Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” chính vì vậy mà đầu tư phát triển giáo
dục luôn được ưu tiên phát triển hàng đầu trong chính sách đầu tư phát triển của mỗi
quốc gia, dù là nước phát triển hay đang phát triển. Tầm quan trọng của việc đầu tư phát
triển giáo dục được thể hiện rất rõ ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Đầu tư
phát triển giáo dục luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn
thể nhân dân. Bởi đất nước muốn vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu thì
trước hết phải có những con người có tri thức, có hiểu biết và nắm bắt được khoa học
công nghệ, đặc biệt là trong điều kiện đất nước hội nhập toàn cầu như hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục và đào tạo nên Tỉnh
uỷ Phú Thọ, các cấp lãnh đạo tỉnh Phú Thọ và toàn thể nhân dân tỉnh Phú Thọ đã thực
hiện nhiều chủ chương, nghị quyết để đầu tư phát triển giáo dục như: chương trình
kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, chương trình phổ cập các
bậc học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ,nghị quyết
33/2002/NQ-HĐND-KXV về tăng cường cơ sở vật chất trường học…Dưới sự lãnh
đạo đúng đắn, tài tình của các cấp lãnh đạo tỉnh nên các chủ chương, nghị quyết đưa
ra đều được thực hiện nghiêm túc và đem lại hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy sự
nghiệp giáo dục hoá của tỉnh Phú Thọ nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Bản thân em cũng nhận thức được vai trò to lớn của đầu tư phát triển giáo dục
nên với nhiệm vụ của một sinh viên Kinh tế đầu tư và một người con của quê hương
đất tổ Phú Thọ, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài chuyên đề thực tập của mình là:
“Đầu tư phát triển giáo dục của tỉnh Phú Thọ”.
Chuyên đề thực tập của em tuy đã hoàn thành nhưng có thể chưa hoàn thiện và
còn nhiều sai xót vì vậy em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của cô giáo
hướng dẫn, các thầy – cô trong khoa và các bạn sinh viên để chuyên đề thực tập của
em được hoàn thiện hơn, hiệu quả hơn và đem lại những kiến thức thực tế, hữu ích về
chủ chương, kế hoạch và quá trình triển khai thực hiện đầu tư cho các bạn sinh viên.
Em có thể hoàn thành được chuyên đề thực tập này là nhờ có sự giúp đỡ tận
tình của cô Th.S Nguyễn Thị Ái Liên. Em xin chân thành cảm ơn cô!
Sinh viên
sách tiền lương. Có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục.
Giáo dục – đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và toàn dân. Mọi
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Mọi thành viên trong xã hội đều có
trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí
tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường,
giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi
nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể.
Phát triển nguồn nhân lực bao gồm cả về số lượng và chất lượng dân số, nhưng
hiện nay chất lượng giáo dục là trọng tâm của phát triển nguồn nhân lực nhất là đối
với các nước đang phát triển, đông dân số và chất lượng nguồn nhân lực thấp như
Việt Nam. Thực tế cho thấy, lợi ích thu được từ việc đào tạo nguồn nhân lực mà cụ
thể là thông qua giáo dục – đào tạo rất lớn. Trình độ nguồn nhân lực trung bình ở một
nước cao hơn cho phép tăng trưởng kinh tế tố hơn và điều chỉnh tốt hơn đối với các
vấn đề dân số, kế hoạch hoá gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác.
Tỉnh Phú Thọ là một tỉnh miền núi nghèo, kinh tế manh mún chưa phát triển vì thế
rất cần có nguồn lực đủ cả về số lượng và chất lượng để góp sức phát triển kinh tế. Do
đó, đầu tư phát triển giáo dục là nhiệm vụ cần thiết và tiên phong trong chủ chương
phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
1.1.2. Về quy mô giáo dục.
- Về mạng lưới trường học: Toàn tỉnh hiện có 905 trường học, tăng 49 trường
so với năm 2002; trong đó mầm non 300 trường, tiểu học 296 trường, trung học cơ sở
250 trường, trung học phổ thông 59 trường. Hiện nay ở mỗi xã , phường, thị trấn đều
có ít nhất 1 trường mầm non, trường tiểu học,trường trung học cơ sở; mỗi huyện,
thành thị đều có từ 2 trường trung học phổ thông trở lên. Về cơ bản đã tạo thuận lợi
cho trẻ em đến trường, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân các dân tộc
trong toàn tỉnh.
