phân tích và đánh giá thực trạng tình hình tài chính và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần Cầu 11 Thăng Long - Pdf 30

Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH
HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Hoạt động của doanh nghiệp và vấn đề tài chính
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất,
cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua trị trường nhằm mục đích sinh
lời.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết
hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu… và sức lao
động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi
nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường để có các yếu tố đầu vào đòi hỏi doanh
nghiệp phải có lượng vốn tiền tệ nhất định. Với từng loại hình pháp lý tổ chức,
doanh nghiệp có phương thức thích hợp tạo lập số vốn tiền tệ ban đầu, từ số
vốn đó doanh nghiệp mua sắm các yếu tố đầu vào. Sau khi sản xuất xong,
doanh nghiệp thực hiện bán hàng hóa và thu được tiền bán hàng. Với số tiền
bán hàng, doanh nghiệp sử dụng để bù đắp các khoản chi phí vật chất đã tiêu
hao, trả tiền công cho người lao động, các khoản chi phí khác, nộp thuế cho
nhà nước và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp tiếp tục phân
phối số lợi nhuận này. Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là
quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài
chính của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, làm phát sinh, tạo ra sự vận động
của các dòng tiền bao hàm dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động
kinh doanh thường xuyên hàng ngày của doanh nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp 1
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các
quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của

đó.Tiếp theo, phải tổ chức huy động các nguồn vốn đầy đủ và có lợi cho
doanh nghiệp.
c.Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu,
chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn hiện
có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ
đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng
và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ các khoản phát sinh trong
quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập
sự cân bằng giữa thu chi bằng tiền, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ
dến hạn.
d.Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp.
Thực hiện phân phối lợi nhuận sau thuế hợp lý cũng như trích lập và sử
dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần phát triển doanh nghiệp, cải
thiện đời sống người lao động của doanh nghiệp.
e.Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, các báo cáo tài chính, tình hình
thực hiện các chỉ tiêu tài chính và định kỳ tiến hành phân tích tài chính doanh
nghiệp, đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó đưa ra các
quyết định phù hợp trong kinh doanh và tài chính.
g.Thực hiện kế hoạch hóa tài chính.
Doanh nghiệp có kế hoạch tài chính tốt thì mới có các quyết định tài
chính thích hợp với mục tiêu của doanh nghiệp. Quá trình thực hiện kế hoạch
tài chính là quá trình đưa các giải pháp hữu hiệu khi thị trường biến động.
1.1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp 3
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động

tài chính chủ yếu là:
- Đánh giá tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh, từ đó đưa
ra các dự báo và kế hoạch tài chính cùng các quyết định tài chính thích hợp.
- Phân tích tài chính nhằm kiểm soát các mặt hoạt động của doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó đưa ra cá biện pháp quản lý thích ứng để thực hiện các
mục tiêu của doanh nghiệp.
Đối với người ngoài doanh nghiệp như những người cho vay và các nhà
đầu tư .v.v. thì thông qua việc phân tích tài chính doanh nghiệp để đánh giá
khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp để có quyết định về cho vay, thu hồi nợ hoặc đầu tư vào doanh
nghiệp.
1.2.2 Tài liệu phục vụ việc phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính có mục tiêu đi tới những dự đoán tài chính, dự đoán
kết quả tương lai của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà đưa ra các quyết định tài
chính phù hợp. Do đó, các nguồn thông tin của doanh nghiệp cũng phải tập
hợp đầy đủ, cụ thể :
- Các thông tin chung: Đó là cá thông tin về tình hình chính trị, xã hội,
môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ
hội về kỹ thuật công nghệ…Sự suy giảm hay tăng trưởng của nền kinh tế có
tác động mạnh mẽ tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các thông tin theo ngành kinh tế như đặc điểm của ngành kinh tế liên
quan đến thực thể sản phẩm tiến trình kỹ thuật cần tiến hành, cơ cấu sản xuất,
độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển…
- Các thông tin của bản thân doanh nghiệp: Đó là các thông tin về chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, những thông tin về tình
hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập và sử dụng
vốn, tình hình về khả năng thanh toán…
Luận văn tốt nghiệp 5
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính

Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, kết
quả lãi lỗ
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Mẫu số B03-DN
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu
và chi tiền trong kỳ của doanh nghiệp theo các hoạt động kinh doanh, hoạt
động đầu tư và hoạt động tài chính: Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ ta có
thể đánh giá được khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần, khả năng
thanh toán, và dự đoán được luồng tiền trong kỳ tiếp theo của doanh nghiệp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần:
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh: phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp như thu tiền mặt từ doanh thu bán hàng, các khoản thu bất thường bằng
tiền mặt khác, chi tiền mặt trả cho người bán hoặc người cung cấp, chi trả
lương nộp thuế, chi trả lãi tiền vay
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu
vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: Phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu, chi liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Thuyết minh báo cáo tài chính: Mẫu số B09 – DN
- Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo
cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích bổ sung thông tin về
tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài
chính không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được.
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát địa điểm hoạt động
sản xuất kinh doanh, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa
chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng sản xuất
và nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài sản chủ yếu và các kiến
nghị của doanh nghiệp. Cơ sở số liệu lập thuyết minh báo cáo tài chính là các
Luận văn tốt nghiệp 7

Luận văn tốt nghiệp 8
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
có mối liên hệ với nhau thu được các tỷ số có ý nghĩa. Với nguyên tắc đó, các
nhà phân tích có thể xây dựng các tỷ số phân tích phù hợp với đặc điểm hoạt
động của doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích tỷ số được dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ số
của các đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ số,
cố nhiên là sự biến đổi của các đại lượng tài chính. Về nguyên tắc, phương
pháp tỷ số yêu cầu phải xác định được ngưỡng, các định mức để nhận xét,
đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ số của
doanh nghiệp với giá trị các tỷ số tham chiếu bởi vì một đặc tính dễ nhận thấy
của các tỷ số đơn là khi đứng độc lập chúng trở thành vô nghĩa.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính phân thành
các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp. Đó là nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, nhóm
tỷ số về khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ số về khả năng hoạt động , nhóm tỷ số
về khả năng sinh lãi. Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ,
bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo
giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để
phục vụ mục tiêu phân tích của mình.
+ Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Phương pháp phân tích tài chính Dupont cho thấy mối quan hệ tương hỗ
giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu. Phương pháp Dupont là phương pháp tài
chính quan trọng, với phương pháp này các nhà phân tích sẽ nhận biết được
các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh
nghiệp. Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp mức sinh lời
của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn
chủ sở hữu thành tích số của các chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với
nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó với tỷ số tổng

doanh của doanh nghiệp hay không.
Luận văn tốt nghiệp 10
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
- Thu nhập , chi phí, lợi nhuận thay đổi có phù hợp với đặc điểm chi phí,
hiệu quả kinh doanh, phương hướng kinh doanh hay không.
Việc xem xét này cần được kết hợp so sánh theo chiều ngang và so sánh
theo chiều dọc các mục trên báo cáo kết quả kinh doanh trên cơ sở am hiểu về
những chính sách kế toán, những đặc điểm sản xuất kinh doanh, những
phương hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.4.2 Phân tích diễn biến nguồn và sử dụng vốn.
Việc phân tích này cho phép nắm được tổng quát diễn biến thay đổi của
nguồn vốn và sử dụng vốn trong mối quan hệ với vốn bằng tiền của doanh
nghiệp trong một thời kì nhất định giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế
toán, từ đó có thể định hướng cho việc huy động vốn và sử dụng vốn của thời
kì tiếp theo.
Việc phân tích có thể được biểu hiện như sau:
• Xác định diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn
Việc xác định này được thực hiện bằng cách: Trước hết, chuyển toàn bộ
các khoản mục trên Bảng cân đối kế toan thanh cột dọc. Tiếp đó, so sánh số
liệu cuối kỳ với đầu kỳ để tìm ra sự thay đổi của mỗi khoản mục trên Bảng
cân đối kế toán. Mỗi sự thay đổi của từng khoản mục sẽ được xem xét và phản
ánh vào một trong hai cột sử dụng vốn hoặc diễn biến nguồn vốn theo cách
thức sau:
- Sử dụng vốn sẽ tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn
- Diễn biến nguồn vốn sẽ tương ứng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản.
• Lập bảng phân tích
Sắp xếp các khoản liên quan đến việc sử dụng vốn và liên quan đến việc thay
đổi nguồn vốn dưới hình thức một bảng cân đối. Qua bảng này có thể xem xét
và đánh giá tổng quát: Số vốn tăng hay giảm của doanh nghiệp ở trong kỳ đã

bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn, phải trả cho người bán, thuế và các khoản
phải trả người lao động, nợ dài hạn đến hạn trả, các khoản phải trả khác có
thời hạn dưới 12 tháng.
Luận văn tốt nghiệp 12
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải
các khoản nợ ngắn hạn, vì thế, hệ số này cũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Để đánh giá hệ số này cần dựa vào hệ số trung bình của các doanh nghiệp
trong cùng ngành. Cần thấy rằng, hệ số này ở các ngành nghề kinh doanh khác
nhau có sự khác nhau. Một căn cứ quan trọng để đánh giá là so sánh với hệ số
thanh toán ở các thời kỳ trước đó của doanh nghiệp.
Thông thường, khi hệ số này thấp thể hiện khả năng trả nợ của doanh
nghiệp là yếu và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tiềm ẩn về tài
chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong việc trả nợ. Hệ số này cao cho
thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản
nợ đến hạn.
Tuy nhiên trong một số trường hợp hệ số này quá cao chưa chắc đã phản
ánh năng lực thanh toán của doanh nghiệp là tốt. Do vậy, để đánh giá đúng
hơn cần xem xét thêm tình hình doanh nghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Đây là chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh
nghiệp, được xác định bằng tài sản ngắn hạn trừ đi hàng tồn kho và chia cho
số nợ ngắn hạn. Ở đây, hàng tồn kho bị loại trừ ra, bởi lẽ trong tài sản ngắn
hạn, hàng tồn kho được coi là loại tài sản có tính thanh khoản thấp hơn.
Hệ số khả năng thanh toán
nhanh
=
Tài sản ngắn hạn –Hàng tồn kho

độc lập về tài chính, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và rủi ro tài chính có
thể gặp phải từ đó có sự điều chỉnh về chính sách tài chính cho phù hợp.
Đối với các chủ nợ qua xem xét hệ số nợ của doanh nghiệp thấy được sự
an toàn của khoản cho vay để đưa ra các quyết định cho vay và thu hồi nợ.
Nhà đầu tư có thể đánh giá mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp,
trên cơ sở đó để cân nhắc việc đầu tư.
- Hệ số nợ: thể hiện qua việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong việc tổ
chức nguồn vốn và điều đó cũng cho thấy mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính
của doanh nghiệp. Hệ số nợ càng cao thì doanh nghiệp càng sử dụng nhiều
đòn bẩy tài chính
Luận văn tốt nghiệp 14
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
Hệ số nợ =
Tổng số nợ
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hoặc Hệ số nợ = 1 - Hệ số vốn chủ sở hữu
Cùng với hệ số nợ, có thể xác định hệ số vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
- Hệ số cơ cấu tài sản: phản ánh mức độ đầu tư vào cá loại tài sản của
doanh nghiệp: Tài sản lưu động, tài sản cố định và các loại tài sản dài hạn
khác.
Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn
hạn hay tài sản lưu động
=
Tổng tài sản ngắn hạn
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Tỷ suất đầu tư vào tài sản

sâu hơn tình thế của doanh nghiệp.
- Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình
(ngày)
=
Số dư bình quân các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy để thu được các khoản phải thu cần một thời gian
là bao nhiêu. Nếu số ngày càng lớn hơn thời gian quy định cho khách thì việc
thu hồi các khoản phải thu là chậm và ngược lại. Số ngày quy định bán chịu
cho khách lớn hơn thời gian này thì sẽ có dấu hiệu chứng tỏ việc thu hồi công
nợ đạt trước kế hoạch và thời gian để có cơ sở đánh giá tình hình tài chính của
doanh nghiệp trước mắt và triển vọng thanh toán của doanh nghiệp .
Số vòng quay các
khoản phải thu
=
Doanh thu thuần trong kỳ
Bình quân các khoản phải thu trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu và
hiệu quả của việc đi thu hồi công nợ. Nếu các khoản phải thu được thu hồi
nhanh thì số vòng luân chuyển các khoản phải thu sẽ cao và doanh nghiệp ít bị
chiếm dụng vốn. Tuy nhiên, số vòng luân chuyển các khoản phải thu nếu quá
cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu dùng do
phương thức thanh toán quá chặt chẽ.
- Số vòng quay vốn lưu động
Luận văn tốt nghiệp 16
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
Số vòng quay vốn lưu
động

