Tóm tắt nghiên cứu đặc điểm hấp phụ, giải phóng lân và sử dụng silicate để nâng cao hàm lượng lân hữu dụng trong đất lúa nam việt nam - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VI VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM C NÔ

TRẦN THỊ TƯỜNG LINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HẤP PHỤ, GIẢI PHÓNG LÂN
VÀ SỬ DỤNG SILICATE ĐỂ NÂNG CAO HÀM LƯỢNG
LÂN HỮU DỤNG TRONG ĐẤT LÚA NAM VIỆT NAM Chuyên ngành: KHOA HỌC ĐẤT
Mã số: 62 62 01 03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2014
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:

cao, hiện tượng cây trồng thiếu lân xảy ra không phải chỉ do đất
nghèo lân mà còn do phần lớn lân trong đất bị giữ chặt với các
hợp chất sắt, nhôm dưới dạng khó tan mà cây trồng không thể
hấp thu. Đặc tính hấp phụ và giải phóng lân là những yếu tố có
tính quyết định đến khả năng cung cấp lân của đất cũng như
liều lượng bón và hiệu lực của phân lân đối với cây lúa.
Tại một số quốc gia (Mỹ, Ấn Độ, Nhật), sử dụng các loại
xỉ và phân bón chứa silicate cho thấy có thể cải thiện tình trạng
dinh dưỡng lân trong đất, nâng cao năng suất cây trồng. Ở Việt
Nam, sử dụng silicate nhằm làm tăng hàm lượng lân hữu dụng
trong đất hầu như chưa được nghiên cứu. Các anion silicate có
khả năng cạnh tranh mạnh mẽ với các anion phosphate trên các
vị trí hấp phụ của oxide sắt, nhôm do đó có thể làm giảm lượng
lân bị hấp phụ trong đất. Nghiên cứu ứng dụng silic trong canh
tác lúa nhằm tiến đến việc phối chế làm đa dạng hóa mặt hàng
phân lân hoặc tạo ra các loại phân đa yếu tố, chứa P và Si phù
hợp với điều kiện đất đai và nhu cầu của cây lúa ở miền Nam là
một hướng đi có tính khả thi. Xuất phát từ cơ sở khoa học và
nhu cầu thực tế, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hấp phụ, giải
phóng lân và sử dụng silicate để nâng cao hàm lượng lân
hữu dụng trong đất lúa Nam Việt Nam” đã được thực hiện.
2
1.2. MỤC TIÊU
- Đánh giá được khả năng hấp phụ và giải phóng lân của một số
đất trồng lúa chính ở miền Nam, xác định được các yếu tố chính
quyết định khả năng hấp phụ và giải phóng lân của đất làm cơ
sở cho việc nghiên cứu các biện pháp hạn chế khả năng cố định
lân trong đất.
- Đánh giá được khả năng ứng dụng anion cạnh tranh như một
giải pháp hạn chế khả năng cố định lân, tăng lượng lân hữu

1.5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Phát hiện được mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa khả năng
hấp phụ và giải phóng P, chỉ ra các yếu tố chính của đất ảnh
hưởng đến khả năng giải phóng P trong đất lúa miền Nam.
- Chứng minh rằng phương pháp ứng dụng anionite xác định
lượng P giải phóng có thể được sử dụng trong việc đánh giá khả
năng cung cấp P hữu dụng của các đất nghiên cứu.
- Làm rõ được hiệu quả của silicate natri (Na
2
SiO
3
) và
silicofluoride natri (Na
2
SiF
6
) trong việc hạn chế khả năng hấp
phụ P, đồng thời làm tăng hàm lượng P hữu dụng trong đất; đề
xuất ứng dụng các hợp chất này nhằm tăng khả năng cung cấp P
của đất và nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân.

