SKKN một số biện pháp huy động trẻ dân tộc thiểu số trong độ tuổi mầm non ra lớp - Pdf 30

MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
Phần thứ nhất - MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 02
2. Mục đích nghiên cứu 03
3. Đối tượng nghiên cứu 03
4. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu 03
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 03
6. Phương pháp nghiên cứu 03
7. Thời gian nghiên cứu 04
Phần thứ hai - NỘI DUNG 04
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài 04
Chương II: Thực trạng của đề tài 06
Chương III: Giải quyết vấn đề 08
1. Làm tốt công tác tuyên truyền tới phụ huynh và cộng đồng để
huy động trẻ Mầm non ra lớp 08
2. Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục
trẻ
10
3. Tổ chức tốt hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về
chuyên môn nghiệp vụ 11
4. Làm tốt công tác xã hội hoá để tu sửa cơ sở vật chất, mua
sắm trang thiết bị 13
Phần thứ ba - KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
14
1. Kết luận 14
2. Khuyến nghị 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:

2
3. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu, điều tra số lượng trẻ trong độ tuổi Mầm non xã Yên Thành để
huy động ra lớp.
4. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu chỉ trong phạm vi hẹp đó là: Nghiên cứu, đề ra một số
biện pháp huy động trẻ trong độ tuổi Mầm non của xã Yên Thành ra lớp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
+ Nghiên cứu thực trạng tình hình dân số, địa lý, kinh tế của xã Yên Thành
và thực trạng việc huy động trẻ độ tuổi Mầm non dân tộc thiểu số ra lớp tại
trường Mầm non Yên Thành trong những năm học trước.
+ Nghiên cứu các biện pháp để đưa vào áp dụng nhằm làm tốt việc huy
động trẻ độ tuổi Mầm non dân tộc thiểu số ra lớp.
6. Phương pháp nghiên cứu.
Điều tra khảo sát số lượng trẻ trong độ tuổi Mầm non của xã.
Thống kê số liệu những năm học trước, phân tích những nguyên nhân dẫn
đến việc huy động trẻ ra lớp thấp.
Tiếp xúc, trao đổi, vận động các tổ chức, ban ngành đoàn thể và tuyên
truyền tới các bậc phụ huynh về việc cần thiết phải đưa trẻ mầm non đến trường.
Tổng kết kinh nghiệm, áp dụng các biện pháp để nâng dần tỷ lệ huy động
trẻ Mầm non ra lớp tại xã Yên Thành.
7. Thời gian nghiên cứu.
Từ tháng 10/2008 đến tháng 10/2009.
Phần thứ hai - NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
* Các luận điểm, các quan điểm khoa học về sự cần thiết phải cho trẻ
trong độ tuổi Mầm non đến trường?
3
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy: Sự tăng
tốc trong quá trình phát triển thể lực của trẻ phụ thuộc vào mối liên quan chặt chẽ

* Các cơ sở chính trị và pháp lý:
Ngay từ Luật Giáo dục năm 1998, chúng ta thấy Đảng và Nhà nước ta đã
thực sự coi trọng Giáo dục Mầm non, coi Giáo dục Mầm non là nền móng then
chốt chất lượng cho các bậc học tiếp theo. Do vậy, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX đã đề ra mục tiêu, chiến lược phát triển Giáo dục Mầm non giai đoạn 2001
- 2020, mục tiêu được đặt ra đến năm 2020 là "Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển
bậc học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi " Đồng thời mục tiêu cụ thể
là phải đảm bảo cho hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn chuẩn
bị vào lớp 1.
Quyết định 161/2002/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính
sách phát triển giáo dục mầm non cũng nêu rõ " Ưu tiên phát triển giáo dục mầm
non ở những nơi có điều kiện khó khăn, các vùng núi cao, vùng đồng bào dân
tộc giảm sự chênh lệch về chất lượng giữa vùng khókhăn và các địa bàn thuận
lợi khác ".
Từ năm học 2004 - 2005 Vụ Giáo dục Mầm non đã chỉ đạo các tỉnh miền
núi thực hiện chương trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ Mầm non dân tộc thiểu
số: " Đối với trẻ người dân tộc thiểu số thì học tiếng Việt không phải là học
tiếng mẹ đẻ, mà là học ngôn ngữ thứ hai. Ngôn ngữ thứ hai là tiếng Việt - ngôn
ngữ quốc gia, ngôn ngữ thứ hai phải được dạy cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non
để tạo sự giao tiếp ban đầu, giúp trẻ có vốn kiến thức vững vàng khi bước vào
trường Tiểu học "
Năm học 2008 - 2009 Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo tỷ lệ huy động chung toàn
quốc đạt 20% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ, 75% trẻ mẫu giáo được đến trường Đặc
biệt Bộ đã chỉ đạo cả nước thực hiện phổ cập một năm mẫu giáo 5 tuổi giai đoạn
2009 - 2015, tạo điều kiện cho trẻ được tiếp cận với giáo dục có chất lượng,
chuẩn bị tốt tiếng Việt cho trẻ em vùng khó khăn, vùng dân tộc trước khi vào học
lớp 1.
5
Kết luận: Từ những luận điểm, các quan điểm khoa học và những cơ sở
chính trị, pháp lý đã nêu ở trên, bản thân là một hiệu trưởng trường Mầm non

