TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH DẢI VEN BIỂN
HÀ TIÊN – KIÊN LƢƠNG, TỈNH KIÊN GIANG Chuyên ngành: Du lịch
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Cao Mỹ Khanh
1
Mục lục
DANH M VIT TT 4
DANH MNG BIU 5
M U 6
1. 6
2. Mm v u 7
3. u 8
4. Lch s u v 8
5. Pu 11
6. c tin c 12
7. C 13
C TIN V N DU LCH BIN 14
1.1. Tng quan v du lch bin 14
1.1m du lch bin 14
i du lch bin 15
m ca du lch bin 16
a du lch bin 18
n du lch bin 19
1.2. Du lch di ven bin 21
1.2.1 Quan nim v di ven bich di ven bin 21
m du lch di ven bin 23
n du lch di ven bi
83
ng 83
m mm yn du lch di ven
bi 84
n du lch di ven bi 87
ch 87
ch 90
n th ng du lch 95
3.3. Gin du lch di ven bi 96
n sn phm du lch 96
t trin kt cu h t vt cht k thut 98
n nguc du lch 99
3
3.3.4. Bo v ng du lch 100
n qut h 101
n du lch cng 102
KT LUN 104
1. Kt lun 104
xut 105
i vi S ch t 105
i v
quan qu du lm du lch 106
U THAM KHO 108
PHN PH LC 111 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 2.4: Số lƣợng cơ sở lƣu trú ở Hà Tiên giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 2.5: Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 2.6: Tổng lƣợt khách tham quan giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 2.7: Đánh giá của du khách về các dịch vụ du lịch
Bảng 2.8: Doanh thu du lịch giai đoạn 2009 – 2013
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch biển ngày nay đã trở thành một định hƣớng chiến lƣợc phát triển của
ngành du lịchcủa nhiều quốc gia ven biển, dựa trên cơ sở khai thác các nguồn tài
nguyên biển, đảo nhƣ các bãi biển, phong cảnh đẹp và nhiều nguồn tài nguyên khác.
Du lịch biển là loại hình du lịch quan trọng chiếm tới 70% lƣợng khách du lịch trên
thế giới và là nguồn thu nhập chiếm tỉ trọng cao ở nhiều quốc gia.
Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch biển đảo. Với đƣờng bờ biển
dài 3.260km và hàng ngàn đảo lớn nhỏ là những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển
Việt Nam phát triển. Dọc bờ biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi tắm lớn nhỏ trong
đó có nhiều bãi biển đƣợc xếp hạng trên thế giới thuận lợi cho việc khai thác phát
triển du lịch. Ngoài ra, ở dải ven biển còn có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn có
giá trị phục vụ cho du lịch. Các tài nguyên du lịch biển này đang đƣợc khai thác,
phục vụ phát triển du lịch, thu hút lƣợng khách đông đảo đến khu vực các tỉnh ven
biển Việt Nam. Chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt xem các giải pháp phát triển sản
phẩm du lịch là giải pháp quan trọng hàng đầu, trong đó hƣớng ƣu tiên lớn nhất là
tập trung phát triển dòng sẩn phẩm du lịch biển, đảo. Với các thế mạnh nổi trội về
tiềm năng du lịch biển, các sản phẩm du lịch biển đảo trong tƣơng lai sẽ mang đến
cơ hội cạnh tranh, thu hút khách du lịch quốc tế đến với du lịch Việt Nam.
27] tâ
́
t ca
̉
đa
̃
ta
̣
o nên một vùng đất xinh đe
̣
p , yên bình, có sức thu hút , hâ
́
p dâ
̃
n du
khách gần xa.
Khu vực Hà Tiên và Kiên Lƣơng trƣớc đây vốn thuộc huyện Hà Tiên, nhƣng
do sự điều chỉnh về địa giới hành chính qua từng thời kỳ nên hiện nay đƣợc tách ra
thành hai địa bàn riêng biệt, dù vậy hai khu vực này vẫn có sự liên kết với nhau về
các tuyến điểm du lịch. Trong những năm gần đây, tỉnh ngày càng thu hút nhiều
doanh nghiệp tham gia đầu tƣ phát triển dịch vụ du lịch, các dự án du lịch sinh thái,
nghỉ dƣỡng cao cấp tại các điểm du lịch trong đất liền cũng nhƣ một số đảo ở dải
ven biển Hà Tiên – Kiên Lƣơng. Tuy đạt đƣợc một số thành quả đáng kể nhƣng
nhìn chung hoạt động phát triển du lịch vẫn còn không ít hạn chế, khó khăn. Bên
cạnh đó, xét một cách tổng thể, do sự quản lý riêng của từng khu vực, nên nhìn
chung sự liên kết du lịch của Hà Tiên và Kiên Lƣơng vẫn còn khá rời rạc, chƣa
phát huy đƣợc tiềm năng du lịch và chƣa đạt hiệu quả cao.
Đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch dải ven biển Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh
Kiên Giang”nhằmđánh giá những tiềm năng, thực trạng phát triển của dải ven biển
và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch của địa bàn này. Góp phần
quần đảo Bà Lụa
Phạm vi thời gian: đề tài nghiên cứu hiện trạng phát triển du lịch trong những
năm gần đây. Các số liệu liên quan đến tình hình hoạt động du lịch đƣợc cập nhật
cụ thể từ năm 2009 đến 2013. Các định hƣớng, giải pháp và kiến nghị trong đề tài
có ý nghĩa đến năm 2020.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch biển là một lĩnh vực đã đƣợc quan tâm nghiên cứu từ khá sớm.Trên
thế giới những vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn về du lịch biển đƣợc xem
xét ở nhiều khía cạnh.Trong số các công trình liên quan về du lịch biển, có thể kể
đến 3 công trình sau:
+ Du lịch biển và ven biển (Coastal and Marine Tourism), M.Wilson-Molina,
1991
9
Marine Tourism: Development, Impacts and Management, Mark Orams,
1999.
Global Trends in Coastal Tourism, Martha Honey and David Krantz, 2007
Các công trình kể trênnghiên cứu về du lịch biển và ven biển với nhiều khía
cạnh khác nhau. Nếu công trình của M.Wilson và Mark Orams đề cập đến những
vấn đề về quan niệm, phân loại hay sự phát triển của loại hình du lịch biển vào
những năm 90 của thế kỷ XX thì đến năm 2007 Martha Honey and David Krantzlại
nhấn mạnh đến xu hƣớng phát triển của loại hình này, trong đó đặc biệt chú ý đến
yếu tố đảm bảo tính bền vững của môi trƣờng sinh thái biển.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về du lịch đƣợc quan tâm từ thập niên
90 của thế kỷ XX trở lại đây cùng với sự khởi sắc của du lịch nƣớc ta. Tuy nhiên các
công trình nghiên cứu về du lịch biển và ven biển về mặt lý luận chƣa đƣợc đề
cậpnhiều. Dù vậy, một số vấn đề liên quan nhƣ về quy hoạch vùng ven biển, phát
triển du lịch bền vững ở vùng ven biển đã đƣợc nhắc đến trong một số công trình:
+ Quy hoạch du lịch của Đào Đình Bắc (dịch), 2000
+ Du lịch bền vững của Nguyễn Đình Hòe - Vũ Văn Hiếu, 2001
+ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt
Nam thuộc vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020.
+ Hội thảo quốc tế về Liên kết phát triển du lịch biển, đảo và sông vùng
ĐBSCL năm 2010 khẳng định vai trò của du lịch biển đảo ở khu vực này.
Đối với tỉnh Kiên Giang, bên cạnh những công trình đƣợc xuất bản, Nhà nƣớc
đã phê duyệt rất nhiều dự án cho phát triển du lịch, kinh tế - xã hội cho tỉnh Kiên
Giang nói chung và cụm Hà Tiên – Kiên Lƣơng nói riêng nói chung. Một số công
trìnhcó ý nghĩa thiết thực đối với định hƣớng phát triển du lịch trên địa bàn:
+ Nghiên cứu Hà Tiên củaTrƣơng Minh Đạt, 2001.
+ Hƣớng dẫn phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Kiên Giang và cụ thể cho
khu vực Hà Tiên – Đông Hồ của Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang,
2013.
+ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Kiên Lƣơng đến năm
2020
+ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Kiên Giang đến năm 2020 và định
hƣớng đến năm 2030
+ Quy hoạch chi tiết Khu du lịch Chùa Hang-Hòn Chông và Mũi Nai (1997)
11
Nhìn chung các công trình trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về lý
luận và thực tiễn du lịch biển, ven biển. Những công trình nghiên cứu về Kiên
Giang, Hà Tiên hầu hết chỉ khai thác ở khía cạnh tiềm năng về du lịch, các quy
hoạch mang tính tổng quan chung, chƣa đề cập đến việc quy hoạch và liên kết phát
triển du lịch của dải ven biển Hà Tiên – Kiên Lƣơng. Chính vì vậy, việc triển khai
đề tài nghiên cứu phát triển du lịch trên địa bàn dải ven biển Hà Tiên – Kiên Lƣơng
là cần thiết, khách quan nhằm đẩy mạnh khai thác các điều kiện, tiềm năng và liên
kết du lịch của nơi đây góp phần cho sự phát triển ngày một hiệu quả hơn trong sự
phát triển chung của tỉnh Kiên Giang, của khu vực ĐBSCL và cho cả nƣớc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp thu thập và xử lý thông tin, tƣ liệu
Phát phiếu điều tra bằng bảng hỏi cho khách tại một số điểm du lịch chính trên địa
bàn để tìm hiểu mức độ hài lòng, mức độ hấp dẫn cũng nhƣ đánh giá đối với các sản
phẩm, dịch vu
̣
du lịch ven biển.
40 phiếu dành cho đối tƣợng là cán bộ, nhân viên của các cơ quan quản lý du
lịch của tỉnh, thị xã; các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh có khai thác chƣơng
trình du lịch trên địa bàn Hà Tiên – Kiên Lƣơng.
5.5. Phƣơng pháp thống kê
Đây là phƣơng pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu mặt lƣợng
trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiện tƣợng và quá trình, đối chiếu
biến động, phát triển trong hoạt động du lịch.
Phƣơng pháp thống kê đƣợc vận dụng trong đề tài này để thống kê các điểm
du lịch, cơ sở hạ tầng phục vụ trong du lịch trên địa bàn nghiên cứu, thống kê lƣợng
khách, doanh thu du lịch. Từ đó có những phân tích, đánh giá nhằm đƣa ra bức
tranh chung về hiện trạng phát triển cũng nhƣ có cơ sở để xây dựng định hƣớng và
giải pháp cho du lịch trên địa bàn này.
5.6. Phƣơng pháp phân tích SWOT
Phân tích SWOT là công cụ hiệu quả để xác định các ƣu điểm, khuyết điểm
của hoạt động du lịch ở dải ven biển Hà Tiên – Kiên Lƣơng trên cơ sở nội tại và
khách quan, giúp tập trung vào ƣu điểm, giảm thiểu các khuyết điểm và đạt đƣợc
những lợi thế lớn nhất có thể với các cơ hội tiềm năng. Phƣơng pháp này còn giúp
tác giả nhận thấy đƣợc cơ hội và thách thức hiện có của hoạt động du lịch trên địa
bàn nghiên cứu để từ đó xác lập những định hƣớng phát triển lâu dài trong tƣơng
lai, tạo nên sức cạnh tranh đối với những khu vực lân cận.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
13
+ Đề tài Nghiên cứu phát triển du lịch dải ven biển Hà Tiên – Kiên Lƣơng đã
14
1.1.Tổng quan về du lịch biển
1.1.1.Khái niệm du lịch biển
Du lịch ngày nay đã trở thành nhu cầu cần thiết và phổ biến của mọi ngƣời. Có
rất nhiều khái niệm đƣợc nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Theo Luật du lịch Việt
Nam, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi
cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghĩ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [10, tr.4]. Đây là một khái niệm
phổ biến và đƣợc sử dụng hầu hết tại Việt Nam.
Du lịch biển là một trong những loại hình của du lịch, có nhiều quan niệm
khác nhau tùy theo tính chất, đặc điểm địa lý hoặc mục đích của du khách. Theo
Trần Văn Thông, du lịch miền biển là loại hình du lịch mà mục đích chủ yếu của du
khách là tắm biển, tắm nắng và tham gia các loại hình thể thao nhƣ lƣớt ván trên
sóng biển, lặn biển và bóng chuyền trên bãi biển [21, tr.37]. Theo một cách hiểu
khác, Trầm Công Khanh cho rằng du lịch biển là loại hình du lịch đƣợc tiến hành
nhằm tận dụng các hệ sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên của vùng biển là
chủ yếu kết hợp với các tài nguyên nhân văn có liên quan, thông qua các dịch vụ du
lịch tạo ra các sản phẩm du lịch biển, đảo đa dạng để thỏa mãn nhu cầu du lịch cho
du khách [11, tr.23].
