VỐN VÀ BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. SỰ CẤP THIẾT CỦA NGUỒN VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN PHỤC VỤ CHO SỰ NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP HOÁ- HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC, MỘT THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI NGÀNH NGÂN
HÀNG.
Sự công nghiệp hoá- hiện đại hoá(CNH- HĐH) là quá trình chuyển đổi
căn bản toàn diện các hoạt động kinh tế xã hội đòi hỏi phải tập trung sức
người, sức của mọi tầng lớp nhân dân. Muốn thực hiện CNH- HĐH đất nước
trước hết phải có nguồn vốn và nguồn vốn đó phải sử dụng có hiệu quả.
Sau hơn 10 năm đổi mới, đất nước ta đã chuẩn bị được một lực lượng
lao động và một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật; một nền công nghiệp cùng
với những kinh nghiệm quản lý đáng kể, sẵn sàng bước vào giai đoạn phát
triển mới với nhịp độ cao và nhanh hơn, vị thế thuận lợi hơn. Thực tế những
năm qua đã chứng minh rõ tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách đổi
mới của Đảng và Nhà nước, thông qua những thành tựu về kinh tế như mức
tăng trưởng GDP hàng năm 8%, lạm phát từ mức 3 con số rút xuống chỉ còn 1
con số, tạo được nhiều việc làm cho người lao động, thu nhập bình quân đầu
người đạt mức 200- 250 USD… Tuy nhiên để nền kinh tế tiến xa hơn và có thể
cất cánh được trong tương lai, đòi hỏi phải chuẩn bị tốt các yếu tố, trong đó
vốn được coi là một trong các những tố quan trọng nhất.
Chính nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong thời kỳ này đòi hỏi
phải có một thị trường vốn ddủ mạnh mới có thể đáp ứng được nhu cầu của
các doanh nghiệp nói chung và của nghành công nghiệp nói riêng, nhằm đỏi
mới dây chuyền công nghệ, máy móc thiệt bị, nhà xưởng và cả vốn để đảm bảo
kinh doanh.
Trong đường lối phát triển kinh tế, Đảng ta đã chỉ rõ: " Phát triển lực
lượng sản xuất công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại hoá gắn liền
với phát triển công nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm… "(*). Thế nhưng,
trong thực tế hiện nay, nghành công nghiệp quy mô còn nhỏ, lại bị phân tán;
trình độ kỹ thuật, công nghệ thấp kém. Số xí nghiệp cỡ lớn và vừa chiếm trên
2% trong tổng số 377.000 ngành cơ sở sản xuất công nghiệp, hầu hết tập trung
Thời gian qua ngân hàng đã có nhiều cố gắng trong việc khai thác vốn
nhàn rỗi trong các doanh nghiệp và nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển. Cụ thể ngân hàng đã tiến hành một chương trình thu hút vốn trong nền
kinh tế và trong các tầng lớp dân cư bằng việc khuyến khích những người có
vốn mở tài khoản cá nhân tại ngân hàng và thanh toán qua ngân hàng. Triển
khai rộng rãi hình thức huy động vốn bằng kỳ phiếu, trái phiếu… làm cho số dư
tiết kiệm dưới hình thức này tăng lên nhanh chóng. Từ ngày triển khai thực
hiện hai pháp lệnh ngân hàng, phân định rõ ràng chức năng quản lý của NHNN
và chức năng kinh doanh của NHTM, đã làm cho công tác huy động vốn ngày
càng đa dạng và sôI động. Bắt đầu từ năm 1993, ngân hàng đã tiến hành dề án
đào tạo cán bộ chuẩn bị cho việc khai triển các thị trường vốn trong nước, xây
dựng đề án phát hành trái phiếu của NHTM, trái phiếu kho bạc, trái phiếu
doanh nghiệp, cổ phiếu của công ty cổ phần, xúc tiến quá trình cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nước để vừa đẩy mạnh việc tích tụ và tập trung vốn, vừa tạo
ra nhiều hàng hoá cho thị trường chứng khoán ra đời và đi vào hoạt động. Do
áp dụng các hình thức huy động vốn phong phú, hiệu quả nên số lượng vốn huy
động được qua kênh ngân hàng được tăng lên liên tục. "Nguồn vốn kinh doanh
chung tăng trưởng khá nhanh và đạt 50% - 60% qua các năm 1996 - 1997. Cơ
cấu nguồn vốn có sự thay đổi theo hướng tích cực .Nguồnvốn ổn định với kỳ
hạn dài không ngừng tăng lên(chiếm khoảng 50% nguồn vốn huy động ).