100%
2006 - 2007
+ Nhà trẻ: 0
+ Mẫu giáo: 185.
+ Trẻ 5 tuổi: 85.
62,5%
100%
2007 - 2008 + Nhà trẻ: 0
+ Mẫu giáo: 200. 65%
6
+ Trẻ 5 tuổi: 89. 100%
2008 - 2009
+ Nhà trẻ: 12
+ Mẫu giáo: 219.
+ Trẻ 5 tuổi: 90.
4%
71,5%
100%
Kết quả điều tra cho thấy, từ năm học 2004 - 2005 đến năm học 2007 -
2008 chưa huy động được trẻ nhà trẻ ra lớp, năm học 2008 - 2009 tỷ lệ huy
động trẻ nhà trẻ và mẫu giáo ra lớp còn thấp so với mặt bằng chung của
huyện, của tỉnh.
Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ trẻ mầm non ra lớp thấp là do:
- Điều kiện kinh tế và dân trí của đồng bào dân tộc còn nhiều hạn chế, vẫn
còn quá nhiều tập quán hủ tục, lạc hậu. Đa số phụ huynh chưa hiểu hết tầm quan
trọng của việc cho trẻ trong độ tuổi đến trường Mầm non.
- Địa bàn xã quá rộng, dân cư thưa thớt, đường xá đi lại khó khăn, ba phía
Tây, Nam, Bắc của xã là hồ Thác Bà, đa số người dân dựa vào hồ làm nơi cho
nguồn thu nhập chính, rất nhiều gia đình đã sinh sống ngay trên những hòn đảo
của hồ dẫn đến việc đi học của các cháu rất khó khăn và ảnh hưởng rất lớn đến

niên, đại diện hội phụ huynh học sinh ). Xây dựng kế hoạch phối kết hợp chặt
chẽ với các ban ngành đoàn thể để làm tốt công tác tuyên truyền. Tham mưu với
UBND xã đưa tiêu chí "Cho con trong độ tuổi mầm non đến trường" vào để xét
"Gia đình văn hoá".
- Chỉ đạo, phân công mỗi giáo viên phụ trách công tác tuyên truyền một
thôn, từ thôn 1 đến thôn 11:
+ Mỗi giáo viên tự xây dựng kế hoạch tuyên truyền của mình theo 13 bài
tuyên truyền sao cho phù hợp với tình hình thực tế của thôn mình phụ trách.
+ Hàng tháng, giáo viên kết hợp với Trưởng thôn, Hội phụ nữ thôn, Chi
đoàn thanh niên của thôn tổ chức các buổi sinh hoạt để tuyên truyền tới các bậc
cha mẹ có con trong độ tuổi Mầm non về tầm quan trọng của Giáo dục Mầm non
và các bài tuyên truyền. Giúp các bậc cha mẹ hiểu rõ ý nghĩa của việc nuôi dạy
con theo khoa học, có kiến thức để chăm sóc con tốt hơn.
- Xây dựng góc tuyên truyền tại trường chính, chỉ đạo giáo viên trang trí
tạo môi trường tuyên truyền tại các nhóm, lớp.
8
- Viết bài tuyên truyền, phát thanh trên loa của nhà trường vào các giờ đón,
trả trẻ và đài truyền thanh của xã, của các thôn.
- Tuyên truyền thông qua các ngày hội, ngày lễ, các hội thi: đây cũng là
một dịp để tuyên truyền rất tốt, đem lại hiệu quả cao (hàng năm, ngay từ đầu năm
học, tôi đều xây dựng kế hoạch tổ chức các hội thi cho trẻ theo sự chỉ đạo và
hướng dẫn của phòng GD&ĐT)
VD:
+ " Ngày hội đến trường của bé", đây là ngày đầu tiên trẻ đến trường mở
đầu cho một năm học, vì vậy tôi luôn chú ý tổ chức đúng tính chất của một ngày
hội, mang lại cảm giác rộn ràng, vui tươi, hứng khởi, hứng thú đi
học ở trẻ và giúp các bậc phụ huynh tin tưởng gửi con mình tại trường.
+ Hội thi " Bé đọc, kể diễn cảm"; hội thi " Bé khoẻ, bé ngoan" đặc biệt là
hội thi "Tìm hiểu luật giao thông đường bộ" có cả đối tượng là phụ huynh tham
gia nên đã góp phần rất lớn cho công tác tuyên truyền của nhà trường.

