Thực trạng sản xuất kinh doanh năm 2008 và phương hướng nhiệm vụ năm 2009 của công ty Xây dựng Lũng Lô - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước đang phát triển với mô hình Kinh tế đa ngành, đa
nghề; trong đó Xây dựng là một trong những ngành quan trọng đóng góp không
nhỏ vào sự tăng trưởng Kinh tế Việt Nam, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của
nhiều ngành khác trong nền Kinh tế.
Trong tình hình khủng hoảng Kinh tế toàn cầu nói chung và với Việt Nam
nói riêng, Toàn cầu và đất nước đang có những chuyển biến không nhỏ, ngành
Xây dựng cũng đứng trước những khó khăn, thách thức đáng kể để có thể thích
ứng, ổn định và phát triển.
Với truyền thống 50 năm ngành Xây dựng, truyền thống 50 năm Bộ Quốc
Phòng và 20 năm kinh nghiệm, Công ty Xây dựng Lũng Lô là một công ty đã có
những đóng góp không nhỏ cho ngành Xây dựng và cho nền Kinh tế Việt Nam.
Trong thời gian tới, sẽ có những thuận lợi cũng như những khó khăn được đặt ra
đối với Công ty.
Trong bài báo cáo này, ta sẽ tìm hiểu về Công ty Xây dựng Lũng Lô để có
được những đánh giá sâu hơn về Công ty và về ngành Xây dựng trong nền Kinh
tế đng trong thời kì có những chuyển biến quan trong.
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương I: Giới thiệu chung về ngành Xây dựng Việt Nam
1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA
NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT NAM
Ngày 29-4-1958, theo Nghị quyết của kì họp thứ VIII Quốc hội khoá I do Chủ tịch Hồ Chí
Minh chủ tọa đã quyết định thành lập Bộ Kiến trúc - nay là Bộ Xây dựng. Từ đó đến nay, ngày
29-4 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của ngành Xây dựng Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công
nhân viên trong suốt chặng đường 42 năm phát triển, ngành Xây dựng đã đạt
được nhiều thành tựu góp phần vào những thắng lợi to lớn của cả nước trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những thành tựu trong 42 năm qua của ngành Xây dựng gắn liền với những sự

Với lực lượng và tổ chức như trên, ngành Xây dựng đã trực tiếp thi công hàng
trăm công trình lớn, nhỏ như xây dựng các nhà máy điện Lào Cai,Vinh, Uông
Bí, Ninh Bình, Thác Bà, các công trình hoá chất ớ khu công nghiệp Việt Trì, khu
Cao - Xà - Lá, khu gang thép Thái Nguyên, Nhà máy Cơ khí trung quy mô, Phân
lân Văn Điển, Phân đạm Hà Bắc, Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Dệt 8-3, Dệt
Minh Phương, Dệt Nam Định, Chè Phú Thọ, Thiếc Tĩnh Túc, Cá hộp Hải Phòng,
Gỗ diêm Cầu Đuống...; xây dựng các trường đại học, trung học, bệnh viện,
khách sạn kho tàng, các khu nhà ở và các công trình phúc lợi, hạ tầng kĩ thuật....
Quy hoạch đô thị, nông thôn đã được quan tâm. Bộ đã thành lập Viện Thiết
kế quy hoạch đô thị và nông thôn để đảm nhiệm việc quy hoạch xây dựng lại,
xây dựng mới các đô thị sau nhiều năm không được đầu tư và bị chiến tranh tàn
phá.
Trong thời gian đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc từ năm
1965 nhiều công trình xây dựng cơ bản phải tạm đình chỉ hoặc giãn tiến độ.
Ngành đã chủ trương chuyển hướng nhiệm vụ, đưa lực lượng công nhân, cán bộ
sang phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, đã xây dựng được 198 công
trình quốc phòng như: tham gia xây dựng các sân bay Đa Phúc, Kép, Hoà Lạc,
Gia Lâm, Cát Bi, Sao Vàng...; xây dựng các công trình dẫn dầu, các công trình
phòng không, các công trình che chắn nhà máy điện Uổng Bí, Yên Phụ, v.v...
hoặc sản xuất cầu phao, sà lan...
