ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay HIV/AIDS đã có mặt khắp mọi nơi và đang là một mối đe dọa đối với
tất cả các nước trên thế giới. Nó không chừa bất cứ quốc gia, khu vực, tổ chức, cá
nhân nào và cũng chưa có một loại thuốc nào đặc trị để ngăn ngừa căn bệnh thế kỉ
này.
Từ khi tìm thấy ca bệnh đầu tiên vào năm 1981 tại Mỹ, gần 70 triệu người đã bị
nhiễm virus HIV và khoảng 35 triệu người đã chết vì AIDS. Trên toàn cầu, 34 triệu
người đang sống với HIV vào cuối năm 2011. Ước tính có khoảng 0,8% người
trưởng thành trong độ tuổi 15- 49 năm trên toàn thế giới đang sống chung với HIV,
mặc dù gánh nặng của dịch bệnh vẫn tiếp tục thay đổi đáng kể giữa các quốc gia và
khu vực.
Ở khu vực Châu Á,cho đến khoảng đầu thập niên 1980 vẫn chưa có ảnh hưởng
đáng kể của HIV/AIDS trong khi các nước khác đã bắt đầu đối phó với nó. Chỉ một
số trường hợp được ghi nhận ở Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Phillipines …Tuy
nhiên vào đầu những năm 1990 dịch bệnh đã lan rộng ra một số nước khu vực
Châu Á và hiện nay có trên nhiều nước. Hiện nay có đến 4,9 triệu người sống với
virus HIV ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2012. Trong đó, các nước
trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương như Campuchia, Trung quốc, Ấn Độ và
Thái Lan là bốn trong số 12 quốc gia có tỉ lệ người bị nhiễm HIV/AIDS cao nhất
thế giới (UNAIDS).
Việt Nam cũng không ngoại lệ và cũng phải chịu sự ảnh hưởng của HIV/AIDS.
Vào tháng 12 năm 1990 trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ở Việt
Nam. Tính đến hết 31/5/2013, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 213.413
trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 63.373 và 65.133 trường hợp tử
Sức khỏe tình dục
1
vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là 243/100.000 dân.
Toàn quốc đã phát hiện người nhiễm HIV tại 78% xã/phường, gần 98% quận/huyện
và tất cả các tỉnh thành phố có người nhiễm HIV/AIDS. Trường hợp nhiễm HIV
phát hiện trong 5 tháng đầu năm 2013 ở nam giới chiếm 66,3%, ở nữ giới chiếm
33,7% và tỉ lệ trường hợp nhiễm HIV ở nữ giới có xu hướng tăng.
với dịch AIDS. Trong số 33 triệu người sống chung với AIDS năm 2007, có 2,7 triệu
ca nhiễm mới, trong khi số ca nhiễm mới HIV giảm ở một số nước như
Campuchia, Myanmar và Thái Lan thì nó lại tăng lên ở nhiều nước như Trung
Quốc, Indonosia, Kenya, Mozambique, Papua New Guinea, Nga, Ukraine Thậm
Sức khỏe tình dục
3
chí tại một số nước giàu như Đức, Anh Số ca nhiễm mới HIV cũng tăng năm 2007.
Những khu vực có nhiều người sống chung với HIV/AIDS nhất vẫn là khu vực miền
nam châu Phi, chiếm hai phần ba số trường hợp nhiễm HIV/AIDS toàn cầu (tương
đương 22 triệu ca), tiếp đó là khu vực Nam và Đông - Nam Á (4,2 triệu ca), Mỹ la
tinh 1,7 triệu ca Báo cáo cho biết tại châu Á, gần một nửa số bị nhiễm HIV ở Trung
Quốc năm 2006 được cho là do sử dụng các dụng cụ tiêm chích bị nhiễm HIV. Việc
sử dụng chung kim tiêm có HIV và quan hệ tình dục không an toàn cũng là nguyên
nhân chủ yếu làm lây lan đại dịch này tại Việt Nam và Malaysia, nơi hai phần ba các
trường hợp nhiễm HIV.
