanh đổi mới toàn diện chiến lược quản lý theo hướng
bền vững. Khi đó tại Việt Nam, dưới áp lực ngày một tăng của mở cửa kinh
tế, sự thũ chõn của các NH nước ngoài với nhiều tiềm năng lớn, có một vấn
đề trong thời gian gần đây lại rất nổi cộm đó là số vốn của các NHTMCP tăng
bất cập, thiếu mục tiêu và khó kiểm soát. Điều này đã và đang tạo ra những
nguy cơ bất ổn có thể ảnh hưởng đến sự an toàn chung của cả hệ thống. Bài
viết xin đưa ra kinh nghiệm quản lý vốn tự có của các NH nước ngoài trong
hoạt động cạnh tranh mỗi lúc một gắt gao hơn như sau:
Quản lý VTC – Giữ vững khả năng cạnh tranh của các NH
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
Xu thế chung Chính phủ của các nước đều khuyến khích các hoạt động
thôn tính, sáp nhập, liên kết, liên doanh dựa trên nguyên tắc gộp cổ phần
nhằm đối phó với các áp lực toàn cầu hóa và yêu cầu cải tổ hệ thống luật lệ
theo Quy chế Basel II. Việc tập trung các nguồn lực tài chính, ngoài mục tiêu
nâng cao khả năng chống đỡ rủi ro, khả năng cạnh tranh cũn giỳp cỏc NH
trong nước có đủ điều kiện và thực lực vươn ra thị trường quốc tế theo mô
hình tổng quát về xu thế phát triển chung dưới đây:
Sơ đồ 1.4: Xu thế phát triển của ngành ngân hàng khi hội nhập
Bảng 1.1: Bảng đánh giá điểm số an toàn VTC tại các NH Hoa Kỳ
Không theo chuẩn
mực NHQT (BIS)
Theo chuẩn mực
NHQT (BIS)
Điểm
> 8% > 12% 6
7% - 8% 10% - 12% 5
6% - 7% 9% - 10% 4
5% - 6% 8% - 9% 3
4% - 5% 7% - 8% 2
3% - 4% 6% - 7% 1
< 3% < 6% 0
Nguồn “ Bank financial management Strategics ”
Bên cạnh đó khi đánh giá số VTC an toàn, cơ quan giám sát ngân hàng
Hoa Kỳ còn cho phép kết hợp thờm cỏc tiêu chí khác như kết quả đánh giá về
tình hình kinh doanh thực tế, kết quả đánh giá của các tổ chức định giá tín
nhiệm thị trường, nhằm tăng thêm tính khách quan.
Kinh nghiệm quản lý VTC tại ngân hàng Pháp
Sinh viên: Nguyễn Thị Hồng Thúy Líp: LTĐH_4C
Học Viện Ngân hàng Khóa luận tốt
nghiệp
Cơ quan giám sát ngân hàng Phỏp đó xây dựng các phương pháp phân
tích thích hợp nhằm phục vụ cho việc đánh giá và phát triển nhanh các rủi ro,
như:
Phân tích theo từng nhóm tín dụng tương đồng (GHE), về phương
diện hoạt động và cơ cấu dựa vào các đặc điểm chung về hoạt động, quy mô
tầm cỡ của các NHTM. Việc phân chia này tạo thuận lợi trong so sánh, đánh
giá, cho phép dễ dàng định vị ngân hàng theo các tiêu chí khách quan từ các