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. Giai đoạn 5 năm 1976 – 1980
Sau chiến thắng lẫy lừng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước hoàn
toàn thống nhất, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc chiến tranh giải phóng dân
tộc, cả nước bước sang thời kì mới, thời kì khôi phục sau chiến tranh và xây
dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV ngành Xây dựng đã nhanh
chóng tổ chức, tập hợp sắp xếp và điều tiết lại lực lượng xây dựng trong cả
nước, hình thành bộ máy quản lý và các tổ chức xây dựng ở phía Nam, tăng

đầu tư xây dựng các cơ sở xi măng lò đứng, các cơ sở gạch, đá ốp lát bán cơ
giới... Các loại vật liệu xây dựng như xi măng, tấm lợp, gạch, đá đã được khôi
phục và phát triển gấp 2 lần so với thời kì chiến tranh, đã giải quyết một phần
khó khăn do khan hiếm nguồn vật tư, nguyên liệu trong nước. Mặc dù đã có
nhiều cố gắng, song nhìn chung các cơ sở sản xuất VLXD còn mang nặng
tính thủ công, chủng loại sản phẩm nghèo nàn, chất lượng chưa cao, còn lệ
thuộc nhiều vào nguồn vật tư, nguyên liệu nhập ngoại.
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khảo sát thiết kế công trình,
thiết kế quy hoạch... đã có những bước tiến bộ đáp ứng được những yêu cẩu
sản xuất, xây dựng và phát triển đô thị. Đã cùng các chuyên gia thiết kế được
nhiều công trình dân dụng, công nghiệp. Việc xử lí nền móng, xử lí chống
thấm, chống dội như nền móng có castơ ở Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn,
Hoàng Thạch, chống lún ở Khách sạn La Thành đã có kết quả tốt, áp dụng
thành công công nghệ mới để sản xuất xi măng mác cao, xi măng bền sulfat,
gạch chịu lửa, chịu axít.
1.3. Giai đoạn 5 năm 1981 - 1985
Giai đoạn 1981-1985 là giai đoạn có nhiều khó khăn trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Song, dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V, các Nghị quyết
của BCH Trung ương Đảng và Chính phủ, ngành Xây dựng đã xác định rõ
nhiệm vụ và những mục tiêu kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước giao cho. Đã
tập trung giải quyết nhiều nhiệm vụ quan trọng và hoàn thành thắng lợi các mục
tiêu cơ bản của kế hoạch 5 năm 1981- 1985: góp phần tăng cường tiềm lực cho
nền kinh tế cả nước. Vai trò chỉ đạo của các lực lượng quốc doanh trên các lĩnh
vực xây lắp, sản xuất VLXD, quản lí phát triển nhà, quản lí đô thị ngày càng rõ
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nét hơn.
Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp, dân dụng đã tập trung cao độ phấn đấu
hoàn thành các công trình trọng điểm như: 2 tổ máy nhiệt điện Phả Lại; mở rộng

thoát ra khỏi lối làm ăn theo cơ chế bao cấp trong sản xuất kinh doanh và coi
trọng hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường.
Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp, dân dụng bước đầu thực hiện theo
phương thức đấu thầu, mặc dù đang còn sơ khai. Tuy vậy đã có tác dụng tích
cực thúc đẩy các đơn vị chú ý sắp xếp lại lực lượng lao động, tăng cường đầu
tư cơ sở vật chất kĩ thuật, máy móc thi công để nâng cao chất lượng công
trình và hiệu quả xây lắp. Trong giai đoạn này, tổng giá trị tài sản cố định đã
tăng thêm 2.760 tỉ đồng theo giá năm 1990. Nhiều công trình quan trọng đã
hoàn thành như tổ máy số 3; 4 của Nhà máy nhiệt điện Phả Lại; 4 tổ máy của
Thuỷ điện Trị An; 2 tổ máy Thuỷ điện Hoà Bình; 3 tổ máy Thuỷ điện Trây
Linh; Nhà máy kính Đáp Cầu, dây chuyền Xi măng Kiến Lương, Nhà máy
giấy Tân Mai, các công trình phục vụ khai thác dầu khí... đã góp phần làm
tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế quốc dân. Tốc độ tăng giá trị xây lắp
bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 3,7 lần: Năm 1987 tăng 2,52 lần
so với năm 1986, năm 1988 tăng 8 lần so năm 1987, năm 1989 tăng 3,2 lần so
năm 1988, năm 1990 tăng 1,14 lần so năm 1989 mặc dù số lao động giảm từ
518 ngàn người năm 1986 xuống 443 ngàn người năm 1990.
Trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất VLXD, các đơn vị quốc doanh trung
ương và địa phương đã tập trung đầu tư cơ sở sản xuất với dây chuyền công
nghệ tiên tiến tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao. sản lượng lớn, thể
hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Các sản phẩm thông thường,
các cơ sở sản xuất nhỏ do các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đảm
nhận, đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường, khắc phục
được tình trạng khan hiếm VLXD. Một vấn đề quan trọng là đã tạo được
không khí cạnh tranh tích cực sản xuất giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy
việc sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm, chất lượng tốt hơn, giá thành ngày
càng hợp lí hơn. Nhờ chủ trương đúng đắn trên, tốc dộ tăng trưởng ngành vật
liệu xây dựng gấp 2-3 lần so với 5 năm 1981 - 1985.
Trong lĩnh vực quản lí đô thị, xây dựng nhà ở và hạ tầng, thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, ngành Xây dựng đã có những đổi mới trong

tiến độ và chất lượng.
Trong lĩnh vực sản xuất VLXD: Tiếp tục triển khai công cuộc đổi mới,
ngành VLXD đã chuyển từ việc sản xuất và phát triển theo kế hoạch định
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hướng, sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà
nước. Bộ Xây dựng đã chủ trương tập trung nguồn lực để phát triển sản xuất,
đổi mới công nghệ những mặt hàng quan trọng như xi măng, kính xây dựng,
sứ vệ sinh, gạch ốp lát và các mặt hàng có tầm chi phối thị trường. Những sản
phẩm thông thường, mang tính truyền thống địa phương, kỹ thuật ít phức tạp
thì khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư nhằm sản xuất nhiều
sản phẩm đáp ứng nhu cầu xây dựng. Nhờ chủ trương đúng đắn trên, việc đầu
tư về VLXD đã phát triển trong toàn ngành ở các địa phương, ở một số ngành
trung ương và các thành phần kinh tế. Các cơ sở xi măng lò đứng, các cơ sở
gạch xây nung bằng lò tuy-nen, một số cơ sở khai thác và chế biến đá ốp lát
cao cấp, một số nhà máy gạch ceramic, sứ vệ sinh được hình thành trong giai
đoạn này đã góp phần đáng kể trong việc cân đối cung cầu VLXD cho xã hội.
Chất lượng, mẫu mã sản phẩm mới đã được nâng lên ngang với tiêu chuẩn
các nước trong khu vực, được người tiêu dùng chấp nhận, đẩy lui dần việc
nhập khẩu. Kết quả 5 năm 1991-1995, sản lượng các loại VLXD đều tăng gần
2 lần so với 5 năm trước. Tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị tổng sản
lượng của ngành VLXD đạt 17,9%.
Trong lĩnh vực đô thị và nông thôn: Nhận thức đúng đắn vai trò của đô thị,
nông thôn trong thời kì đổi mới, vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội, vừa
là hạt nhân thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ngành
Xây dựng đã tạo được bước chuyến biến quan trọng về quan điểm, về nhận
thức đối với các cấp các ngành trong việc đổi mới nội dung quản lí xây dựng
và phát triển đô thị nông thôn.