Chương 2. TỔNG QUAN

2.1. HẤP PHỤ VÀ KẾT TỦA LÂN TRONG ĐẤT
2.1.1. Cơ chế của quá trình hấp phụ và kết tủa lân
Hiện tượng hấp phụ được xem là nguyên nhân chính làm
giảm hàm lượng P hòa tan trong dung dịch. Đất có khả năng
hấp phụ P càng cao thì khả năng cung cấp P càng thấp. Quá
trình hấp phụ theo cơ chế trao đổi với ion OH
-

max
. k . C

(1 + k . C)
Trong đó: Q: Lượng lân đất hấp phụ ở nồng độ P còn lại trong
dung dịch cân bằng; C: Nồng độ P trong dung dịch cân bằng;
Q
max
: Khả năng hấp phụ P tối đa; k: Hệ số liên quan đến năng
lượng hấp phụ.
2.1.3.2. Phương trình Langmuir kép
Q
=
Q
max1
. k1 . C + Q
max2
. k2 . C

(1 + k1 . C) (1 + k2 . C)
Trong đó: Q: Lượng P đất hấp phụ tương ứng nồng độ P còn lại
trong dung dịch cân bằng; C: Nồng độ P trong dung dịch cân
bằng; k
1
, k
2
: Hệ số liên quan đến năng lượng hấp phụ; Q
max1
,
Q

Trong quá trình ngập nước khả năng hấp phụ P của đất
tăng do quá trình hydrate hóa hoặc thủy phân các oxidhydroxide
Fe(III) tinh thể chuyển thành ferrihydrite (Fe
10
O
15
.9H
2
O) vô
định hình có diện tích bề mặt lớn có khả năng hấp phụ P cao
(Borggaard O. K., 1982, 1983, 1990). Quá trình ngập nước giúp
phóng thích P từ các oxide sắt kém bền vững nhưng đồng thời
quá trình kết tủa mới những hợp chất sắt xảy ra dẫn đến lượng P
bị hấp phụ nhiều hơn P được phóng thích (Phan Thị Công, 1993).
2.2.2. Sự chuyển hóa các nhóm lân
Khi ngập nước hàm lượng nhóm Fe–P tăng lên do một
phần Al–P dạng variscite có thể chuyển thành nhóm Fe–P dạng
vivianite. Hàm lượng nhóm Ca–P thường ít thay đổi trong thời
gian ngập nước. Trên đất trung tính và đất kiềm, quá trình phân
6
giải chất hữu cơ có thể phóng thích CO
2
tạo thành H
2
CO
3

khả năng làm tăng sự hòa tan của các khoáng Ca–P. Trong đất
ngập nước, quá trình khử goethite thành vivianite là dạng lân
cây lúa có thể thu hút được (Nguyễn Vy & Trần Khải, 1978).

4
SiO
4
), một phần có thể biến
thành keo silic (SiO
2
.nH
2
O). Acid silisic có thể kết hợp với các
hydroxide hoặc muối tan của kim loại vừa được giải phóng ra
7
tạo thành những muối silicate. Trong điều kiện bazơ yếu acid
silisic tạo với K và Na thành những silicate hòa tan. Nếu môi
trường có phản ứng acid chiếm ưu thế thì Si chuyển thành acid
silisic tự do, dễ bị rửa trôi và di chuyển xuống dưới sâu.
2.4.1.2. Silic hòa tan
Trong khoảng pH rộng (2-9) Si hòa tan trong dung dịch
đất chủ yếu là dạng H
4
SiO
4
0
và ở trạng thái cân bằng với silica
(SiO
2
)

vô định hình với nồng độ cân bằng khoảng 2 mmol; ở
pH>9, H
4

Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1. NỘI DUNG
 Nghiên cứu khả năng hấp phụ lân của đất theo phương pháp
ứng dụng phương trình hấp phụ đẳng nhiệt.
 Nghiên cứu khả năng giải phóng lân của đất.
 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất hữu cơ (dạng acid humic,
oxalate) đối với khả năng hấp phụ lân của đất.
 Nghiên cứu sử dụng silicate natri (Na
2
SiO
3
) và
silicofluoride natri (Na
2
SiF
6
) trong việc hạn chế khả năng hấp
phụ lân, nâng cao hàm lượng lân hữu dụng trong đất lúa.
3.2. PHƯƠNG PHÁP
3.2.1. Nghiên cứu khả năng hấp phụ lân của đất theo
phương pháp ứng dụng phương trình hấp phụ đẳng nhiệt
Thí nghiệm 1: Thí nghiệm được tiến hành trên 20 mẫu đất lúa
thuộc vùng trọng điểm trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long
và vùng phụ cận thành phố Hồ Chí Minh, gồm: 12 mẫu đất
phèn, 5 mẫu đất phù sa và 3 mẫu đất xám. Mẫu đất lấy từ tầng
0-20 cm, để khô ở nhiệt độ phòng, nghiền và cho qua rây 2 mm.
Cân 1,5 g đất vào mỗi ống ly tâm với 25 ml dung dịch KCl 0,01
M chứa KH
2