- Về quy mô: Quy mô lớp, học sinh bắt đầu tăng trở lại đối với tất cả các ngành
kiên cố đã xuống cấp, 91 phòng học tạm (thiếu 71 phòng học đang học nhờ).
+ Trung học phổ thông: Tổng số 872 phòng học; trong đó 643 phòng kiên cố,
có 201 phòng học bán kiên cố đã xuống cấp, 28 phòng học tạm.
1.1.4. Về nhà điều hành, phòng học bộ môn và thư viện.
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Về nhà điều hành: Toàn tỉnh hiện có 282 nhà điều hành kiên cố. Trong đó
trường mầm non 52 nhà, trường tiểu học 65 nhà, trường trung học cơ sở 120 nhà ,
trường trung học phổ thông 45 nhà.
- Về phòng học bộ môn : Hiện nay, toàn tỉnh có 569 phòng học bộ môn, trong
đó có 122 phòng học mỹ thuật, 111 phòng thí nghiệm, 75 phòng máy tính, 261 phòng
thực hành.
- Thư viện: Toàn tỉnh 493 trường có thư viện đạt chuẩn theo quy định của Bộ giáo
dục và đào tạo, đạt 82,6%. Còn 112 trường phổ thông chưa có thư viện đạt chuẩn.
1.1.5. Về nhà công vụ giáo viên.
Nhà ở tập thể cho giáo viên là mục tiêu quan trọng được Thủ tướng chính phủ
đưa vào nội dung kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn
2008-2012( quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 1/2/2008). Hiện nay, nhà công vụ
giáo viêncó 903 phòng với 12.960 m
2
, trong đó có 20 phòng bán kiên cố đã xuống
cấp, 41 phòng tranh tre.
Trong những năm qua, để giải quyết tình trạng thiếu giáo viên, tỉnh đã tuyển
dụng và điều động giáo viên tăng cường cho các trường học vùng miền núi khó khăn,
vùng sâu, vùng xa. Nhưng do nguồn lực hạn chế, việc đầu tư xây dựng nhà ở tập thể
cho giáo viên chủ yếu do các địa phương tự huy động (vận động mỗi giáo viên ủng hộ
2 ngày lương) và vốn chương trình 135 đầu tư một số trường trên địa bàn các xã đặc
biệt khó khăn, nên số lượng nhà công vụ giáo viên còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu
cầu, hầu hất cán bộ giáo viên vẫn phaỉ đi ở nhờ nhà dân. Nhu cầu đầu tư nhà công vụ
toàn tỉnh miền Bắc tỉnh Phú Thọ đã tham gia đầy đủ các đội tuyển theo quy định của
Bộ GD-ĐT và đã đạt 2 giải nhất, 2 giải nhì, 5 giải ba và 10 giải khuyến khích, xếp
giải 3 toàn đoàn Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học đạt 20-25%.