(Trên cơ sở đó ngân hàng có thêm nguôn vốn để mở rộng cho việc vay trung và
dài hạn, năng tỷ trọng cho vay từ dưới 20% ở các năm 1993 - 1994 lên 30%
năm 1997 Các ngân hàng đẩy mạnh việc cho vay sản xuất hàng hoá, phát triển
nông nghiệp và nông thôn , xuất khẩu, đồng thời đâu tư vào một số nghành
công nghiệp mũi nhọn"
Tuy nhiên,ngân hàng vấp phải không ít trở ngại trong quá trình tham
gia tạo vốn đáp ưng nhu cầu của CNH - HĐH đất nước. Hiện nay ngân hàng
mmới chỉ đáp ứng được 30% vốn so với nhu cầu đầu tư trong nước và 8% so
với tổng mức đàu tư toàn xã hội . Có lúc do nguồn vốn trung và dàI hạn quá eo
hẹp ngân hàng phải sử dụng một nguồn đáng kể nguồn vốn ngắn hạn để cho
Tiền tệ ra đời là một phát minh vĩ đại của loài người và nó làm thay đổi
bộ mặt của nền kinh tế -xã hội .Mọi sự vận động của sản xuất và tiêu dùng
hàng hoá đều có quan hệ mật thiết đến sự vận động của tiền tệ và đồng thời có
sự tác động qua lạI lẫn nhau.Đồng tiền trở thành thước đo chung cho tất cả
các hoạt động kinh doanh của nền kinh tế .KháI niệm vốn đưỡcuất hiện và vai
trò của nó ngày càng trở nên quan trọng .Vốn theo kháI niệm rộng được hiểu
không chỉ là tiền tệ mà còn là nguồn lực như: tài nguyên thiên nhiên ,đất đai,
lao động, trí tuệ…
Khi nền kinh tế còn đang nằm trong giai đoạn mang tính tự cung, tự cấp
thì đông vốn không phát huy được vai trò của mình và nó ít được chú ý đến
.Nhưng chuyển sang nền kinh tế thị trường thì vấn đề vốn không phát huy
được vai trò của mình và nó ít được chú ý đến .Nhưng chuyển sang nền kinh tế
thị trường thì vấn đề vốn không những được quan tâm nhiều mà nó còn trở
thành yếu tố quan trọng hàng đầu ,là điều kiện tiên quyết cho mọi quá trình
sản xuất kinh doanh .Thông qua thị trường ,vốn giao lưu rộng rãI và càng thể
hiện rõ bản chất và vai trò của nó . C.Mác đã kháI quát hoá phạm trù vốn qua
phạm trù "tư bản" "tư bản là giá trị mang lạI giá trị thặng dư".Theo nghĩa cô
đọng này đã phản ánh được nội dung, đặc trưng và vai trò ,tác dụng của vốn
.Để nhận thức đúng đắn quan đIểm của C.Mác ,cần thiết phảI hiểu sâu sắc
hơn phạm trù vốn và đặc trưng của nó.
1.2. Các đặc trưng của vốn :
-Trước hết vốn ,được biểu hiện dưới hình thái giá trị của tài sản .Tức là
phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản nhất định ,bao gồm tài
sản hữu hình như tư liệu sản suất nhà máy, đất đai, nguyên vật liệu… và tàI
sản vô hình như chất xám, nhân lực, thông tin …điều đó phân biệt rõ vốn với
tiền. Chỉ có đồng tiền phát hành trên cơ sở được đảm bảo bằng giá trị hàng
hoá mới được gọi là vốn.
- Vốn phải vận động: vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng phải là tiền
được vận động với mục đich sinh lời. Do đó các tài sản cố định không sử dụng,
hàng hoá vật tư ứ đọng tiền để dành trong két… chỉ là những đông vốn chết.
Thị trường vốn là nơi diễn ra việc mua bán giữa người có vốn và người có
nhu cầu sử dụng vốn. Người ta sử dụng đặc điểm quan trọng này lưu thông
vốn nhằm tạo ra các dòng chảy, các "kênh" từ cung đến cầu về vốn.