Cl
-
. Xác định lượng P giải phóng, lập tương quan giữa lượng P
giải phóng với tốc độ giải phóng và thời gian (t) tiếp xúc giữa
đất với anionite theo phương trình Cooke (1958): y = R√t + B ;
trong đó: y: Lượng P giải phóng; R: Tốc độ giải phóng P; B:
Nồng độ P trong dung dịch cân bằng trước lúc cho anionite vào.
Thí nghiệm 4: Thực hiện trên 8 đất trong số 20 đất trong thí
nghiệm 1. Cân mỗi loại đất vào 4 chậu, cho ngập nước 3 cm.
Sau 5 ngày ủ đất ngập nước, sử dụng 1 chậu (cho mỗi loại đất)
để xác định lượng P giải phóng bằng anionite. Trên mỗi đất
trồng lúa vào 3 chậu còn lại, sau 15 ngày phân tích lượng P cây
hút. Số liệu lượng P cây hút được phân tích tương quan với
lượng P giải phóng chiết bằng anionite, hàm lượng P dễ tiêu
(phương pháp Onioani) trong mẫu đất trước khi trồng lúa.
3.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất hữu cơ đối với khả
năng hấp phụ lân của đất
3.2.3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc phá hủy chất hữu cơ
đối với khả năng hấp phụ lân của đất
Thí nghiệm 5: Thực hiện trên 20 đất lúa như trong Thí nghiệm
1. Phá hủy một phần chất hữu cơ trong mẫu đất bằng nước oxy
10
già (H
2
O
2
). Xác định khả năng hấp phụ P của đất, so sánh kết
quả thu được với khả năng hấp phụ P trên các mẫu đất ban đầu
không phá hủy chất hữu cơ.
3.2.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của acid humic đối với khả

2
C
2
O
4
vào 200 g đất, cho ngập nước 3 cm. Xác định lượng P hấp phụ
trong mẫu đất tươi sau 1, 14 và 45 ngày ngập nước (NSN).
3.2.4. Nghiên cứu sử dụng Na
2
SiO
3
và Na
2
SiF
6
trong việc
hạn chế khả năng hấp phụ lân, nâng cao hàm lượng lân hữu
dụng trong đất
3.2.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của Na
2
SiO
3
và Na
2
SiF
6
đối
với khả năng hấp phụ và giải phóng lân của đất
Thực hiện trên đất phèn hoạt động, đất phù sa, gley, có tầng
loang lổ và đất xám trên phù sa cổ (0-20 cm, qua rây 2 mm).

hoặc 180
mg SiF
6
/kg đất khô, ủ ngập nước. Xác định khả năng hấp phụ P
trong mẫu đất tươi vào 1, 14 và 42 ngày sau ngập (NSN).
Thí nghiệm 10: Lắc 5 g đất khô với 25 ml dịch KCl 0,01 M
chứa 200 mg P/l (dạng KH
2
PO
4
) bổ sung Na
2
SiO
3
và Na
2
SiF
6

(nồng độ 200 mg SiO
3
hoặc SiF
6
/l), ly tâm lấy dịch lọc, xác
định lượng P hấp phụ. Rửa mẫu đất trong ống ly tâm bằng cồn,
cho 25 ml dịch KCl 0,01 M chứa Na
2
SiO
3
và Na

2
SiO
3

CT5: (N, K) + P+ Na
2
SiO
3

CT3: (N, K)+ Na
2
SiF
6

CT6: (N, K) + P + Na
2
SiF
6 - Phân bón (kg/ha/vụ): Đất phèn: 100 N+90 P
2
O
5
+30 K
2
O+180
SiO
3
hoặc SiF