Là thước đo đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Nó là kết quả tổng hợp của hàng loạt biện pháp và quyết định quản lý
của doanh nghiệp. Hệ số sinh lời bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng
Luận văn tốt nghiệp 17
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu
thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện khi thực hiện 1 đồng doanh thu
trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
doanh thu (hệ số lãi ròng)
=
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Doanh thu trong kỳ
- Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất
sinh lời kinh tế của tài sản (ROA
E
)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh
không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của
vốn kinh doanh.
Tỷ suất sinh lời kinh tế của
tài sản (ROA
E
)
=
Doanh thu thuần trong kỳ
Vốn cố định và vốn dài hạn khác trong kỳ
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh

năm thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế.
Thu nhập 1 cổ phần
(EPS)
=
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông
ưu đãi
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
- Cổ tức 1 cổ phần thương (DIV) : chỉ tiêu phản ánh mỗi cổ phần thường
được bao nhiêu đồng cổ tức trong năm.
Cổ tức 1 cổ phần thường
(DIV)
=
Lợi nhuận sau thuế dành trả cổ tức cho cổ
đông thường
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
- Hệ số trả cổ tức
Hệ số trả cổ tức =
Lợi tức 1 cổ phần thường
Thu nhập 1 cổ phần thường trong năm
e.Hệ số giá trị thị trường
- Hệ số giá trên thu nhập (hệ số P/E)
Đây là hệ số thường được các nhà đầu tư sử dụng để xem xét đầu tư vào
cổ phiếu của công ty.
Hệ số giỏ trờn thu nhập =
Giá thị trường 1 cổ phần
Thu nhập 1 cổ phần
Chỉ tiêu này phản ánh nhà đầu tư thị trường trả bao nhiêu cho 1 đồng
thu nhập của công ty. Nhìn chung chỉ số này cao là tốt, cho thấy triển vọng
công ty của nhà đầu tư
- Hệ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách

tin này cho doanh nghiệp.
Thông qua phân tích tài chính doanh nghiệp cho phép đánh giá được
khái quát và toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, thấy rõ được
những điểm mạnh, điểm yếu và những tiềm năng của doanh nghiệp.
Nhờ có phân tích tài chính doanh nghiệp mà các nhà quản lý doanh
nghiệp có thể :
Luận văn tốt nghiệp 20
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
 Nhận ra được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
 Đưa ra những nhận định,chiến lược, giải pháp cụ thể để cải thiện những
hạn chế, phát huy những điểm mạnh đã đạt được. Qua đó thì sẽ làm nâng cao
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Mối quan hệ giữa phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và hiệu quả
hoạt động xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ là mối quan hệ một
chiều mà có sư qua lại, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp doanh
nghiệp gia tăng lợi nhuận, có điều kiện kinh tế để củng cố, tăng cường công
tác phân tích tài chính, dự báo qua đó thì công tác này lại tác động trở lại giúp
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức
kinh doanh. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là tất yếu
khách, xuất phát từ mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Mọi doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh đều kì vong vào việc tối
đa hóa lợi nhuận, lợi nhuận là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp muốn
hướng tới và là thước đo hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản
phẩm, là biện pháp giúp cho doanh nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp muốn hoạt động đều cần có vốn kinh doanh, lợi nhuận
của doanh nghiệp là một phần nhưng bên cạnh đó là bảo tồn và gia tăng quy

