TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TOÁN – TIN
____ GVHD:TRẦN NHƢ CƢƠNG
SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
MSSV: K33101080
LỚP: TOÁN 3B
____________
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2010
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
1 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
1. Lý do chọn đề tài.
Lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ khi có Đảng là những trang sử sôi
động nhất, hào hung nhất, oanh liệt nhất. Kể từ khi có Đảng, dân tộc ta
tiếp tục giành được những thắng lợi mang ý nghĩa dân tộc và thời đại
sâu sắc, thể hiện những bước nhảy vọt trong tiến trình lịch sử của dân
tộc. Mở đầu là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; tiếp đó là thắng lợi của các cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; và đến nay chúng ta
cũng khẳng địng công cuộc đổi mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của
Đảng đã và đang giành được những thắng lợi lớn, "có ý nghĩa lịch sử sâu
Nghiên cứu về ý nghĩa của sự kiện Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
đối với lịch sử dân tộc Việt Nam không còn là vấn đề mới, mà đây là
vấn đề có lịch sử nghiên cứu từ rất lâu và cũng được sự quan tâm của
nhiều tác giả, nhóm tác giả, nhiều cơ quan, tổ chức… và đến nay vấn đề
này cũng được công bố rộng rãi, là một trong những nội dung giảng dạy
ở không chỉ các trường cao đẳng, đại học, mà còn ở các cấp học phổ
thông. Như vậy, đây là vấn đề đã mang tính phổ biến và không còn là
mới. Song, tác giả lựa chọn cách tiếp cận là đặt trực tiếp sự ra đời của
Đảng trong bối cảnh lịch sử dân tộc và thế giới để qua đó làm nổi bật lên
ý nghĩa sự ra đời của Đảng.
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
3 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
TÊN MỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài.
1
2. Mục đích, yêu cầu
1
3. phạm vi, phương pháp nghiên cứu.
Việt Nam đã trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng
thế giới.
4. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự chuẩn bị tất
yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho những bước phát triển
nhảy vọt trong tiến trình tiến hoá của dân tộc Việt Nam.
15
5. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi
của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, người sáng lập, rèn luyện
và lãnh đạo Đảng ta.
16
KẾT LUẬN
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
19
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
5 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
1. Tình hình thế giới và tác động của nó đối với cách mạng Việt Nam:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trên bình diện thế giới xuất hiện
những biến cố lịch sử mang tính chất là bước ngoặt của xã hội loại
người.
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản (CNTB) đã chuyển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa (ĐQCN). Chính
bước chuyển này đã làm cho mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày càng
triệt để cuộc cách mạng đó có nghĩa là tạo lập chiếc cầu trực tiếp để
chuyển sang cách mạng XHCN và giữa chúng không có ''bức tường
thành ngăn cách''.
Lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và đặc biệt là Lý luận cách
mạng không ngừng đã chỉ ra con đường giải phóng cho các dân tộc
thuộc địa như Việt Nam, đó là phải tiến hành một cuộc cách mạng theo
con đường cách mạng vô sản. Đồng thời Lênin cũng chỉ ra việc cần thiết
phải xây dựng một Đảng cộng sản kiểu mới của giai cấp công nhân.
Trong lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát
triển mạnh mẽ, đặc biệt là khi được trang bị bởi một học thuyết cách
mạng và khoa học, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên nổ ra và giành thắng
lợi tại Nga năm 1917.
Cờ_Huy hiệu Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Xô Viết
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
7 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng mười đã cổ vũ phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc
biệt là nhân dân các nước thuộc địa. Cách mạng Tháng
Mười đã thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt các đảng
cộng sản trên thế giới: Đản cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hunggari
(1918), Đảng cộng sản Mỹ (1919), Đảng cộng sản Anh, Đảng cộng sản
Pháp (1920)…
Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ vũ mạnh mẽ phong
trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới,
Về chính trị, Pháp thực hiện chính sách chuyên chế với bộ máy đàn
áp nặng nề, mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị
người Pháp: Toàn quyền Đông Dương, Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ
Bắc Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, Công sứ các tỉnh. Biến vua quan Nam
Triều thành bù nhìn tay sai. Biến Việt Nam từ một nước phong kiến
thành nước thuộc địa nửa phong kiến.