Năm 2009, toàn thế giới có 1,8 triệu người mắc bệnh AIDS, giảm so với mức
đỉnh là 2,1 triệu người trong năm 2004, khoảng 260.000 trẻ em chết vì AIDS.
Ước tính có khoảng 34 triệu người đang sống với HIV trên toàn cầu vào cuối
năm 2010 bao gồm 3,4 triệu trẻ em dưới 15 tuổi (WHO, 2011). Có 2,7 triệu người
mới nhiễm HIV trong năm 2010, trong đó có 390 000 trẻ em dưới 15tuổi . Trên
toàn cầu, số lượng hàng năm của người mới nhiễm HIV tiếp tục giảm, mặc dù có
sự thay đổi rõ rệt trong khu vực. Ở vùng cận Sahara châu Phi, nơi mà hầu hết
những người mới nhiễm HIV sống , ước tính có 1,9 triệu người bị nhiễm trùng
trong năm 2010. Đây là ít hơn 16 % so với ước tính 2,2 triệu người mới nhiễm
HIV trong năm 2001 và ít hơn số hàng năm của người nhiễm HIV mới từ năm
1996 đến năm 1998, khi tỷ lệ nhiễm HIV ở vùng cận Sahara châu Phi đạt đỉnh
điểm tổng thể 27%.
Trong năm 2011, nhân loại vẫn ghi nhận thêm 2,5 triệu người mới nhiễm
HIV và 1,7 triệu người tử vong do các bệnh liên quan đến AIDS. Tỷ lệ hiện nhiễm
HIV/AIDS trên thế giới đến cuối năm 2011 vào khoảng 0,8% số người lớn (từ 15-
2001 2007 2008 2009 2010
Sức khỏe tình dục
5
Living with
HIV (all ages)
680 000 1 300 000 1 400 000 1 300 000 1 300 000
Range
[560 000 –
830 000]
[1 100 000 –
1 600 000]
[1 100 000 –
1 500 000]
- Women
210 000 340 000 410 000 380 000
- Children
14 000 21 000 31 000 24 000 39 000
HIV prevalence
in aduts
0.1% 0.1% 0.1% 0.1% 0.1%
HIV prev.young
women
< 0.1%
HIV prev.young
men
< 0.1%
New infections
(all ages)
150 000 145 500 130 000 130 000 130 000
- Children
nhiễm HIV được báo cáo có 78.9% ở độ tuổi từ 20 - 39. Nam giới chiếm 85,2%
trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện. Số người trẻ nhiễm HIV
ngày càng gia tăng và sự lây truyền qua đường tình dục khác giới bắt đầu xuất hiện
nhiều hơn.
Nhìn vào sự gia tăng đáng kể của dịch HIV/AIDS, ta nhận thấy có sự khác biệt
lớn về thời gian xuất hiện dịch HIV tại các địa phương của Việt Nam. Dịch HIV
xuất hiện đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi thuộc vùng biển Đông
Bắc, trong khi các vùng miền khác của đất nước, dịch mới xuất hiện gần đây. Sự
khác biệt này đã đưa đến thực tế là các ca nhiễm HIV tập trung theo vùng địa lý, tại
một số tỉnh và các thành phố lớn, nơi có dịch chủ yếu xảy ra trong các nhóm tiêm
chích ma túy, phụ nữ mại dâm và nam tình dục đồng giới.
Báo cáo số tích lũy các trường hợp HIV/AIDS và tử vong ở Việt Nam, theo
năm
Sức khỏe tình dục
7
Nguồn: Bộ y tế
Tính đến 30/11/2012, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 208.866 trường
hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 59.839 và 62.184 trường hợp tử vong do
AIDS. Riêng 11 tháng đầu năm 2013, cả nước phát hiện 11.102 trường hợp nhiễm
HIV, 3.716 bệnh nhân AIDS và 961 người tử vong do AIDS. So với cùng kỳ năm
2011, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện và báo cáo giảm 22%, số người tử vong
giảm gần 3 lần, tuy nhiên số liệu tử vong từ tuyến xã, phường thống kê chậm nên
con số tử vong vẫn còn chưa thống kê đầy đủ. Về địa bàn dịch HIV/AIDS ghi nhận
tăng lên 79.1% số xã/phường/thị trấn báo cáo có người nhiễm HIV ở 98%
quận/huyện trong cả nước. Về hình thái dịch HIV tiếp tục ghi nhận có sự thay đổi,
trong số người nhiễm HIV báo cáo năm 2012 có 31,5% người nhiễm là nữ giới, cao
hơn 0,5% so với năm 2011. Đường lây truyền HIV lần đầu tiên báo cáo ghi nhận số
Sức khỏe tình dục
8
người nhiễm HIV bị lây nhiễm qua quan hệ tình dục cao hơn lây truyền qua tiêm
tượng nam thanh niên. Đây sẽ tiếp tục là nguyên nhân làm gia tăng của dịch HIV
tại Việt Nam.