Ngành quan tâm đầu tư, xây dựng bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo. Tỷ lệ giáo viên mầm non đạt chuẩn là 95,33%, trên chuẩn là 25,49%; tương tự,
tiểu học là 99,44% và 47,33%;trung học cơ sở là 98,61% và 33,35%; trung học phổ
thông là 96,11% và 3,89%. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường đều được
tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, chương trình quản lý nhà nước, lý luận trung
cấp, cao cấp nhằm nâng cao nhận thức và năng lực quản lý, lãnh đạo. Bên cạnh đó
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngành còn tăng cường đầu tư củng cố và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục,
phòng học bộ môn, nhà công vụ cho giáo viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục. Phối hợp với Công ty cổ phần sách và thiết bị giáo dục của tỉnh cung ứng
đầy đủ và kịp thời sách giáo khoa, sách giáo viên, ấn phẩm và thiết bị dạy học phục
vụ cho các đơn vị giáo dục. Thực hiện chương trình đưa tin học vào nhà trường, cấp
623 bộ máy tính cho các trường THPT phục vụ dạy tin học theo chương trình phân
ban và cấp 29 bộ cho các trường mầm non học chương trình Kismat. Các trường cũng
chủ động khai thác các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để mua sắm thêm trang
thiết bị dạy học, xây dựng thư viện đạt chuẩn quốc gia đáp ứng yêu cầu đổi mới
phương pháp giảng dạy. Toàn ngành đã có 500/620 trường có thư viện đạt chuẩn 01
theo quy định của Bộ GD& ĐT. Ngoài ra còn phối hợp với các ban, ngành chức năng
thực hiện chương trình kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai
đoạn 2008-2012. Theo đó, toàn ngành đã xây dựng được 338 công trình với 1.789
phòng với tổng vốn đầu tư là 117,9 tỷ đồng. Những kết quả to lớn mà toàn tỉnh đã đạt
được trong sự nghiệp giáo dục là động lực để tỉnh Phú Thọ tiếp tục đổi mới ngành
một cách toàn diện, phát triển giáo dục cả về quy mô, chất lượng, hiệu quả và công
bằng xã hội, đáp ứng tốt nhu cầu học tập của nhân dân cũng như yêu cầu về sự phát
triển giáo dục của tỉnh.
trợ từ ngân sánh Nhà nước, mức đóng góp của các cấp ngân sách phù hợp với khả
năng và điều kiện từng địa bàn; vận động các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị, xã
hội và nhân dân ủng hộ, đóng góp để thực hiện các chương trình đầu tư cho giáo dục
của Tỉnh.
Chỉ đạo các sở , ban ngành, Uỷ Ban Nhân Dân các huyện, thành thị cụ thể hoá
các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết vào nội dung kế hoạch phtá triển kinh tế xã hội
hàng năm và kế hoạch 5 năm và coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm,
thường xuyên của các cấp, các ngành trong quá trình chỉ đạo, điều hành kế hoạch
hàng năm.
UBND các huyện, thành thị: Là đơn vị chủ đầu tư đối với các công trình nhà
lớp học, nhà công vụ cho giáo viên của các trường: Mầm non, tiểu học, THCS được
đầu tư trên địa bàn huyện, thành thị.
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các trường THPT, dân tộc nội trú (đơn vị trực thuộc Sở GD&ĐT): Là đợn vị
chủ đầu tư đối với các công trình được đầu tư cho đợn vị.
1.2.1.2 Phân công trách nhiệm để thực hiện đầu tư cho giáo dục.
- Ban chỉ đạo các chương trình mục tiêu tỉnh có trách nhiệm xây dựng kế
hoạch triển khai thực hiện. Hàng năm tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện báo cáo,
đề xuất với Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh.
- Sở Giáo dục và Đào tạo: Là cơ quan thường trực Ban điều hành chương trình
mục tiêu Giáo dục và đào tạo có nhiệm vụ tổng hợp, xây dựng kế hoạch, quản lý,
đánh giá toàn diện các chương trình, dự án đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, trang
thiết bị trường học, báo cáo ban chỉ đạo, Uỷ ban nhân dân tỉnh theo quy định. Chủ trì,
phối hợp với Uỷ ban nhân dân các huyện, thị thành chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng
cường công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh, học sinh sau tốt nghiệp trung hcọ
cơ sở để thực hiện các mục tiêu phổ cập bậc trung học phổ thông. Chủ trì phối hợp
với các ngành liên quan tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo công tác phổ cập bậc trung
học phổ thông của tỉnh sơ kết, tổng kết; định kỳ tổng hợp kết quả công tác phổ cập
- Sở Xây dựng: Chủ trì phối hợp với sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Giáo dục và
Đào tạo kiểm tra, rà soát điều chỉnh, bổ sung các mẫu thiết kế: Nhà lớp học, nhà điều
hành, nhà công vụ giáo viên, nhà học bộ môn trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành và
hướng dẫn áp dụng các mẫu thiết kế đó phù hợp với từng cấp học, bậc học và các
vùng miền trên địa bàn tỉnh.