để bước vào học lớp lớp 1 tiếp thu kiến thức dễ dàng, thuận lợi hơn.
Chỉ đạo giáo viên tích cực làm đồ dùng, đồ chơi phong phú, phù hợp chủ
đề, chủ điểm để bổ sung cho các góc chơi của trẻ. Khuyến khích giáo viên chủ
động, sáng tạo, linh hoạt trong việc thiết kế các hình thức tổ chức dạy học sinh
động, hấp dẫn, thu hút trẻ. Tích cực chú ý rèn luyện cho các cháu mạnh dạn, tự
tin, thích hoạt động tập thể, thích giao lưu với bạn bè, từ đó các cháu thích được
đi học hơn, tỷ lệ chuyên cần và tỷ lệ bé ngoan tăng cao. Vì vậy, nhiều phụ huynh
đã đến trường để xin cho con đi học.
3. Tổ chức tốt hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về chuyên môn
nghiệp vụ:
Muốn tuyên truyền, vận động phụ huynh đưa trẻ ra lớp thì điều quan trọng
là phải nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ mà muốn nâng cao chất
lượng chăm sóc - giáo dục trẻ thì phải quan tâm đến bồi dưỡng nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên về tư tưởng chính trị, về đạo đức sư phạm và năng lực
chuyên môn, phải có một đội ngũ giáo viên vừa "Hồng" vừa "Chuyên" thì mới
10
đáp ứng được yêu cầu về đổi mới giáo dục hiện nay. Chính vì vậy tôi đã xây dựng
kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ như sau:
*Bồi dưỡng chuyên môn hè:
Hàng năm, sau khi tập huấn bồi dưỡng chuyên môn hè từ phòng GD&ĐT
về, tôi đều triển khai nghiêm túc công tác bồi dưỡng đến 100% giáo viên trong
trường, có bồi dưỡng thêm những nội dung mà nhiều giáo viên còn vướng mắc.
Xây dựng các tiết dạy minh hoạ để giáo viên rút kinh nghiệm, thống nhất phương
pháp dạy học.
* Bồi dưỡng chuyên môn qua các buổi sinh hoạt chuyên môn:
Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn của trường, của các tổ chuyên môn,
tôi đều chỉ đạo các tổ trưởng tập trung cho giáo viên trao đổi, thảo luận về kỹ
năng chăm sóc trẻ, về đổi mới hình thức tổ chức dạy học các lớp đổi mới, cách
chọn bài phù hợp khi lên mạng hoạt động cách tổ chức hoạt động góc theo
hướng đổi mới của các lớp cải cách và chương trình tăng cường tiếng Việt.