Số trường hợp HIV ở một số tỉnh
Sức khỏe tình dục
10
Vấn đề tâm lí của những người nhiễm HIV/AIDS cũng là một vấn đề cấp thiết
trong việc giúp đỡ cũng như tìm cách chữa trị cho họ. Mặc dù có
rất nhiều nghiên cứu về HIV/AIDS nhưng những nghiên cứu về khía cạnh
tâm lý thì không nhiều.
Nghiên cứu của Ilonka Brugerman và Barbara Franklin với tiêu đề “ Tình yêu và
nguy cơ nhiễm AIDS của phụ nữ Việt Nam ”, nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội cho
thấy rằng trong suy ngĩ của những người phụ nữ Việt Nam thì hình ảnh về những
người bị AIDS vẫn còn rất nặng nề, nhiều người cho rằng những người bị
AIDS là những người có lối sống không lành mạnh. Họ cho rằng nói đến AIDS là
nói đến chết chóc, sợ hãi và ô nhục, họ thường bị những người xung quanh ghẻ
lạnh và xua đuổi. Đề tài của Brugerman và Franklin tìm hiểu về nhận thức, thái độ
và hành vi của những người phụ nữ Việt Nam về những người bị AIDS.
Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ nghiên cứu phần lớn về nhận thức của phụ nữ Việt
Nam về AIDS.
Tác giả Grant Bredit với bài viết : “Sự đau khổ trước mắt ” đã cho thấy
những người bị HIV/AIDS gặp nhiều khó khăn liên quan đến mối quan hệ với gia
đình, bạn bè và những người xung quanh đồng thời khó khăn trong quá trình thuyết
phục bản thân để đi đến chấp nhận thực tế. Nếu họ không thể tự mình đi đến chấp
nhận họ phải cần những chuyên gia để giúp đỡ họ.
Với tác giả Peter De Ruyter trong bài viết : “Sự sợ hãi có thể giết người” cho
rằng nơi những người bị HIV/AIDS, nỗi sợ hãi về virut HIV còn nguy hiểm hơn cả
chính con virut đấy. Nỗi ám ảnh sợ hãi và cảm xúc sợ hãi đã ngự trị con người họ
khiến họ đau khổ nhiều hơn là nỗi đau thể xác do virut HIV gây a. Ngoài ra tác giả
còn cho rằng, chính sự căng thẳng và sự kiểm soát sự căng thẳng càng khiến họ
cảm thấy mệt mỏi và đau khổ hơn.
không chỉ do “cái tôi cảm xúc” của họ mà còn do những yếu tố từ bên ngoài chi
phối như thái độ của những người xung quanh, thái độ của bạn bè, người thân.
Như vậy gia đình đóng một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức
Sức khỏe tình dục
12
khỏe tinh thần cho những bệnh nhân HIV. Trong nghiên cứu này cũng cho
thấy do yếu tố kì thị của những người xung quanh khiến cho những người nhiễm
HIV ngại tiếp xúc với những người xung quanh hơn, cản trở giao tiếp của họ.