- Công thức:
CT1: Nền (bón N, K; đối chứng)
CT4: Nền + P
CT2: Nền+ Na
2
SiO
3

CT5: Nền+P+Na
2
SiO
3

CT3: Nền+ Na
2
SiF
6

CT6: Nền+P+Na
2
SiF
6 - Phân bón (mg/kg đất): Đất phèn: 100 N+90 P
2
O
5
+30
K


4.1. KHẢ NĂNG HẤP PHỤ LÂN CỦA ĐẤT LÚA MIỀN NAM
Một phần trong công trình này đã được công bố với đồng
tác giả Võ Đình Quang trên tạp chí European Journal of Soil
Science (tháng 3/1996, số 47, tr. 112-123); trong đó, ứng dụng
phương trình Langmuir kép để xác định khả năng hấp phụ P của
đất. Trong khuôn khổ của đề tài, khả năng hấp phụ P của đất
được đánh giá theo các phương trình Langmuir đơn và
Freudlich; kết quả được so sánh với khả năng hấp phụ P của đất
tính theo phương trình Langmuir kép.
4.1.1. Khả năng hấp phụ lân của đất xác định bằng phương
pháp ứng dụng phương trình đẳng nhiệt
4.1.1.1. Khả năng hấp phụ lân của đất xác định theo phương
trình Langmuir đơn
Lượng P hấp phụ tối đa của ba nhóm đất xếp theo thứ tự
nhỏ dần: Đất phèn (Q
max
= 1.498 mg P/kg) > đất phù sa (Q
max
=
824 mg P/kg) > đất xám (Q
max
= 297 mg P/kg). Lượng P hấp
phụ để dung dịch đạt nồng độ cân bằng 0,2 mg P/l (P
0,2
) trên ba
nhóm đất theo thứ tự nhỏ dần: Đất phèn (P
0,2
: 274 mg P/kg) >
đất phù sa: (P

được các thông số cần có một phần mềm đặc biệt nên không
thông dụng. Phương trình Langmuir đơn thích hợp nhất để mô
tả hiện tượng hấp phụ P trong các nhóm đất nghiên cứu do vừa
mô tả tốt hiện tượng hấp phụ, đặc biệt ở vùng gần với nồng độ
thực đồng ruộng, đồng thời cho hệ số tương quan tốt và được
tính toán một các đơn giản khi chuyển sang dạng tuyến tính.
4.1.2. Quan hệ giữa các thông số hấp phụ lân và tính chất lý
hóa đất
Nhóm đất phèn khá chua (pH
H2O
: 3,5-4,6), nhóm đất phù sa
ít chua (pH
H2O
: 4,5-5,8) và nhóm đất xám gần trung tính
(pH
H2O
: 6,1-6,9). Nhóm đất xám nghèo sét (18,1-35,9 %); nhóm
đất phù sa và nhóm đất phèn có hàm lượng sét khoảng 20,6-
75,6 %, hầu hết khá giàu sét. Nhóm đất phèn nghèo P, đa số có
P tổng số khoảng 0,175-0,445 g P/kg (0,04-0,10 % P
2
O
5
). Đất
xám rất nghèo lân, P tổng số khoảng 0,114-0,218 g P/kg (0,03-
0,05 % P
2
O
5
). Đất phù sa có hàm lượng lân tổng số từ mức

2
O
3
/kg, sắt vô định hình:
3,60-15,62 g Fe
2
O
3
/kg, sắt tinh thể: 0,43-22,93 g Fe
2
O
3
/kg. Đất
xám rất nghèo sắt tổng số (4,4-7,2 g Fe
2
O
3
/kg). Hàm lượng
nhôm tổng số trong đất phù sa rất giàu (102,6-180,2 g
15
Al
2
O
3
/kg); trong đó, nhôm tự do: 0,81-3,08 g Al
2
O
3
/kg; nhôm
vô định hình: 1,36-2,49 g Al