Từ những quan niệm trên, kết hợp với đặc điểm của loại hình du lịch biển và
để phù hợp với các vấn đề trong đề tài đề cập đến,do vậy có thể hiểu du lịch biển là
loại hình du lịch đƣợc tổ chức phát triển ở vùng địa lý đặc thù là vùng ven biển và
hải đảo trên cơ sở khai thác các đặc điểm tiềm năng tài nguyên, môi trƣờng du lịch
biển, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động nghỉ dƣỡng, khám phá, tắm biển, thể
thao biển…. Loại hình du lịch này có tính mùa rất rõ nên nó thƣờng đƣợc tổ chức
vào mùa nóng hoặc mùa hè với nhiệt độ nƣớc biển và không khí trên 20
o
C. Nếu bờ
Du lịch tìm hiểu lối sống cộng đồng
Du lịch lễ hội biển
Du lịch tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật
Du lịch theo nghĩa vụ, trách nhiệm
Du lịch chữa bệnh
Du lịch thƣơng mại, công vụ
Du lịch hội nghị, hội thảo, hội chợ
16
Trong nhóm đi du lịch vì ý thích có hai loại: đi du lịch vì những sở thích chung
và đi du lịch vì những sở thích đặc biệt. Thị trƣờng khách đi du lịch có những sở
thích chung thƣờng là những thị trƣờng chính, khách đi du lịch và sở thích đặc biệt
là thị trƣờng nhỏ, đặc biệt và có sự kết hợp. Trong các loại hình du lịch biển, nổi bật
và phổ biến nhất vẫn là nghỉ dƣỡng và tắm biển.
Theo Trầm Công Khanh, dựa trên đặc điểm khai thác du lịch biển có thể phát
triển các loại hình sau [11, tr.30]
+ Du lịch tắm biển
+ Du lịch nghỉ dƣỡng biển
+ Du lịch sinh thái biển, đảo
+ Du lịch thể thao biển
+ Du lịch khám phá đảo hoang
+ Du lịch giải trí và mua sắm
+ Du lịch hội nghi, tổ chức sự kiện, triển lãm hoặc kết hợp MICE ( Meetings,
Incentives, Conventions and Exhibitions)
Dựa vào tài nguyên du lịch có thể phân chia thành một số loại hình:
+ Du lịch hang động
+ Du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn biển đảo
+ Du lịch tham quan đảo
+ Du lịch lễ hội biển
+ Du lịch khoa học biển
làm tăng nguy cơ xói lở đƣờng bờ, làm thay đổi hệ sinh thái biển – đảo vốn rất nhạy
cảm.
Phát triển du lịch biển giúp nâng cao đời sống, cải thiện thu nhập và phúc lợi
cho cộng đồng dân cƣ ven biển. Ngoài đội ngũ lao động chuyên nghiệp việc phát
triển du lịch biển còn góp phần giải quyết việc làm cho dân cƣ địa phƣơng.
Khai thác tài nguyên du lịch biển phải quan tâm nhiều đến quan điểm phát
triển bền vững. Chú ý đến sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng và công tác bảo
tồn, tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng.
Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch biển trùng nhau về
không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho nhƣ các hàng hóa thông
thƣờng khác. Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch biển thƣờng không diễn ra đều đặn,
nó bị tác động bởi nhiều yếu tố nên chỉ tập trung vào những khoảng thời gian nhất
định. Vì vật hoạt động du lịch biển thƣờng mang tính mùa vụ.
18
1.1.4.Vai trò của du lịch biển
Du lịch biển là loại hình đang đƣơc đầu tƣ, khai thác và phát triển mạnh đối
với các quốc gia có lợi thế về biển, đặc biệt là sự phong phú, hấp dẫn và đa dạng của
tài nguyên du lịch biển. Với vùng biển ấm, nằm ở khu vực nhiệt đới, du lịch biển là
một trong những thế mạnh của các nƣớc Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Việc
phát triển du lịch biển đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực thể hiện trên các mặt
sau:
Hoạt động du lịch biển luôn chiếm tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng cho sự
phát triển chung của toàn ngành du lịch và kinh tế xã hội của vùng biển nói chung ở
các quốc gia có lợi thế về biển. Du lịch biển đƣợc xem là loại hình chủ đạo, đóng vai
trò mũi nhọn trong phát triển ngành du lịch ở các quốc gia này, và cũng là động lực
thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác. Du lịch biển đƣợc xem là giải pháp để
vực dậy và phát triển kinh tế ở các quốc gia ven biển hiện nay.