Trong nghiên cứu “Nhận thức của học sinh trường phổ thông trung học
Tây Thụy Anh – Thái Thụy – Thái Bình về vấn đề HIV/AIDS” của tác giả Đặng
Thị Nga (khóa luận tốt nghiệp 2004). Tác giả này cho thấy phần lớn học sinh ở
địa bàn trên đã có những hiểu biết về những người nhiễm HIV/AIDS nhưng nhận
thức chưa đầy đủ và còn có sự sai lệch trong hành vi ứng xử đối với những người
bị nhiễm HIV/AIDS.
Với nghiên cứu: “Tính tích cực của người có HIV/AIDS trong công tác phòng
chống HIV/AIDS” nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Chính
(khóa luận tốt nghiệp năm 2006) cũng đã khặng định rằng những người bị
nhiễm HIV/AIDS có nhận thức tốt về công tác phòng chống HIV/AIDS thể hiện
qua việc đánh giá và lý giải sự hợp lý và cần thiết tham gia công tác phòng
chống HIV/AIDS của bản thân mình.Việc tham gia công tác phòng chống
HIV/AIDS sẽ giúp họ bớt đi những cảm xúc âm tính, giúp họ hòa nhập với cộng
đồng và xã hội hơn. Về mặt hoạt động, họ đã có những hoạt động trong công
tác phòng chống HIV/AIDS đáng khen ngợi, hầu hết họ đã tham gia các hoạt động
tự chăm sóc rất thường xuyên. Bên cạnh đó còn có những người nhiễm
HIV/AIDS do ma túy, ý thức tự giác chưa cao, những hoạt động này còn
mang tính chất ép buộc. Nghiên cứu này cũng cho rằng : gia đình, bạn bè cùng
cảnh ngộ, sức khỏe và sự kì thị các cấp độ cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến tính
tích cực của họ.
Sức khỏe tình dục
13
HIV-2 Thấp hơn Thấp Tây Phi Khỉ Sooty gabey
HIV có nguồn gốc từ các động vật linh trưởng và lây sang người những năm
đầu của thế kỉ 20. HIV-1 và HIV-2 gây bệnh cho người đều cho là có nguồn gốc từ
Tây-Trung Phi và từ một bệnh cho động vật của loài linh trưởng truyền sang cho
người mà lý giải có thể là qua các thợ săn thú.
Sức khỏe tình dục
15
Vào cuối năm 1983, GS Luc Montagnier và tại viện Pasteur Paris phát hiện
ra virus gây bệnh và đặt tên là LAV- lymphadenopathy associated virus (virus có
liên quan đến bệnh hạch lymphô). Gần nửa năm sau ,Gs Robert Gallo và nhóm
nghiên cứu tại NIH cũng phát hiện 1 virus như thế và đặt tên là HTLV III -
Human T-cell lymphotropic virus (virus ưa tế bào lymphô T của người) và tự
cho mình là người đã phát hiện ra virus gây suy giảm miễn dịch ở người
(HIV). Việc này đã dấy lên 1 cuộc tranh cãi gay gắt giữa 2 nhóm nghiên
cứu. Đến tháng 3/1987 , cuộc tranh cãi này mới chấm dứt khi Tổng thống Mỹ
Ronald Reagan và Tổng thống Pháp đứng ra dàn xếp , tuyên bố Luc Montagnier
và Robert Gallo là đồng tác giả phát hiện ra HIV .
2. Đặc điểm cấu trúc
HIV có cấu trúc không giống với các retrovirus khác. Nó có hình cầu với
đường kính khoảng 120nm, nhỏ hơn khoảng 60 lần so với một tế bào hồng cầu,
nhưng đối với các virus khác thì nó khá lớn. HIV chứa 2 bản sao của ARN chuỗi
đơn dương mã hóa 9 gen của virus được bao bọc bởi 1 lớp vỏ (capsid) hình nón bao
gồm 2.000 bản sao của các protein p24. Các RNA sợi đơn được gắn kết với những
protein nucleocapsid p7 (phức hợp bao gồm acid nucleic và vỏ capsid) và những
enzyme cần thiết cho sự phát triển của virus như enzyme phiên mã ngược, enzyme
protease, ribonuclease và integrase. Chất gian bào gồm những protein p17 của virus
bao quanh lớp vỏ capsid để bảo vệ các hạt virus (virion).