O
3
/kg. Lượng
chất hữu cơ trong đất phèn khá cao (1,79-10,06 %), trong đất
phù sa: 0,87-2,20 %, trong đất xám: 0,52-0,87 %.
- Có mối tương quan nghịch rất chặt giữa các giá trị pH
H2O

pH
KCl
của đất với kết quả Q
max
tính theo phương trình Langmuir
đơn và k tính theo phương trình Freundlich.
- Có mối tương quan thuận rất chặt giữa hàm lượng sét với các
thông số hấp phụ lân Q
max
Langmuir đơn; Q
max2
Langmuir kép,
∑Q
max
Langmuir kép; k Freundlich. Tương quan giữa Q
max1

Langmuir kép và lượng P
0,2
tính theo phương trình Langmuir
kép với hàm lượng sét chưa đạt mức xác suất p<0,05. Lượng
P

- Không phát hiện được mối tương quan giữa hàm lượng P tổng
số và P Bray 2 với các thông số hấp phụ P.
- Có mối tương quan thuận khá chặt giữa các thông số hấp phụ
P và hàm lượng chất hữu cơ.
4.2. KHẢ NĂNG GIẢI PHÓNG P CỦA ĐẤT LÚA MIỀN NAM
4.2.1. Kết quả nghiên cứu khả năng giải phóng lân theo
phương pháp chiết đất bằng dung dịch điện phân
4.2.1.1. Quan hệ giữa lượng lân giải phóng với khả năng hấp
phụ lân
Lượng P giải phóng của nhóm đất phèn trong khoảng 21-33
mg P/kg, trung bình là 31 mg P/kg. Nhóm đất phù sa có lượng P
giải phóng trong khoảng 27-95 mg P/kg, trung bình là 58 mg
P/kg. Nhóm đất xám có lượng P giải phóng cao nhất, trong
khoảng 99-110 mg P/kg, trung bình là 105 mg P/kg. Có mối
tương quan nghịch rất chặt giữa các thông số hấp phụ P của đất
và lượng P giải phóng sau hấp phụ.
4.2.1.2. Quan hệ giữa lượng P giải phóng với tính chất đất
Lượng lân giải phóng tương quan nghịch rất chặt với hàm
lượng sét, chất hữu cơ, sắt vô định hình và nhôm vô định hình,
tương quan nghịch khá chặt với hàm lượng nhôm tổng số và
nhôm tự do, tương quan thuận rất chặt với pH đất.
4.2.2. Kết quả nghiên cứu tốc độ giải phóng lân bằng chất
trao đổi anion
Trên đất không bón P, đất xám trên phù sa cổ có tốc độ giải
phóng P cao nhất (R = 1,91 mg P/√phút , kế đến là đất phù sa ít
17
chua (R = 1,62 mg P/√phút ), thấp nhất là trên đất phù sa trên
nền phèn (R = 0,99 mg P/√phút ).
Kết quả trên đất được bón P cũng có cùng quy luật như
trên, đất xám trên phù sa cổ có tốc độ giải phóng P cao nhất (R

max
= 244 mg P/g; thêm acid
18
humic vào hydroxide sắt sau 10 giờ làm giảm khả năng hấp phụ
P của hydroxide sắt (Q
max
= 1.528 mg P/mmol Fe). Tuy nhiên,
để acid humic tương tác với hydroxide sắt 15 ngày cho thấy
Q
max
của hydroxide sắt tăng mạnh (Q
max
= 9.761 mg P/mmol
Fe), lớn hơn nhiều so với tổng hấp phụ riêng biệt của hydroxide
sắt và của acid humic (2.652 + 244 = 2.896 mg P).
4.3.3. Ảnh hưởng của oxalate đối với khả năng hấp phụ P
của đất
4.3.3.1. Ảnh hưởng cạnh tranh hấp phụ trực tiếp của oxalate
đối với khả năng hấp phụ P của đất
Bổ sung trực tiếp oxalate vào dung dịch hấp phụ (KCl 0,01
M chứa P), đất phèn có Q
max
= 1.532 mg P/kg, giảm 19 % so đối
chứng (Q
max
= 1.886 mg P/kg), đất phù sa có Q
max
= 446 mg
P/kg, giảm 65 % so đối chứng (Q
max

max
tăng 4% so đối chứng.
c) Đất xám trên phù sa cổ: Q
max
trên đất bón oxalate tại các thời
kỳ 1, 14 và 45 NSN (Q
max
: 74-315 mg P/kg) giảm 45-82 % so
với đối chứng (Q
max
: 417-568 mg P/kg). Ở mức nồng độ P thấp,
19
dưới ảnh hưởng của oxalate hầu như không có hiện tượng P bị
đất hấp phụ mà ngược lại P trong đất hòa tan vào dung dịch.