Chúng dùng chính sách chia để trị. Chia nước ta thành 3 kỳ sát
nhập với Lào, Campuchia lập liên bang Đông Dương, nhằm xóa tên
nước ta trên bản đồ thế giới. Mỗi kỳ có chính sách khác nhau hòng chia
rẽ và gây thù hận giữa các sứ làm cho dân tộc ta không đoàn kết thống
nhất, không tạo sức mạnh tổng hợp chống lại chúng.
Về kinh tế, 1897 Pháp
tiến hành khai thác thuộc địa
lần 1, sau chiến tranh thế
giới I (1914- 1918), chúng
khai thác lần 2 - để bù vào
những tổn thất trong chiến
tranh (vốn đầu tư với tốc độ
nhanh, giai đoạn 1924 -
1928 hơn 6 lần 1847 -
1918), tập trung vào hai khu
vực chủ yếu là đồn điền cao
su và mỏ than.
Tăng cường ngân hàng để cho vay nặng lãi và thâu tóm để kiểm
soát các hoạt động kinh tế ở Đông Dương. Chúng tăng thuế lên 2 - 3 lần
so với trước, độc quyền
thuốc phiện, rượu, muối.
Chúng thực hiện chế
độ mộ phu cực kỳ man rợ và chiếm đoạt ruộng đất của nông dân làm
50% nông dân ta mất ruộng đất. Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.
Về xã hội, Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành
một nước thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn trong xã hội cũng bị chi
phối bởi đặc điểm này; xã hội Việt Nam hình thành nhiều mâu thuẫn đan
xen lẫn nhau, song mâu thuẫn chủ yếu nhất nổi lên lúc này là mâu thuẫn
giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động.
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
10 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Về giai cấp cũng bị phân hóa triệt để do chính sách khai thác thuộc
địa của thực dân Pháp, ngoài những giai cấp vốn có (địa chủ phong kiến
và nông dân), xã hội Việt Nam xuất hiện những giai cấp mới như tư sản,
tiểu tư sản, vô sản.
Thái độ chính trị của các giai cấp cũng có sự phân hoá sâu sắc,
theo đó trong các giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản đều có những bộ
phận có thể lôi kéo, lợi dụng trong lực lượng cách mạng ; các giai cấp
tiểu tư sản và nông dân đều có tinh thần hăng hái cách mạng, là lực
lượng quan trọng của cách mạng. Đặc biệt là công nhân, tuy chiếm
khoảng 1% dân số nhưng là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo
cách mạng nếu được trang bị Chủ nghĩa Mác- Lênin.
Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước theo nhiều khuynh
hướng khác nhau đã diễn ra: Phong trào Cần Vương (1885 – 1896),
Khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (1885 – 1913), Phong trào Đông Du
(1906 – 1908), Phong trào Duy Tân (1906- 1908), Phong trào yêu nước
dân chủ công khai (1925 - 1926), Phong trào cách mạng quốc gia tư
sản, gắn liền với hoạt động của Việt Nam Quốc dân đảng (1927 -
1930) Nhưng tất cả các phong trào đều lần lượt thất bại, cách mạng
Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp
lãnh đạo cách mạng.
3. Vai trò của Nguyễn ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam.
phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”
và được xuất bản lần đầu tiên ở
Pari vào 1925.
Từ tháng 6 - 1923 đến 1924,
Nguyễn ái Quốc đi Liên Xô tham dự nhiều Hội nghị và Đại hội quốc tế.
Từ 11-11-1924 đến 1927, Nguyễn ái Quốc về Quảng Châu - Trung
Quốc, thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức á Đông. Tháng 6 -
1925, Người sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Đây là
bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời Đảng
Cộng sản Việt Nam. Từ 1925 - 1927, Người mở nhiều lớp huấn luyện
chính trị tại Quảng Châu. Đầu năm 1927, những bài giảng của Người
được tập hợp thành sách với tên gọi “Đường cách mệnh”, với những nội
dung cơ bản vạch ra phương hướng cơ bản về chiến lược và sách lược
của cách mạng ở Việt Nam
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
12 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Năm 1928, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên chủ trương “Vô
sản hóa”, Đến 1929 phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát
triển rất mạnh mẽ. Các yếu tố thành lập
Đảng đã xuất hiện, Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên bị phân liệt, các tổ chức
cộng sản ở Việt Nam lần lượt ra đời. Yêu
cầu của phong trào dân tộc dân chủ ở Việt
Nam đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một
Đảng Cộng sản.