Du lịch biển là động lực thúc đẩy kinh tế biển của địa phƣơng phát triển. Du
lịch biển có vai trò đẩy mạnh hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy hải
Các nguồn tài nguyên sinh vật biển bị khai thác quá mức và khai thác cả những loài
sinh vậy quý hiếm cần đƣợc bảo vệ. Những ảnh hƣởng mang lại là làm mất đi cân
bằng sinh thái vốn có và khó hồi phục đƣợc.
Hoạt động du lịch phát triển làm tăng các tệ nạn xã hội, một số giá trị văn hóa
có thể bị biến đổi cho thƣơng mại hóa. Ngoài ra còn tạo sự cách biệt về kinh tế, sự
thay đổi trong nếp sống truyền thống của cộng đồng.
1.1.5 Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch biển
1.1.5.1.Điều kiện tự nhiên
Bao gồm các yếu tố về địa hình, vị trí địa lý, khí hậu, nhiệt độ nƣớc
biển…
Những nơi có khí hậu ôn hòa thƣờng đƣợc du khách ƣa thích,
du khách thƣờng tránh những nơi quá nóng hoặc quá lạnh, quá ẩm hoặc quá khô.
Nhiệt độ nƣớc biển từ 20
o
C – 25
o
C đƣợc coi là nhiệt độ thích hợp nhất cho hoạt động
tắm biển. Bên cạnh đó những thuận lợi về khả năng tiếp cận các điểm du lịch biển
cũng tạo điều kiện phát triển loại hình du lịch này.
1.1.5.2 . Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng để có thể tiếp cận khai thác các tiềm
năng tài nguyên du lịch và tổ chức các dịch vụ du lịch, là yếu tố đảm bảo điều kiện
chung cho phát triển du lịch.
20
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đƣợc hiểu là toàn bộ các phƣơng tiện vật chất
kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác tiềm năng, tạo ra các sản phẩm
du lịch, hàng hóa cung cấp và thỏa mãn nhu cầu của du khách. Bao gồm hệ thống
nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí, phƣơng tiện vận chuyển…
Tuy nhiên, đối với phát triển du lịch biển, việc đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng
dịch bệnh cũng gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến phát triển du lịch.
1.1.5.6 . Cộng đồng dân cư
Cộng đồng dân cƣ có vai trò lớn trong bảo tồn tài nguyên môi trƣờng và văn
hóa địa phƣơng đảm bảo việc khai thác có hiệu quả các giá trị tài nguyên du lịch
biển phục vụ các mục tiêu phát triển lâu dài. Hoạt động khai thác du lịch song song
với việc mang lại lợi ích cho cộng đồng, đặt vào sự phát triển chung sẽ góp phần tạo
động lực cho cộng đồng tham gia tích cực và hiệu quả.
1.2.Du lịch dải ven biển
1.2.1 Quan niệm về dải ven biển và du lịch dải ven biển
1.2.1.1.Quan niệm về dải ven biển
Theo Ngô Doãn Vịnh, dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải
ven bờ, hoặc dải bờ biển…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có
đặc trƣng riêng về nguồn gốc phát sinh, về hình thái, về cấu trúc, cơ cấu tài nguyên
và quá trình phát triển tiến hóa. [30, tr. 6]. Mặc dù đƣợc nghiên cứu từ lâu nhƣng
cho đến nay, khái niệm dải ven biển và phạm vi ranh giới dải ven biển vẫn còn là
những vấn đề chƣa thống nhất thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Ngoài ra, tùy theo đặc tính địa hình của các quốc gia mà có nhiều cách gọi khác
nhau, tuy nhiên đƣợc sử dụng thƣờng xuyên nhất là thuật ngữ vùng ven biển và dải
ven biển.
Ở nƣớc ta, khái niệm về dải ven biển cũng đã đƣợc đề cập từ lâu dƣới nhiều
góc độ khác nhau và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Dựa trên cơ sở khoa
học cho phát triển dải ven biển Việt Nam, đề tài thiên về quan niệm dải ven biển
của Nguyễn Chu Hồi,“Dải ven biển là khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, được
đặc trưng bởi các quá trình tương tác giữa lục địa và biển, giữa nước ngọt và nước
mặn và giữa các hệ sinh thái khác nhau trong dải”.[34, tr. 11]
1.2.1.2 . Phạm vi ranh giới dải ven biển
22
Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra rất nhiều phƣơng án về xác
định ranh giới dải ven biển, trong đó phần lớn việc xác định ranh giới dải ven biển