Bộ Xây dựng đã phối hợp với các ngành liên quan đề xuất với Chính phủ
ban hành các văn bản pháp quy: các cơ chế chính sách mới về xây dựng đô

giai đoạn 5 năm 1996-2000 của ngành công nghiệp VLXD đạt khoảng 16,9%,
cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung của công nghiệp trong cả nước
khoảng 13%. Giai đoạn này, riêng lĩnh vực xi măng đã được đầu tư khoảng
16.900 tỉ đồng cho các dây chuyền xi măng lò quay và 1.740 tỉ đồng để hoàn
thành chương trình 3 triệu tấn xi măng lò đứng. Năng lực sản xuất xi măng,
từ 6,8 triệu tấn năm 1996 lên 15,53 triệu tấn năm 2000. Năm 1996 - 1998
phải nhập 2,74 triệu tấn xi măng và 2,27 triệu tấn clinker, tốn 198 triệu USD,
đến năm 1999 đã cân đối được nhu cầu và sản xuất trong nước. Lĩnh vực sản
xuất gạch ốp lát ceramic và granite trong ngành Xây dựng có tốc độ phát triển
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cao nhất. Cuối năm 1995 có 2 nhà máy với công suất là 2,1 triệu m2, đến năm
2000 tổng công suất đã đạt gần 48,2 triệu m2, tăng gấp khoảng 23 lần. Kính
xây dựng tăng 3,5 lần. Năng lực sản xuất sứ vệ sinh đến nay đã đạt 2 triệu sản
phẩm/năm, tăng 5,4 lần so với năm 1996. Đặc biệt là chất lượng sản phẩm
VLXD đã tương đương các sản phẩm của khu vực. Một số sản phẩm có thể
thay thế, cạnh tranh với hàng ngoại nhập, bước đầu được xuất khẩu sang các
nước trong khu vực, các nước Châu Âu và Trung Đông.
Trong lĩnh vực xây dựng, việc đổi mới cơ chế quản lí đầu tư và xây dựng
theo hướng phân định rõ quản lí nhà nước và quản lí sản xuất kinh doanh,
giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng tính chủ động sáng tạo của
các thành phần kinh tế trong xây dựng, cạnh tranh để thúc đẩy phát triển và
đổi mới công nghệ. Yếu tố này đã thúc đẩy việc hình thành thị trường xây
dựng có quản lí của nhà nước, khơi dậy tiềm năng của ngành.
Lĩnh vực xây lắp có tốc độ tăng trưởng bình quân 11%/năm. Bộ Xây dựng
có 14 tổng công ty và nhiều công ty trực thuộc. Thời kì này các công trình lớn
về hạ tầng, công nghiệp, dân dụng đã được tập trung xây dựng với tốc độ thi
công nhanh gấp 2-3 lần so với thời kì 1991 - 1995. Các công trình điện lớn
như Yaly, Sông Hinh, Phú Mỹ, Phả Lại 2; các công trình xi măng như Bút

Lĩnh vực phát triển nhà, đã căn bản chấm dứt chế độ bao cấp về nhà ở,
giải quyết chế độ chính sách hỗ trợ về nhà ở cho người có công với cách
mạng, các cán bộ lão thành, quy định về giao dịch dân sự trong lĩnh vực nhà
ở phù hợp với Luật Dân sự, xây đựng chính sách đầu tư phát triển nhà cho
người có thu nhập thấp, đẩy mạnh cơ chế phát triển nhà ở theo dự án nhằm
huy động mọi nguồn lực vào phát triển nhà và hạn chế việc xây dựng tự phát,
lấn chiếm đất công, chương trình xoá nhà ổ chuột trên kênh rạch thành phố
Hồ Chí Minh, chương trình phát triển nhà ở nông thôn đồng bằng sông Cửu
Long đang được tập trung chỉ đạo và đạt nhiều kết quả. Trong 5 năm 1996 -
2000, thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng mới và sửa chữa 13,6 triệu m2,
Hà Nội xây dựng mới khoảng 1,65 triệu m
2
nhà.