Các kỳ hội giảng là cơ hội rất tốt để giáo viên được giao lưu, học hỏi, rút ra
những kinh nghiệm quý báu trong công tác chăm sóc - giáo dục trẻ của mình vì
vậy tôi đã chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch hội giảng vòng tổ, vòng
trường, khuyến khích giáo viên phát huy hết khả năng của mình trong việc sáng
tạo thiết kế giáo án giảng dạy, làm đồ dùng dạy học, từ đó giáo viên tự khẳng
định mình và có hướng phấn đấu vươn lên. Năm học 2008 - 2009, nhà trường có
15/16 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường; 05 giáo viên đạt giáo viên dạy
giỏi cấp huyện. Năm học 2009 - 2010 phấn đấu 100% giáo viên đạt giáo viên dạy
giỏi cấp trường và 30% giáo viên phấn đấu đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện.
Tóm lại: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên để nâng cao chất
lượng đội ngũ đã giúp cho chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ của nhà trường tăng
cao, giúp phụ huynh yên tâm, tin tưởng đưa con đến trường nhiều hơn.
4. Làm tốt công tác xã hội hoá để tu sửa cơ sở vật chất, mua sắm trang
thiết bị:
12
Cơ sở vật chất rất quan trọng trong công tác huy động trẻ ra lớp, cơ sở vật
chất đầy đủ, khang trang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của trẻ, các
bậc phụ huynh sẽ tin tưởng hơn khi cho con tới trường vì vậy hàng năm, vào đầu
năm học tôi đều xây dựng kế hoạch đầu tư tu sửa vật chất và mua sắm trang thiết
bị phù hợp với địa phương và tình hình thực tế của nhà trường:
Là xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn nên trường được đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất tương đối khang trang tại hai khu trường chính và khu lẻ thôn 7 Máy
Đựng, tuy nhiên các trang thiết bị như bàn ghế, tủ góc, phản nằm cho trẻ không
có nên tôi đã phải tham mưu với các cấp lãnh đạo tìm biện pháp huy động nguồn
kinh phí từ phụ huynh, thống nhất với Ban đại diện cha mẹ học sinh để trang bị
mua sắm tủ góc, đồ dùng đồ chơi, tạo điều kiện cho trẻ hoạt động được tốt hơn.
Tranh thủ sự tài trợ kinh phí của các ban ngành, tổ chức xã hội để trang bị
cho phòng hoạt động âm nhạc: đàn Ocrgan, gương múa, dóng múa, tủ dựng quần
áo, dụng cụ biểu diễn; đóng mới 20 bộ bàn ghế cho trẻ ngồi, 04 tủ đựng đồ chơi
cho trẻ hoạt động.

thiểu số trong độ tuổi mầm non ra lớp" tại trường Mầm non xã Yên Thành, tôi
đã rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân và khuyến nghị với các
đồng chí làm công tác quản lý tại các trường vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào
dân tộc cùng thực hiện như sau:
- Công tác phát triển số lượng, đảm bảo cho tất cả trẻ trong độ tuổi Mầm
non đều được đến trường là một chủ trương hết sức đứng đắn, phù hợp
14
của Đảng, Nhà nước ta trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay vì vậy rất cần
có những hình thức và biện pháp tuyên truyền phù hợp với tình hình thực tế của
địa phương, mặt khác cần phải chú ý đến bản sắc đặc thù của đồng bào dân tộc,
nắm được đặc điểm tâm lý cũng như phong tục tập quán của mỗi dân tộc để tuyên
truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục mầm non tới các bậc
phụ huynh và toàn cộng đồng.
- Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định
trong việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục trẻ vì vậy rất
cần phải chú ý đến khâu bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.
- Cần chú trọng tới công tác tham mưu, công tác xã hội hoá giáo dục để
đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tạo những điều kiện tốt nhất cho các
hoạt động học tập, vui chơi và sinh hoạt tại trường của các cháu giúp cha mẹ trẻ
tin tưởng, yên tâm gửi con tại trường.
Qua đây tôi cũng xin trân trọng đề nghị Lãnh đạo phòng GD&ĐT huyện
Yên Bình; UBND huyện Yên Bình xem xét đầu tư xây dựng thêm lớp học tại
điểm trường lẻ Máy Đựng từ nguồn vốn 135 và mở rộng diện tích các lớp không
quá chật chội để các cháu được học tập và vui chơi thuận lợi hơn, tạo điều kiện
giúp đỡ nhà trường làm tốt hơn nữa công tác huy động trẻ ra lớp và công tác
chăm sóc - giáo dục trẻ trong những năm học tiếp theo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nhiệm vụ năm học 2009 - 2010.
15
2. Chiến lược phát triển giáo dục Mầm non giai đoạn 2001 - 2020.


17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status