Người chủ sở hữu vốn có thể đồng nhất với người sử dụng vốn hoặc có thể
tách khỏi người sử dụng vốn. Do đó, trong mọi trường hợp thì người sử dụng
vốn phải được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sử dụng
vốn của mình. Để huy đông được lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội, cần tuân
thủ nguyên tắc này.
Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền- phản ánh giá trị của những tài sản hữu
hình như đất đai, nhà máy, trang thiết bị … mà còn biểu hiện bằng giá trị của
những tài sản vô hình như : bản quyển, phát minh, sáng chế, nhãn hiệu, vị trí
sản xuất kinh doanh…
Từ những vấn đề phân tích trên đây về phạm trù vốn trong nền kinh tế thị
trường, có thể rút ra định nghĩa chung như sau:
" Vốn đầu tư là giá trị của các tài sản xã hội được đưa vào đầu tư nhằm
mang lại hiệu quả trong tương lai"
2. nội dung của vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Cũng giống như mọi đơn vị kinh tế, ngân hàng muốn hoạt động được
trước hết cần phải có vốn. Do vị trí, vai trò và loại hình kinh doanh tương đối
đặc biệt nên nhu cầu về vốn của ngân hàng thương mại (NHTM) là rất lớn. Để
có được lượng vốn đủ đáp ứng thoả mãn nhu cầu của nền kinh tế, ngân hàng
phải tìm kiếm từ các nguồn vốn khác nhau. Mỗi nguồn vốn đựơc thể hiện qua
phương thức quản lý và huy động vốn của các NHTM trong cùng một thời
gian, hơn nữa huy động vốn là một nghiệp vụ không thể thiếu được trong hoạt
đọng của các NHTM. Hiện nay các NHTM có những nguồn vốn sau:
2.1. Vốn tự có của một ngân hàng bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ pháp
định.
2.1.1. Vốn điều lệ: Là vốn ghi trong điều lệ của NHTM, tối thiểu bằng
vốn pháp định và là vốn do tự ngân hàng lập nên. Đây chính là tiêu chuẩn để
một NHTM đuợc thành lập và hoạt động. Tuỳ theo loại hình ngân hàng mà vốn
của ngân hàng song ngân hàng có quyền đối với số vốn tiền tệ này.Vốn huy
động thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của một
NHTM.Tuy nhiên,đây là một nguồn vốn biến động thường xuyên,do vậy NHTM
luôn phải đặt ra một khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán chi
trả.Vốn huy động bao gồm những khoản mục sau:
2.2.1.Tiền gửi:
Tiền gửi NHTM bao gồm hai loại : tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn .
- Tiền gửi không kỳ hạn ( còn goị là tiền gửi giao dịch ):là tiền gửi có thể rút ra
bất kỳ lúc nào bằng cách phát séc .Tiền nằm trên tài khoản tiền gửi không kỳ
hạn là tiền vốn đang làm trong quá trình vận động ,vì vậy tiền gửi không kỳ
hạn là một phần của tiền trong lưu thông.Mục đích tiền gửi của khách hàng là
có thể thực hiện thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác kịp thời và an
toàn,có thể thoả mãn nhu cầu tiền mặt của khách hàng bát kỳ lúc nào.Lãi suất
đối với loại tiền gửi này thường thấp ,tuy nhiên việc đảm bảo một dịch vụ thích
hợp, thuận tiện là yếu tố thu hút tiền gưỉ không kỳ hạn.
- Tiền gửi có kỳ hạn :là loại tiền gửi về cơ bản không được dùng để thanh
toán mà chủ yếu là nhằm kiếm lời cao thay vì đầu tư vào lĩn vực khác.Tiền gửi
có kỳ hạn là một nguồn vốn tín dụng mang tính chất ổn định , do đó các ngân
hàng thường chú trọng các biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này
như : đa dạng hoá thời vụ (3 tháng ,6 tháng ,9 tháng ,12 tháng ,2 năm ...) ứng
với mỗi kỳ hạn ngân hàng thường áp dụng một mức lãi suất tương ứng theo
nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao .Tiền gửi có kỳ hạn có thể áp
dụng lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi .
2.2.2. Tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm ở Việt nam hết sức phong phú và đa dạng thường
được chia ra các loại sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn : theo hình thức này,người gửi có thể ký
thác nhiều lần và rút ra theo nhu cầu sử dụng, loại tiền gửi này cũng được
ngân hàng trả lãi nhưng lãi suất thấp hơn các loại tiền gửi tiết kiệm khác.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: gồm hai loại :