Nguyễn ái Quốc với tư cách là biệt
phái viên của Quốc tế cộng sản, triệu tập
các tổ chức cộng sản và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Hội nghị diễn ra từ 6- 1 đến 7-2-
1930 tại Cửu Long- Hương Cảng- Trung Quốc.
tế CS đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay
ngay vào việc chuẩn bị các văn kiện cho
hội nghị hợp nhất và khi mọi công tác
chuẩn bị đã hoàn tất thì hội nghị hợp nhất 3
tổ chức CS tiến hành 3 đến 7-2-1930 tại
Hương cảng Trung Quốc: Hội nghị thảo
luận bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, quyết
định thành lập Đảng CS và lấy tên là Đảng CS Việt Nam, thông qua
chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ tóm tắt và lời kêu gọi của
đồng chí Nguyễn Ái Quốc nhân dịp thành lập Đảng, bầu Ban chấp hành
trung ương lâm thời. Hội nghị được coi như là hội nghị thành lập Đảng
và các văn kiện do Hội nghị thông qua chính là cương lĩnh đầu tiên của
Đảng.
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử, là bước
ngoặc vĩ đại trong phong trào cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ giai
cấp Công nhân Việt Nam đã trưởng thành. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra
đời là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lenin và phong trào Công nhân.
Đây là quy luật thành lập Đảng của giai cấp Công nhân Việt Nam. “Tôi chỉ có một Đảng: Đảng Việt Nam”.
Hồ Chí Minh
“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi
có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.
Hồ Chí Minh
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
14 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với hoạt động của
Việt Nam Quốc dân đảng (1927 - 1930). Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học,
Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính. Đây là tổ chức
chính trị tiêu biểu nhất theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam, tập hợp
các thành phần tư sản, tiểu tư sản , địa chủ, cả học sĩ quan Việt Nam
trong quân đội Pháp.
Về chủ trương Đảng mô phỏng chủ nghĩa Tam Dân của Tôn
Trung Sơn. Về chính trị, Đảng chủ trương đánh Pháp, xóa bỏ chế độ vua
quan, lập dân quyền, nhưng chưa bao giờ có đường lối chính trị rõ ràng,
cụ thể. Về tổ chức Đảng chủ trương xây dựng các cấp từ TW đến cơ sở
nhưng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất. Về phương
pháp đấu tranh, nặng ám sát cá nhân, lấy bạo động làm lối thoát.
Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái vào 9- 2- 1930 với phương
châm “không thành công cũng thành nhân” đã bị thực dân Pháp dìm
phong trào trong biển máu. Vai trò của Việt Nam quốc dân Đảng trong
phong trào dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của cuộc
khởi nghĩa Yên Bái.
Lược đồ cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930
Trong khi các giai cấp, tầng lớp đều lần lượt bước lên vũ đài chính
trị nhưng đều không được lịch sử chấp nhận thì với nỗ lực của Nguyễn
Ái Quốc và Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Chủ nghĩa Mác- Lênin
được truyền bá rộng rãi vào phong trào đấu tranh của giai cấp công
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
16 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
nhân, phong trào yêu nước Việt Nam và đang khẳng định được sức
mạnh của mình. Nếu như những năm 1919- 1925, phong trào công nhân
được đánh giá là đã có bước phát triển hơn với "những cuộc bãi công đã
trở nên phổ biến, diễn ra trên qui mô lớn hơn và thời gian dài hơn" thì từ
1925, phong trào công nhân Việt Nam được đánh giá là có sự chuyển
thành lập một đảng cộng sản duy nhất. Điều đó khẳng định sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của chính lịch sử, là sản phẩm
của sự kết hợp 3 yếu tố Chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam.
2. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đã chấm dứt tình trạng
khủng hoảng về lãnh đạo cách mạng những năm đầu thế kỷ XX.
Trước ách áp bức của thực dân Pháp xâm lược, các phong trào đấu
tranh của nhân dân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ theo nhiều khuynh hướng
chính trị khác nhau, qua đó cũng chứng kiến nhiều giai cấp, tầng lớp
khác nhau lần lượt bước lên vũ đài chính trị với nhiều đường lối, phương
pháp tiến hành đấu tranh khác nhau nhưng cuối cùng đều rơi vào cùng
một kết cục là thất bại.