- Các đơn vị chủ đầu tư: Các đợn vị chủ đầu tư lập báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu
tư xây dựng cho từng hạng mục công trình theo kế hoạch phân bổ vốn thực hiện từng
đợt. Chịu trách nhiệm sử dụng vốn hiệu quả, đúng mục tiêu và cân đối, bố trí đủ phần
vốn địa phương, đơn vị phải cân đối theo định mức đã quy định để thực hiện hoàn
thành mục tiêu đã định. Được phép áp dụng hình thức chỉ định thầu (tư vấn, xây
dựng) đối với các gói thầu nằm trong phạm vi được chỉ định thầu theo quy định. Các
gói thầu nằm trong phạm vi phải đấu thầu được thực hiện đấu thầu theo quy định hiện
hành. Ngoài ra các đợn vị chủ đầu tư cần nghiên cứu tình hình cụ thể tại địa phương,
đề xuất hình thức thực hiện theo phương châm “ xã có công trình, dân có việc làm,
con em nhân dân có nơi học tập tốt”. Các đơn vị chủ đầu tư là UBNR các huyện,
thành thị thì được uỷ quyền phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật và thủ tục đầu tư. Nếu
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các đơn vị chủ đầu tư là các đơn vị trực thuộc Sở GD&ĐT thì được uỷ quyền phê
duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật ( trên cơ sở kết quả thẩm định của Sở Kế hoạch và Đầu
tư); đối với các công trình phải thực hiện đấu thầu, đơn vị lập thủ tục đấu thầu trình
Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, UBND tỉnh phê duyệt để thực hiện theo quy định
hiện hành.
- Sở Tài nguyên và môi trường: Có nhiệm vụ tổ chức kiểm tra, rà soát và
hướng dẫn các địa phương lập quy hoạch, kế hoạch; giải quyết các thủ tục cấp đất,
quyền quản lý sử dụng đất cho các trưòng học theo luật đất đai, đáp ứng yêu cầu về
địa điểm, tiêu chuẩn diện tích để từng bước thực hiện kế hoạch xây dựng trường
chuẩn quốc gia phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh và các địa phương.
- Đài phát thanh-Truyền hình tỉnh, Báo Phú Thọ: Tăng thời lượng phát thanh,
trấn trên các địa bàn triển khai các nhiệm vụ phổ cập đảm bảo các yêu cầu theo tiêu
chí phổ thông. Huy động mọi nguồn lực trên địa bàn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và
thực hiện công tác phổ cập trung học đảm bảo hiệu quả chất lượng.
- Các sở, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể ở tỉnh tổ chức thực hiện theo chức
năng nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình; đồng thời phối hợp với các sở ngành đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến mục tiêu, nhiệm vụ các chương trình, dự án;
vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên tích cực tham gia thực hiện. Trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ được giao, có trách nhiệm thực hiện các đề án phổ cập bậc học phổ
thông tỉnh giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2015 và phối hợp với các cơ
quan liên quan, các huyện, thị, thành để triển khai thực hiện công tác phổ cập đạt hiệu
quả cao.
- Đề nghị Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Phú Thọ: Tổ chức chỉ đạo, hướng
dẫn Mặt trận tổ quốc các cấp, phối hợp với các tổ chức đoàn thể, các sở, ban ngành
vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ
của Nghị quyết và các chương trình giáo dục mà tỉnh đã đề ra. Tăng cường vận động
đoàn viên, hội viên tích cực hưởng ứng và tham gia các hoạt động phổ cập bậc trung
học; xây dựng kế hoạch cụ thể với những hoạt động thiết thực để động viên, khuyến
khích các đợn vị, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ phổ cập các bậc học; phối hợp với
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các cơ sở giáo dục, dạy nghề quản lý, giáo dục, giúp đỡ các đối tượng phổ cập; vận
động các tổ chức, cá nhân đóng góp công sức, tiền của cho các cơ sở giáo dục, dạy
nghề đêểthực hiện nhiệm vụ phổ cập bậc trung học, kiểm tra giám sát các cơ quan nhà
nước, nhà trường và gia đình, tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện chủ trương phổ
cập.