Sức khỏe tình dục
16
Nhiễm HIV thường xảy ra bằng cách đưa các chất dịch cơ thể từ người bị
nhiễm bệnh vào cơ thể của một người không bị nhiễm bệnh. Giai đoạn virus nhân
lên một cách nhanh chóng xảy ra ngay sau đó, dẫn đến có nhiều virus trong máu
ngoại biên. Ở giai đoạn này, mức HIV có thể lên đến vài triệu hạt virus trong mỗi
ml máu.
Phản ứng này đi kèm với việc lưu lượng tế bào T-CD4+ bị giảm đáng kể.
Trong tất cả các bệnh nhân, mức virus này thực tế là do sự hoạt hóa của các tế bào
T-CD8+ đã giết chết những tế bào bị nhiễm HIV, sau đó sản sinh các kháng thể
hoặc biến đổi huyết thanh. Phản ứng của tế bào T-CD8+ được cho là quan trọng
trong việc kiểm soát mức virus từ mức cao trở thành suy giảm dần, và phục hồi số
lượng tế bào T-CD4+. Phản ứng của tế bào T-CD8+ tốt sẽ làm tiến triển bệnh chậm
hơn và việc dự đoán bệnh tốt hơn, mặc dù nó không thể loại trừ được virus.
Trong thời gian này (thường là 2-4 tuần sau khi phơi nhiễm), hầu hết các
bệnh nhân (80-90%) sẽ mắc bệnh cúm hoặc bệnh gần giống như bệnh bạch cầu đơn
nhân, gọi chung là nhiễm HIV cấp tính, có thể với các triệu chứng phổ biến bao
Sức khỏe tình dục
19
gồm sốt, nổi hạch, viêm họng, phát ban, đau cơ, khó chịu, lở miệng và thực quản,
và ít phổ biến hơn còn có các triệu chứng như nhức đầu, buồn nôn và nôn, sưng
gan/lá lách, giảm cân, bệnh tưa miệng, và các triệu chứng thần kinh. Từng cá thể bị
nhiễm bệnh có thể có một hoặc vài triệu chứng này, cũng có trường hợp không xuất
hiện bất cứ triệu chứng nào. Thời gian của các triệu chứng là khác nhau, trung bình
kéo dài 28 ngày và ngắn nhất thường là một tuần.
Do tính chất không rõ ràng của những triệu chứng này, cho nên bệnh nhân
thường không nhận ra các dấu hiệu của nhiễm HIV. Ngay cả khi bệnh nhân đến bác
sĩ hay bệnh viện, họ thường sẽ được chẩn đoán nhầm là bị một trong các bệnh
nhiễm khuẩn thông thường với các triệu chứng tương tự. Hệ quả là, những triệu
chứng tiên phát này không được sử dụng để chẩn đoán nhiễm HIV, vì không phải
tất cả các trường hợp nhiễm HIV đều xuất hiện những triệu chứng này và phần lớn
lại giống triệu chứng của các bệnh thông thường khác. Tuy nhiên, nhận biết hội
5. Phương thức lây truyền của HIV/AIDS
5.1. Tình dục
Sức khỏe tình dục
21
Phần lớn HIV lây qua đường quan hệ tình dục không được bảo vệ (quan hệ
tình dục không an toàn). Việc chủ quan đối với HIV đóng một vai trò quan trọng
trong nguy cơ bị lây bệnh. Lây truyền qua đường tình dục có thể xảy ra khi chất tiết
sinh dục của một bạn tình có chứa virus, tiếp xúc với niêm mạc sinh dục, miệng,
hoặc trực tràng của người còn lại. Ở các quốc gia có thu nhập cao, nguy cơ nữ lây
truyền cho nam là 0.04% cho mỗi lần quan hệ và nam truyền cho nữ là 0.08%. Vì
những lý do khác nhau, nguy cơ này cao hơn từ 4 đến 10 lần ở các nước có thu
nhập thấp. Người nhận trong giao hợp qua đường hậu môn có nguy cơ bị lây nhiễm
cao hơn nhiều, 1.7% cho mỗi lần quan hệ.