2. ĐÁNH GIÁ CHUNG
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.1. Về công tác quản lý nhà nước
Từ khi chuyển sang thời kì đổi mới đến nay, Bộ và toàn ngành Xây dựng
đã nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, tạo được chuyển biến
tích cực, đúng hướng và toàn diện trong quản lí nhà nước, chỉ đạo điều hành
và thực hiện phát triển sản xuất kinh doanh.
Bộ đã phân định rõ chức năng quản lí nhà nước và quản lí sản xuất kinh
doanh, mạnh dạn trao quyền tự chủ cho các đơn vị kinh tế cơ sở, hướng dẫn
và thúc đẩy các sở xây dựng thực hiện chức năng quản lí nhà nước đối với
ngành tại các tỉnh, thành phố. Tiến hành các đợt kiện toàn bộ máy cơ quan
Bộ, xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quy chế tổ chức cho phù hợp với quy chế
mới. Đồng thời kiện toàn và sắp xếp lại hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh
trong ngành, bằng cách sáp nhập, nâng cấp chuyển hoá mở rộng quyền hạn và
tinh giản bộ máy quản lí tại các đơn vị cơ sở. Tạo môi trường lành mạnh cho
sản xuất và kinh doanh phát triển. Để góp phần đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ

đã phát triển và trưởng thành; có khả năng giải quyết nhiều vấn đề kĩ thuật
phức tạp trong xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng quy mô lớn ở
Việt Nam như xử lí nền móng, castơ, xử lí chống lún, chống dội; xây dựng và
lắp ráp nhà máy lớn không có chuyên gia kĩ thuật nước ngoài như Xi măng
Hà Tiên, Xi măng Hoàng Thạch, Xi măng Bút Sơn...; làm chủ được nhiều
công nghệ hiện đại trong công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như kĩ thuật
sản xuất xi măng theo phương pháp khô, kĩ thuật sản xuất sứ vệ sinh, gạch lát
ceramic, kính xây dựng, công nghê thông tin trong điều hành sản xuất, điều
hành quản lí...
2.3. Về công tác đào tạo cán bộ
Hết sức được coi trọng, đã bổ sung nhanh cả về số lượng và chất lượng, là
nhân tố và động lực quan trọng trong quá trình phát triển của ngành. Bắt đầu
từ một trường và một lớp nhỏ đào tạo cán bộ kỹ thuật, kiến trúc sư vào cuối
thập kỷ 50, đến nay toàn ngành đã có một hệ thống, một mạng lưới đào tạo
ngành nghề tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh, bao gồm các trường đào tạo
kiến trúc sư, kỹ sư, cán bộ quản lí, cán bộ kĩ thuật trên đại học, các trường kỹ
thuật nghiệp vụ, trường đào tạo công nhân kỹ thuật ở trung ương và địa
phương. Cùng với việc đào tạo trong nước, nhiều cán bộ, công nhân được cử
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đi học tập ở nước ngoài đặc biệt là đối với các cán bộ quản lí cán bộ cao cấp
kĩ thuật, quản lí và các công nhân thuộc ngành nghề mới, kĩ thuật phức tạp.
Chất lượng cán bộ kỹ thuật ngày càng được nâng cao, đáp ứng các yêu cầu
về trình độ quản lí, trình độ kỹ thuật chuyên môn, chính trị và ngoại ngữ....
Chất lượng đội ngũ công nhân kĩ thuật cũng được đổi mới, từ tác phong công
nghiệp đến cơ cấu ngành nghề. Hầu hết các công trình xây dựng quy mô lớn,
các sản phẩm vật liệu xây dựng kĩ thuật cao... do trong nước hoặc nước ngoài
đầu tư đều do bàn tay của người công nhân ngành Xây dựng thực hiện và làm
chủ được ngành nghề.