1.2.1.3. Định hướng đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo của tỉnh.
Xu hướng đầu tư phát triển giáo dục- đào tạo của tỉnh đang đi dần vào quỹ đạo
chung của cả nước, bên cạnh đó dựa vào những điều kiện thực tiễn của tỉnh để có
bước phát triển thích hợp.
2005, 75% năm 2010. Dạy nghề bậc cao: thu hút học sinh sau trung học phổ thông,
trung học chuyên nghiệp vào học các chương trình này đạt 35% năm 2005, 50% năm
2010.
1.2.1.4. Nguồn vốn cho đầu tư giáo dục.
- Giáo dục luôn là mối quan tâm hàng đầu của Tỉnh chính vì vậy mà đầu tư
cho giáo dục rất được chú trọng. Nguồn vốn cho giáo dục của tỉnh được huy động từ
nhiều nguồn khác nhau rất đa dạng như vốn từ: Ngân sách nhà nước, vốn chương
trình mục tiêu, chương trình 135, chương trình kiên cố hoá trường học, nhà ở công vụ
cho giáo viên, vốn ODA, FDI …Trong đó nguồn vốn trong nước như vốn từ ngân
sách Nhà nước, vốn chương trình kiên cố hoá, vốn chương trình mục tiêu quốc gia giữ
vai trò quyết định còn các nguồn vốn khác giữ vai trò quan trọng.
- Nguồn vốn được phân bổ đầu tư cho các địa bàn, địa phương khác nhau phụ
thuộc vào nhu cầu và điều kiện của từng vùng miền. Những địa bàn thuôc các huyện,
xã miền núi và đặc biệt khó khăn thì nguồn vốn đầu tư chủ yếu cho giáo dục là tư
ngân sách cuả tỉnh và cuả các chương trình mục tiêu, chương trình 135. Còn các
huyện vùng đồng bằng có điêù kiện phát triển thì nguồn vốn từ ngân sách tỉnh chỉ
chiếm khoảng 20-30%, còn 70% do các địa phương tự huy động.
- Để có được vốn đầu tư cho giáo dục Tỉnh đã đề ra nhiều biện pháp thu hút
vốn, vận động các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể trong xã hội tham gia đóng
góp.Và cũng có những biện pháp quản lý vốn phù hợp để tránh tình trạng thất thoát
và lãng phí trong quá trình đầu tư.
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tổng số vốn đầu tư cho trường học giai đoạn 2002- 2008 đạt 556 tỷ đồng,
bình quân vốn đầu tư hàng năm đạt 79,43 tỷ đồng/năm
* Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn:
- Ngân sách Trung ương hỗ trợ (qua Bộ Giáo dục và Đào tạo) là: 205,76 tỷ
đồng, bình quân là 29,39 tỷ đồng/năm, chiếm 37% trong tổng vốn đầu tư ; trong đó:
chương trình kiên cố hoá trường học giai đoạn 1 là 195,72 tỷ đồng; dự án trung học cơ
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Biểu đồ cơ cấu trên thể hiện sự phù hợp giữa nhu cầu thực tế với chính sách
đầu tư phát triển giáo dục của tỉnh. Vì cơ sở vật chất trường học trong toàn tỉnh còn
yếu kém đặc biệt là ở vùng núi,vúng sâu vùng xa mạng lưới trường học còn thưa thớt,
trường học được xây dựng chủ yếu bằng tranh tre, nhà ở công vụ cho giáo viên vừa
thiếu lại vừa kém. Cũng xuất phát từ nhu cầu thực tế đó mà tỷ lệ vốn đầu tư để xây
dựng cơ sở vật chất trường học chiếm tỷ lệ lớn (92,7%) là tương đối phù hợp. Qua đó
cũng thể hiện chủ chương đường lối đầu tư phát triển giáo dục của tỉnh Phú Thọ là
đúng đắn và hiệu quả.