Các phân tích của các nghiên cứu năm 1999 về việc sử dụng bao cao su cho
thấy rằng nếu sử dụng bao cao su đúng cách sẽ làm giảm nguy cơ lây truyền qua
đường tình dục của HIV khoảng 85%. Tuy nhiên, chất diệt tinh trùng thực sự có thể
làm tăng tỷ lệ lây truyền.
Những thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, trong đó, nam giới chưa cắt bao quy
đầu được phân ngẫu nhiên để được giải phẫu cắt bao quy đầu trong điều kiện vô
trùng và được tư vấn đã được thực hiện tại Nam Phi, Kenya, và Uganda, kết quả
cho thấy mức độ lây nhiễm HIV trong đường tình dục nữ truyền cho nam giảm
xuống 60%, 53%, và 51%, tương ứng với từng quốc gia. Từ kết quả này, WHO và
Ban Thư ký UNAIDS đã triệu tập một nhóm chuyên gia để "khuyến cáo rằng nam
giới cắt bao quy đầu được công nhận như là một sự can thiệp bổ sung quan trọng để
giảm nguy cơ lây nhiễm HIV trong quan hệ tình dục dị tính luyến ái đối với nam
giới". Đối với trường hợp nam có quan hệ tình dục với nam, không có đủ bằng
chứng để chứng minh nam giới cắt bao quy đầu sẽ bảo vệ chống lại nhiễm HIV
hoặc nhiễm những bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.
Sức khỏe tình dục
22
nghiệp trên các nhân viên y tế tại BV Cấp cứu Trưng Vương năm 2008”, kết quả là
các tác giả trên đã nhận thấy:
- Điều dưỡng có tuổi đời từ 20 – 30 và tuổi nghề dưới 1 năm là đối tượng có
nguy cơ cao nhất (54,5%). Nguyên nhân là do đặc thù nghề nghiệp phải tiêm
chích nhiều mà kinh nghiệm cũng như kỹ thuật chuyên môn còn kém.
- Khả năng xử trí vết thương khi bị phơi nhiễm HIV còn không chính xác,
chưa nắm rõ quy trình báo cáo khi bị phơi nhiễm dẫn đến thời điểm uống
thuốc ngừa trễ.
- Vẫn còn nhiều nhân viên y tế phơi nhiễm HIV không tuân thủ quá trình uống
thuốc ngừa và theo dõi xét nghiệm.
Qua đó cho thấy tính cấp thiết của việc nâng cao trình độ tay nghề của các nhân
viên y tế làm việc trong các môi trường phơi nhiễm cao với HIV.
Trong quá trình xăm, xâu khuyên, và rạch da thì cả người thực hiện lẫn người
được làm cũng đều dễ bị lây nhiễm HIV qua đường máu.
HIV được tìm thấy với nồng độ thấp trong nước bọt, nước mắt, và nước tiểu
của các cá nhân bị nhiễm bệnh, nhưng không có trường hợp nào bị lây nhiễm bởi
những chất tiết này được ghi nhận và nguy cơ tiềm năng lây truyền là không đáng
kể. Muỗi không thể truyền HIV.
5.3. Mẹ truyền sang con
Việc lây truyền virus từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung (trong thời kỳ
mang thai), trong quá trình chuyển dạ (sinh con), hoặc thông qua việc cho con bú.
Trong trường hợp không điều trị, tỷ lệ lây truyền giữa mẹ và con lên đến khoảng
25%. Tuy nhiên, với sự kết hợp điều trị bằng thuốc kháng virus và mổ lấy thai thì
nguy cơ này có thể được giảm xuống thấp khoảng 1%. Sau khi sinh thì có thể ngăn
Sức khỏe tình dục
24
ngừa lây truyền bằng cách tránh hoàn toàn nuôi con bằng sữa mẹ, tuy nhiên, điều
này liên quan đáng kể đến các bệnh khác. Cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ và
cung cấp điều trị dự phòng kháng virus mở rộng cho trẻ sơ sinh cũng có hiệu quả
trong việc tránh lây truyền. UNAIDS ước tính có 430.000 trẻ em bị nhiễm HIV trên