Phong trào Cần Vương với sự lãnh đạo của giai cấp địa chủ lớp
trên, giai cấp đã không còn đủ năng lực và uy tín lôi kéo, vận động lực
lượng nhân dân. Khởi nghĩa Yên thế "nặng cốt cách phong kiến" vì hoạt
động đấu tranh của nghĩa quân chỉ dựa vào tài thao lược của một lãnh tụ,
khi lãnh tụ mất, phong trào cũng vì thế mà tan rã. Đông Du có phương
pháp đấu tranh đúng đắn là dùng bạo động nhưng lại không biết xác
định bạn thù, đồng thời lại không có biện pháp cụ thể phù hợp để thực
hiện bạo động. Duy Tân thì phương pháp đấu tranh cải lương, không
tưởng. Việt Nam quốc dân đảng biểu thị tính bồng bột, hăng hái nhất
thời của tầng lớp tiểu tư sản nhìn chung tất cả các phong trào thất bại
vì không có đường lối đấu tranh phù hợp với xu thế của thời đại; không
có giai cấp lãnh đạo giữ vị trí là giai cấp trung tâm của thời đại.
Với những biến cố lịch sử đã xuất hiện trên thế giới cho thấy phạm
trù của cách mạng thế giới đã chuyển sang phạm trù cách mạng vô sản,
tất cả các cuộc cách mạng trên thế giới, kể cả cách mạng giải phóng dân
tộc muốn giành thắng lợi phải đi theo đường lối của cách mạng vô sản
và theo đó, giai cấp cách mạng nhất, giữ vai trò tiên phong, có sứ mệnh
thuẫn nội tại của CNTB đã và đang tạo ra tính tất yếu của các cuộc cách
mạng vô sản và trên bình diện thế giới, cuộc cách mạng vô sản đầu tiến
đã giành thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy, thời đại mới đã mở, đó là thời đại
của cách mạng vô sản, phạm trù cách mạng thế giới đã chuyển sang
phạm trù cách mạng vô sản, cho nên tất cả các cuộc cách mạng trên thế
giới, kể cả cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi phải đi
theo đường lối của cách mạng vô sản.
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
19 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Song, ở Việt Nam trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX,
các phong trào đấu tranh lại chủ yếu diễn ra theo hai khuynh hướng
chính trị cơ bản là phong kiến và tư sản. Đây đều là những khuynh
hướng cách mạng không còn phù hợp với thời đại mới nếu như không
muốn khẳng định là "quay ngược bánh xe lịch sử". Từ chỗ không có
đường lối cách mạng phù hợp với xu thế vận động và phát triển của lịch
sử nhân loại; không có giai cấp lãnh đạo cách mạng là giai cấp đứng ở vị
trí trung tâm của thời đại, cho nên các phong trào đấu tranh theo các
khuynh hướng phong kiến và tư sản đã không tìm thấy cho mình không
chỉ lực lượng trong nước mà quan trọng hơn là sự đoàn kết liên minh
chặt chẽ với lực lượng cách mạng thế giới để chống lại một kẻ thù đã trở
thành hệ thống thế giới. Do vậy, đây cũng được coi là một trong những
nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết cục thất bại của các phong trào.
Với sự nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên, Chủ nghĩa Mác- Lênin được truyền bá rộng rãi vào phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, làm cho các phong
trào này, đặc biệt là phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, từ tự phát
sang tự giác và thành quả là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự
ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng đi theo
cách mạng vô sản đã đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách
mạng thời đại, là cơ sở tiên quyết để cách mạng Việt Nam trở thành một
chỉ tập hợp được giai cấp mình mà còn vận động, lôi kéo được đông đảo
các giai- tầng khác trong xã hội trên một "mẫu số chung" đó là tinh thần
yêu nước. Không những thế, việc giai cấp công nhân nắm bá quyền lãnh
đạo cách mạng Việt Nam là điều kiện tiên quyết để cách mạng Việt Nam
trở thành một bộ phân của cách mạng thế giới, cho phép cách mạng Việt
Nam không chỉ phát huy được sức mạnh toàn dân tộc mà còn kết hợp
được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thông qua đó tạo nên sức
mạnh tổng hợp để cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to
lớn.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã không ngừng củng cố, xây dựng mình vững mạnh về tư tưởng,
chính trị và tổ chức để ngang tầm với nhiệm vụ lịch sử được giao phó.
Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bắt nguồn từ sự
chuyển hướng đúng đắn, kịp thời của Đảng trong HNTW6 (11- 1939) và
HNTW8 (5- 1941) trước tình hình mới; bắt nguồn từ sự sáng suốt của
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
21 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
Đảng trong việc dự đoán thời cơ và chớp thời cơ thể hiện tập trung trong
chỉ thị "Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (12- 3- 1945);
từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng qua các cao trào 1930- 1931, 1936-
1939 để lịch sử dân tộc Việt Nam ghi vào dòng chảy của mình một
cuộc "cách mạng thần thánh" giành chính quyền, lập lên Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà; đưa nhân dân ta từ thân phận là người nô lệ trở
thành người làm chủ vận mệnh dân tộc; đưa Đảng ta từ một Đảng bí
mật, bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền
Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc,
Đảng cộng sản Việt Nam với đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn,
sáng tạo cũng thể hiện rõ vai trò và năng lực lãnh đạo cách mạng, là
nghĩa lịch sử" sau 20 năm đổi mới, không ngừng nâng cao vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế.
5. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của
Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo
Đảng ta.
Sống trong bối cảnh nước mất, nhà tan, người thanh niên Nguyễn
Tất Thành đã sớm nuôi trí đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng cho dân tộc.
Khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã không tán thành
đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản, nhưng ngay
từ đầu Nguyễn Ái Quốc chưa có được một quan niệm cần có một tổ
chức chính trị lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc
gặp và tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở đấy con đường giải
phóng cho dân tộc, đưa đất nước đi lên độc lập - tự do - hạnh phúc, đó là
đường lối cỏch mạng theo con đường cỏch mạng vụ sản.
Với quan điểm "cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để
trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc
bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi".Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành một
quá trình chuẩn bị về chính trị tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự nỗ lực của Người, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã được ra đời vào ngày 3- 2- 1930 là sự vận dụng sáng tạo
học thuyết của Chủ nghĩa Mác- Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân ở một nước thuộc địa.
Những đóng góp của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đối với cách
mạng Việt Nam không chỉ ở sự nố lực của Người trong việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, mà còn ở hệ thống
Tiểu luận lịch sử Đảng Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
23 Trang SVTH: ĐẶNG MINH NHỰT
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam, trong đó nổi bật là những quan điểm tư tưởng của Người về
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử phát triển của nhân loại
đang có những chuyển biến vô cùng quan trọng, thời đại quá độ từ
CNTB lên CNXH đã mở, tình hình đó đòi hỏi những chiến sỹ cách
mạng trên thế giới phải nhìn nhận được xu thế phát triển của thời đại mà
đề ra được đường lối và tìm ra được giai cấp lãnh đạo cách mạng phù
hợp.
Việt Nam chịu ách thống trị của thực dân Pháp, trước ách áp bức
bóc lột nặng nề, mâu thuẫn dân tộc đang diễn ra hết sức gay gắt, nhiều
phong trào đấu tranh của nhiều lực lượng và theo nhiều khuynh hướng
chính trị khác nhau đều lần lượt thất bại. Phong trào cách mạng Việt
Nam lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo.
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ
thiên tài của mình đã sớm nắm bắt được xu thế của thời đại và nhu cầu
của cách mạng Việt Nam, đã tìm thấy ở Chủ nghĩa Mác- Lênin con
đường cách mạng giải phóng cho dân tộc, mang lại tự do, hạnh phúc cho
nhân dân, đó là đường lối cách mạng theo con đường cách mạng vô sản.
Với quan điểm "cách mệnh trước hết cần có đảng cách mệnh", Người đã
nỗ lực chuẩn bị mọi điều kiện cho sự ra đời của Đảng. Và sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3- 2- 1930, đã mang những ý nghĩa hết
sức to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Tìm hiểu sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh
trong nước và quốc tế như trên mới thấy hết được những ý nghĩa to lớn
của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng thấy được sự vĩ
đại của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh trong việc thành lập Đảng. Sự vĩ
đại ấy là ở chỗ Người đã sớm đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của
cuộc cách mạng vô sản; ở chõ Người đã để lại cho Đảng ta, dân tộc ta
một hệ thống quan điểm về Đảng Cộng sản Việt Nam có giá trị lý luận