mọi nguồn lực vào sản xuất kinh doanh với mục đích sinh lời.
Thứ hai: Xác định đúng đắn nhu cầu vốn từ đó có phương án huy động
và sử dụng hợp lý. Nhu cầu vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó
chính là tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho quá
trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp cần cú phương án xác định nhu cầu
vốn vốn cần thiết, hạn chế tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn sản xuất. Nếu
thừa vốn doanh nghiệp phải có biện pháp xử lý linh hoạt như: đầu tư mở rộng
Luận văn tốt nghiệp 22
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
sản xuất kinh doanh, đầu tư ngắn hạn như: cho vay, đầu tư tài chính ngắn
hạn…
Thứ ba: Quản lý tốt quá trình sử dụng vốn lưu động nói chung và vốn
lưu động trong từng khâu nói riêng: Xác định mức tồn quỹ hợp lý, quản lý tốt
các hoạt động thanh toán, dự trữ nguyên vật liệu tồn kho đúng mức…
Thứ tư: Nâng cao hiệu quả sản xuất tài sản cố định và vốn dài hạn
khác.Tài sản cố định tại một thời điểm phản ánh khả năng sản xuất hiện có của
doanh nghiệp, việc huy động tối đa công suất hoạt động của máy móc thiết bị
là cơ sở nâng cao hiệu quả, giảm thiểu chi phí, gia tăng lợi nhuận do đó doanh
nghiệp cần nâng có biện pháp khai thác tốt hiệu suất hoạt động của loại tài sản
này.
Thứ năm: Có biện pháp phòng tránh rủi ro. Khi đã kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường, công ty luôn luôn phải nhận thức được rằng mình phải sẵn
sàng đối phó với mọi sự thay đổi, biến động phức tạp có thể xảy ra bất kỳ lúc
nào. Những rủi ro bất thường trong kinh doanh nền mà nhiều khi nhà quản lý
không lường hết được. Vì vậy để hạn chế phần nào những tổn thất có thể xảy
ra doanh nghiệp cần phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa đảm bảo cho
quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục. Cụ thể: Tham gia bảo hiểm tài
sản như hàng hóa nằm trong kho. Trích lập các quỹ dự phòng tài chính, nợ
phải thu khó đòi, giảm giá hàng tồn kho.

Công ty cổ phần cầu 11 Thăng Long – một doanh nghiệp Nhà nước
chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần, tiền thân là Xí
Luận văn tốt nghiệp 24
Lê Văn Long-CQ46/1105
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp Học Viện Tài Chính
nghiệp xây dựng cầu 11, là đơn vị thành viên của Tổng Công ty xây dựng
Thăng Long – Bộ Giao thông Vận tải. Xí nghiệp cầu 11 được thành lập theo
quyết định số 2461/QĐBGT ngày 24 tháng 7 năm 1973 của Bộ Giao thông
Vận tải, trải qua 33 năm xây dựng và phát triển công ty đã 3 lần thay đổi phiên
hiệu từ công ty cầu 11 Thăng Long (1974-1984) đến xí nghiệp xây dựng cầu
11 (1985-1992), Công ty cầu 11 Thăng Long từ năm 1993 đến 31/5/2005 và
Công ty cổ phần cầu 11 Thăng Long đến nay.
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh
Phạm vi hoạt động chính của Công ty trong các lĩnh vực: xây dựng các
công trình cầu đường, xây dựng các công trình nền móng, cầu cảng, khoan cọc
nhồi đường kính từ 1000 – 2000 mm, đóng cọc bê tông cốt thép từ 20x20 đến
40x40. Theo đang ký kinh doanh thì hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty gồm có các ngành nghề:
• Xây dựng các công trình giao thông;
• Gia công, chế tạo, lắp đặt cấu kiện thép, bê tông, bê tông đúc sẵn;
• Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp và thủy lợi;
• Nạo vét và bồi đắp mặt bằng, thi công các loại móng công trình;
• Xây lắp các kết cấu công trình;
• Kinh doanh bất động sản;
• Xuất nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị, phụ tùng;
• Dịch vụ cho thuê kho bãi, nhà xưởng, dịch vụ nhà đất;
• Sửa chữa xe máy, phương tiện, thiết bị thi công và sản phẩm cơ khí
khác;
• Kinh doanh xăng, dầu, mỡ, gas;
• Đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng, cụm dân cư, đô thị, khu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status