A- Hot ng ca Nguyn i Quc
Nguyễn ái Quốc (Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất
Thành) sinh ngày 19/5/1890 tại Làng Kim Liên- Nam
Đàn- Nghệ An.
Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nớc, lớn lên
trên mảnh đất có truyền thống bất khuất, từ nhỏ NAQ
đã nuôi ý chí đuổi giặc Pháp, giải phóng đồng bào.
Trăn trở với vận nớc, sự nghiệp cứu nớc không thành
của các bậc tiền bối, ngày 05/6/1911 NAQ (lúc đó lấy
tên là Nguyễn Tất Thành) quyết chí ra nớc ngoài tìm đ-
ờng cứu nớc. Ngời đã trải qua nhiều nghề khác nhau để
đến đợc nhiều miền khác nhau trên thế giới khảo
nghiệm và học tập. Nhng chuyến đi đó giúp Ngời rút ra
một kết luận quan trọng. Trên thế giới này, ở đâu bọn
đế quốc thực dân đều độc ác, ở đâu ngời dân lao động
cũng đều bị bóc lột, áp bức dã man; trên thế giới này,
con ngời có nhiều màu da khác nhau, nhng chung quy
chỉ có hai hạng ngời: hạng ngời bị bóc lột và hạng ngời
đi bóc lột.
Cuối năm 1917, Ngời từ nớc Anh trở lại nớc Pháp, chọ
Pari làm điểm dừng chân để hoạt động. Năm 1919, Ng-
ời gia nhập Đảng Xã Hội Pháp, một chính đảng tiến bộ
nhất lúc đó ở Pháp. Tháng 6/1919, nhân các nớc thăng
trận họp ở Vecxay, thay mặt những ngời Việt Nam yêu
nớc tại Pháp, Ngời gửi tới Hội nghị bản yêu sách của
nhân dân Việt Nam gồm 8 điểm đòi Chính phủ pháp
thực hiện quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho dân tộc
Việt Nam. Tháng 7/1920, NAQ đã đọc Sơ thảo lần
thứ nhất những luận cơng về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng
Xã Hội Pháp. Qua Luận cơng, Ngời đã tìm thấy con đ-
tế Cộng sản. Tại các đại hội đó, Ngời đã đọc những
tham luận quan trọng về phong trào cách mạng thuộc
địa. Ngời còn viết nhiều bài cho tạp chí Th tín quốc tế
của Quốc tế cộng sản, cho báo Sự thật của ĐCS Liên
xô và đã xuất bản hai cuốn sách: Trung Quốc và thanh
niên Trung Quốc và Chủng tộc da đen. Thời gian ở
Matxcơva là thời gian mà NAQ hoàn thiện thế giới
quan và nhân sinh quan cách mạng của mình, cũng là
thời kỳ phác thảo những nét lớn đờng lối chiến lợc của
cách mạng giảI phóng dân tộc. Những tác phẩm của
Ngời công bố tại Pháp và Liên Xô chứa đựng những t
tởng chính trị lớn sau đây:
1- Xác định một cách chính xác kẻ thù chính của cách
mạng giải phóng dân tộc là đế quốc, thực dân và giai
cấp địa chủ, phong kiến bản xứ.
2- Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải
đi vào quỹ đạo cách mạng vô sản.
3- Cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải
phóng dân tộc ở thuộc địa có mối quan hệ qua lại, nh-
ng không phụ thuộc vào nhau. Cách mạng giải phóng
dân tộc có thể bùng nổi và thắng lợi trớc cách mạng vô
sản ở chính quốc.
4- ở các nớc thuộc địa giai cấp công nhân chiếm một tỷ
lệ rất nhỏ trong c dân, song vai trò lãnh đạo thuộc về
giai cấp công nhân. Đảng là một vấn đề chiến lợc to
lớn trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngời
còn khẳng định rằng, giai cấp công nhân muốn thực
hiện đợc xứ mệnh đó thì phải thu phục cho đợc giai cấp
nông dân, một giai cấp nghèo khổ nhất chiếm 90% dân
số đi theo mình, hợp thành đội quân chủ lực của cách
nớc, với t cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, có
đầy đủ quyền quyết định mọi việc liên quan đến phong
trào cách mạng ở Đông Dơng, NAQ đã đến Hơng
Cảng của TQ để triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức
cộng sản thành một chính đảng duy nhất.
Hội nghị hợp nhất gồm hai đại biểu của ĐD CSĐ là
Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh, 2 đại biểu của
An Nam CSĐ là Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu dới
sự chủ trì của NAQ đã họp ở Cửu Long- Hơng Cảng
TQ. Tại phiên họp ngày 3/2/1930, các đại biểu đã nhất
trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành ĐCS VN,
thông qua Chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt, Chính
cơng tóm tắt, Điều lệ tóm tắt. Trong các văn kiện chủ
yếu trên, ĐCS VN đợc xác định là đội tiên phong của
vô sản giai cấp, chủ trơng tiến hành t sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đI tới xã hội cộng
sản Đồng thời, qua các văn kiện đó ĐCS VN đợc xác
định cho mình nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân tiến hành
cuộc cách mạng đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến,
thực hiện độc lập dân tộc, thành lập chính phủ công
nông, binh, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc phong
kiến chia cho nông dân nghèo, quốc hữu hoá các sản
nghiệp, mở mang sản xuất, thực hiện các quyền tự do
dân chủ, quyền bình đẳng nam nữ, thi hành luật ngày
làm việc 8 giờ.
Để thực hiện mục tiêu chiến lợc trên, ĐCS VN chủ tr-
ơng tập hộ đợc đại bộ phận giáo cấp công nhân , làm
cho giai cấp công nhân lãnh đạo đợc quần chúng, phải
thu phục đợc đại đa số dân cày và phải dựa vững vào
hạng dân cày nghèo. Đồng thời phải hết sức liên lạc đ-
và xã hội. Từ đó, phong trào dân tộc cũng có những b-
ớc phát triển mạnh mẽ. Trong những năm 20 của thế kỷ
này, các giai tầng xã hội đã bớc lên vũ đài chính trị với
những đòi hỏi, yêu cầu và những hành động cách mạng
riêng, tuỳ thuộc vào mối quan hệ của mình trong kết
cấu giai cấp của xã hội thuộc địa. Phong trào dân tộc
sau chiến tranh có những chuyển biến mới trong nội
dung và phong phú về các hình thức biểu hiện. Và cuối
cùng, lịch sử đã chứng kiến sự bất lực của hệ t tởng dân
chủ t sản trớc nhiệm vụ cứu nớc và chứng kiến sự
chuyển giao ngọn cờ giảI phóng vào tay giai cấp công
nhân với đội tiên phong của nó là ĐCS VN.