Trong đó vốn mà tỉnh huy động để xây dựng phòng học và nhà công vụ cho
giáo viên bao gồm các nguồn từ: Vốn trái phiếu Chính Phủ, Vốn ngân sách địa
phương ( gồm: Ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, xã), Vốn khác:ODA, chương trình
kiên cố hoá trường, lớp học, vốn chậm lũ, vốn chương trình 135… Tổng vốn đầu tư
để xây dựng phòng học và nhà ở công vụ cho giáo viên giai đoạn 2002-2008 là
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
515.450 triệu đồng, trong đó: vốn từ trái phiếu chính phủ là 420.488 triệu đồng, vốn
từ ngân sách địa phương là 78.922 triệu đồng( ngân sách tỉnh: 58.302 triệu đồng, ngân
sách huyện, xã: 20.620 triệu đồng), vốn khác là: 16.040 triệu đồng
Biểu 1.3: Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng phòng học và nhà công vụ giáo viên của tỉnh
Phú Thọ( 2002-2008)
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Qua biểu đồ cơ cấu vốn trên ta thấy nguồn vốn chủ yếu để xâu dựng phòng học
và nhà công vụ cho giáo viên là từ vốn trái phiếu Chính Phủ chiếm 81,6% tổng vốn
đầu tư. Đây là tỷ trọng rất lớn, nó vừa thể hiện tầm quan trọng cuả sự nghiệp phát
triển giáo dục của tỉnh vừa thể hiện sự quan tâm của Chính Phủ đối với tỉnh Phú Thọ.
Vốn ngân sách địa phương chiếm 15,3% tổng vốn đầu tư trong đó: ngân sách tỉnh
chiếm 11,31%, ngân sách huyện, xã chiếm 3,99%), các nguồn vốn khác chiếm tỷ
trọng rất nhỏ 3,1%. Cơ cấu vốn đầu tư này là tương đố hợp lý bởi Phú Thọ là tỉnh
cha mẹ thường quan niệm rằng trẻ còn nhỏ nên việc học tập chưa cần thiết. Vì vậy mà
có thể sẽ không cho trẻ đến trường và không chú ý đến việc học tập của trẻ. Nhưng
cùng với sự phát triển của xã hội và nhận thức được việc cho trẻ đến trường là cần
thiết do đó nhu cầu cho trẻ đến trường của các bậc cha mẹ đã tăng lên. Xuất phát từ
nhu cầu này tỉnh Phú Thọ đã đề ra nhiều chủ chương, kế hoạch đầu tư phát triển giáo
dục từ bậc học mầm non.
Về Xây dựng Phòng học:Trong giai đoạn 2002-2008, trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ đã đầu tư xây dựng được 842 phòng học cho bậc học mầm non, với tổng số vốn
đầu tư là 134.720 triệu đồng, bình quân đạt 160 triệu đồng/phòng học và 19.250 triệu
đồng/năm.
Bảng 1.2: Phân bổ vốn cho bậc học mầm non giai đoạn 2002-2008
Năm Vốn đầu tư (triệu đồng) Tốc độ tăng (%)
2002 9.280 _
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2003 10.200 9,91
2004 16.320 60
2005 20.200 23,77
2006 23.520 16,44
2007 25.000 6,29
2008 30.200 20,8
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Qua bảng trên ta thấy: Tốc độ tăng vốn đầu tư qua các năm là không đồng
đều, năm 2004 tốc độ tăng là lớn nhất với 60% và năm thấp nhất là năm 2007 với
6,29%. Tuy tốc độ tăng là không đồng đều giữa các năm nhưng lại tương đối phù hợp
với tình hình thực tế và chủ chương chính sách đầu tư cho giáo dục của tỉnh, bởi vì
giai đoạn đầu mới thực thi chương trình đầu tư kiên cố hoá trường, lớp học và nhà
công vụ cho giáo viên nên chưa huy động được nhiều vốn.
là âm bởi sau khi đã đạt được mục tiêu phổ cập thì vốn đầu tư dành cho bậc học này
giảm đi để dành đầu tư cho các bậc học chưa phổ cập.