2.4. Về công tác thi đua

quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành, ngành Xây dựng luôn được sự
chỉ đạo của Chính phủ; sự đóng góp tích cực của các ngành ở trung ương,
chính quyền và các cấp uỷ Đảng ở địa phương, các đoàn thể quần chúng; sự
giúp đỡ có hiệu quả của Liên Xô trước đây, Trung Quốc cùng các nước, các
tổ chức quốc tế. Điều đó góp phần đưa ngành Xây dựng phát triển mạnh mẽ
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kế
hoạch 5 năm 2006 - 2010, vững vàng tiến vào thiên niên kỷ mới xây dựng
Đất nước.
Chương II: Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ của Công ty Xây dựng Lũng Lô (Lung Lo construction company –
LCC)
Tên công ty: Công ty Xây dựng Lũng Lô
Tên giao dịch nước ngoài: LUNGLO Construction Company
Tên viết tắt: LCC
Giám đốc: Nguyễn Văn Hùng
*)Địa chỉ trụ sở chính: 162 Trường Chinh - Quận Đống Đa - Hà Nội
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website:
Điện thoại:(84-4) 3.5633.582 / 3.5633.682 / 3.5635.708
Fax: (84-4) 3.5633.582
Mã số thuế: 01.00779189 – 1
*) Chi nhánh miền Nam:
Địa chỉ: 24 đường 3/2, Quận 10, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: (84-8) 38625978 (0903.942.761)
Fax: (84-8) 38622083
1. SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY XÂY
DỰNG LŨNG LÔ
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
- Công ty xây dựng Lũng Lô là doanh nghiệp Nhà nước được thành lập

viên hạch toán phụ thuộc, thực hiện cơ chế điều hành tập trung quản lý
chặt chẽ bên cạnh đó có phân cấp và ủy quyền cho các đơn vị cấp dưới
thực hiện tổ chức sản xuất và tự chủ, tự chịu trách nhiệm nên các đơn vị
Xí nghiệp thành viên đã từng bước ổn định và phát triển như hiện nay.
- Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm giúp đỡ của Thường vụ, Đảng ủy
và Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Công binh, biên chế tổ chức của Công ty đã
dần được củng cố ổn định, từng bước phát huy hiệu quả trong công tác
điều hành từ trên xuống dưới đơn vị cơ sở. Công tác đầu tư đã đựoc quan
tâm chú trọng đến giải pháp công nghệ chuyên nghành sâu, thiết bị hiện
đại có năng suất lao động cao hơn, đáp ứng cho nhiều dự án lớn có tình
chất phức tạp về kĩ thật và yêu cầu tiến đọ gập. Công tác đào tạo đội ngũ
cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn kĩ thuật và công nhân có tay nghề cao
đã được chú trọng trong nhiều năm qua. Đến nay, lực lượng này đã phát
triển về số lượng và chất lượng tốt đáp ứng được nhiệm vủ sản suất kinh
doanh trong điều kiện cạnh tranh, hội nhập và phát triển trong tương lai.
- Trước tình hình và nhiệm vụ mới của Quân đội, năm 2002, Bộ trưởng Bộ
Quốc Phòng đã ra quyết định số 77/QĐBQP ngày 11/06/2002 về việc
thành lập lữ đoàn công binh công trình dự bị động viên 253 trên cơ sở
khung dự bị động viên của Công ty Xây dựng Lũng Lô nhăm nâng cao
năng lực thực hiện nhiệm vụ dự bị động viên trong thời bình của cán bộ
chiến sĩ công ty xây dựng Lũng Lô cũng như gắn công tác huấn luyện sự
bị động viên tại địa phương nơi tuyển quân, các năm qua, lữ đoàn đã huấn
được 02 đợt quân dự bị với tổng quân số huấn luyện trên 600 lượt cán bộ
SVTH: Lưu Vũ Tâm _ Lớp Toán Kinh tế 47 18

Trích đoạn PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ KINH DOANH NĂM 2009 1 Mục tiêu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status