Về Nhà công vụ giáo viên. Giai đoạn 2002-2008 toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng
được 701 phòng nhà ở công vụ cho giáo viên tiểu học, với tổng vốn đầu tư là 28.040
triệu đồng, bình quân đạt 40 triệu đồng/phòng và 4.006 triệu đồng/năm. Để giải quyết
tình trạng thiếu giáo viên, nhiều giáo viên đã được tăng cường cho các trường vùng
miền núi khó khăn, vùng sâu, vùng xa, tuy nhiên do nguồn lực hạn chế nên việc đầu
tư xây dựng nhà tập thể cho giáo viên tiểu học chủ yếu do các địa phương tự huy động
cùng với việc ủng hộ cuả cán bộ công chức ngành giáo dục nhưng số lượng nhà công
vụ còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu, hầu hết đội ngũ cán bộ giáo viên vẫn phải đi ở
nhờ nhà dân. Đến năm 2012 tình trạng này sẽ được giải quyết khi chương trình kiên
cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn II kết thúc.
1.2.2.3. Trung học cơ sở.
Về Xây dựng phòng học.Bậc trung học cơ sở của tỉnh đã được phổ cập năm
2005. Giai đoạn 2002-2008, toàn tỉnh đã xây dựng được 786 phòng học, với tổng vốn
đầu tư là 125.760 triệu đồng, bình quân đạt 160 triệu đồng/phòng và 17.970 triệu
đồng/năm.
Bảng 1.4: Phân bổ vốn cho bậc trung học cơ sở giai đoạn 2002-2008
Năm Vốn đầu tư (triệu đồng) Tốc độ tăng (%)
2002 16.320 _
2003 20.180 23
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2004 29.100 44,2
2005 34.040 16,98
2006 8.160 -76,03
2007 8.960 9,8
2008 9.000 0,45
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
2007 11.380 225,14
2008 16.340 43,59
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Việc phân bổ vốn đầu tư trong giai đoạn 2002-2008 là không đồng đều giữa
các năm nhưng lại tương đối hợp lý với chủ chương đầu tư của tỉnh. Năm 2002-2003
tỉnh tập trung để phổ cập bậc tiểu học, năm 2004-2005 phổ cập bậc trung học cơ sở
nên tốc độ tăng vốn đầu tư trong những năm này thấp. Trong 3 năm còn lại tỉnh tập
trung đầu tư cho bậc trung học phổ thông do đó mà tốc độ tăng vốn đầu tư của 3 năm
này rất lớn so với các năm trước đó.
Về Nhà ở công vụ cho giáo viên. Giai đoạn 2002-2008, toàn tỉnh đã xây dựng
được 181 phòng ở cho giáo viên với tổng vốn đầu tư là 7.240 triệu đồng, bình quân
đạt 40 triệu đồng/phòng và 1.034 triệu đồng/năm. So với các bậc học khác thì số
lượng nhà ở công vụ cho giáo viên bậc trung học phổ thông là ít nhất, bởi nó phù hợp
với quy mô đầu tư xây dựng trường học. Trung bình ở mỗi huyện chỉ có 3-4 trường
trung học phổ thông vì thế mà số lượng nhà ở công vụ cho giáo viên cũng ít.
1.2.3. Đầu tư theo địa phương.
Tỉnh Phú Thọ có 13 huyện thành thị do đó việc đâù tư phát triển giáo dục theo
địa phương là việc phải đầu tư phát triển mạng lưới trường lớp học ở tất cả các bậc
học cho mỗi địa phương.
Việc xây dựng mạng lưới trường, lớp học cho các huyện phải căn cứ vào nhu
cầu thực tế của mỗi huyện và chủ chương đầu tư của tỉnh. Bên cạnh đó điều kiện để
đầu tư phát triển giáo dục của mỗi huyện cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng đáp ứng
nhu cầu đầu tư bởi hầu hết các huyện trong tỉnh đều là các huyện miền núi, đời sống
còn gặp nhiều khó khăn nên khả năng cung ứng vốn cho đầu tư phát triển giáo dục rất
hạn chế do đó phần lớn vốn cho đầu tư phát triển giáo dục là từ ngân sách nhà nước
và huy động từ các chương trình hỗ trợ khác.
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thanh Thuỷ
5,56 6 7,5 7,523 5,417 3,68 2,24 37,92
Tổng 500,56
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Bảng phân bổ vốn đầu tư của các địa phương cho ta biết được huyện có vốn
đầu tư lớn gồm các huyện: Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Yên Lập, Tân Sơn, Đoan
Hùng; tỷ lệ vốn đầu tư/tổng vốn đầu tư chiếm từ 7-12%, đây là những huyện có điều
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kiện khó khăn và đặc biệt khó khăn của tỉnh vì thế mà cần tập trung vốn đầu tư để xây
dựng trường học mới và nhà ở công vụ cho giáo viên. Còn các huyện có điều kiện
kinh tế phát triển hơn như: Thị xã Phú Thọ và thành phố Việt Trì thì vốn đầu tư phân
bổ ít hơn bởi vốn để xây dựng trường học là do địa phương tự huy động là chủ yếu.
Cách phân bổ vốn đầu tư cho các huyện trong tỉnh là không đồng đều nhưng lại phù
hợp với tình hình đièu kiện của từng huyện và theo đúng chủ chương đầu tư của tỉnh.
Trong giai đoạn 2002-2008, tỉnh đã đầu tư xây dựng mạng lưới trường học và
nhà ở công vụ cho giáo viên ở tất cả các huyện và được các huyện triển khai rất nhanh
chóng. Tuy nhiên ở giai đoạn đầu của việc triển khai đề án nên các huyện còn gặp
nhiều khó khăn và vướng mắc nên chưa có đơn vị nào triển khai đề án đạt hiệu quả
100%.
Bảng 1.7 : Tiến độ xây dựng của các đơn vị trong quá trình thực hiện đề án giai đoạn
2002-2008
ST
T
Tên huyện Tiến độ thực hiện nhà
lớp học và nhà công
Trong đó
Nhà lớp
ngân sách tỉnh vì ngân sách huyện, xã không thể huy động được. Các huyện, thị xã
thuộc vùng đồng bằng, có điều kiện kinh tế phát triển hơn thì ngoài vốn hỗ trợ từ ngân
sách trung ương còn có vốn từ ngân sách cấp huyện, xã và vốn mà các đơn vị tự huy
động được.
Bảng 1.8 : Thể hiện cơ cấu vốn ở các huyện
Tên huyện
Vốn
NSTƯ(%)
Vốn NS
tỉnh(%)
Vốn NS huyện, xã
và tự huy động(%)
Thành phố Việt Trì, thị xã
Phú Thọ
80 0 20
Lâm Thao, Phù Ninh, Hạ
Hoà, Cẩm Khê, Đoan
Hùng,Thanh Ba, Tam Nông,
Thanh Thuỷ
80 10 10
Yên Lập, Thanh Sơn, Tân
Sơn
80 20 0
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Cơ cấu phân bổ vốn ở các huyện như bảng trên là tương đối hợp lý với chủ
chương đầu tư của tỉnh và tình hình điều kiện thực tế của từng huyện. Những huyện
miền núi có nhiều xã đặc biệt khó khăn như: Yên Lập, Thanh Sơn, Tân Sơn thì vốn
đầu tư phần lớn là từ ngân sách trung ương vì ngân sách của huyện, xã không có khả
SV: Khương Thị Hồng Xoan Đầu tư 47A