4.4. SỬ DỤNG SILICATE NATRI (Na
2
SiO
3
) VÀ
SILICOFLUORIDE NATRI (Na
2
SiF
6
) TRONG VIỆC HẠN
CHẾ KHẢ NĂNG HẤP PHỤ LÂN, NÂNG CAO HÀM
LƯỢNG LÂN HỮU DỤNG TRONG ĐẤT LÚA MIỀN
NAM
4.4.1. Ảnh hưởng của Na
2

2-
,
SiF
6
2-
) và của pH; chỉnh pH về mức 4,7 nhằm loại trừ ảnh
hưởng của pH.
a) Đất phèn hoạt động: Không điều chỉnh pH dịch hấp phụ, ảnh
hưởng của Na
2
SiO
3
và Na
2
SiF
6
làm giảm 6-21 % Q
max
, giảm 41-
73 % P
0,2
. Do không thể bón vào đất lượng phân P thật lớn để
đạt nồng độ bão hòa, nhưng nếu bón một lượng phân P hợp lý
mà có thể duy trì nồng độ P trong dung dịch đất đáp ứng được
nhu cầu của cây trồng thì đây là biện pháp kỹ thuật có giá trị
thực tiễn. Trường hợp điều chỉnh pH dịch hấp phụ về mức 4,7,
ảnh hưởng của Na
2
SiF
6

SiO
3
, giảm 55-
74 % do bổ sung Na
2
SiF
6
.
b) Đất phù sa gley có tầng loang lổ: Sự sụt giảm Q
max
do
Na
2
SiO
3

trong cả hai trường hợp không điều chỉnh pH (Q
max

giảm 2-15 %) và điều chỉnh pH (Q
max
giảm 4-14 %) không
nhiều. Dưới ảnh hưởng của Na
2
SiF
6
, Q
max
giảm 1-50 % trong
trường hợp không chỉnh pH, giảm 17-36 % trong trường hợp

đất xám thấp nên giá trị P
0,2
hầu như không đáng kể.
4.4.1.2. Ảnh hưởng Na
2
SiO
3
và Na
2
SiF
6
đối với khả năng hấp
phụ P của đất trong quá trình ngập nước
a) Đất phèn hoạt động: Tại các thời kỳ 1, 14 và 42 NSN, đất
bón Na
2
SiO
3
có Q
max
không khác biệt nhiều so với đối chứng,
P
0,2
giảm 7-30 % so với đối chứng. Đất bón Na
2
SiF
6
có Q
max


10-23
% so với đối chứng tại các thời kỳ 1 và 14 NSN, đến 42 NSN,
Q
max
của đất bón Na
2
SiO
3
tăng 3 % so đối chứng; trong quá
trình ngập nước P
0,2
giảm 4-70 % so đối chứng. Bón Na
2
SiF
6
làm giảm

11-58 % Q
max
, giảm 12-56 % P
0,2
so với đối chứng.
21
4.4.1.3. Ảnh hưởng của Na
2
SiO
3
và Na
2
SiF

và Na
2
SiF
6
đối với năng suất
lúa ngoài đồng
Trên đất phèn hoạt động và đất xám trên phù sa cổ, bón
Na
2
SiO
3
hoặc Na
2
SiF
6
trên nền không bón P cho bội thu 5-13 %
so với đối chứng (không bón P, Si); bón Na
2
SiO
3
hoặc Na
2
SiF
6

kết

hợp P cho bội thu 10-18 % so với đối chứng, nhưng không
khác biệt đáng kể so với công thức bón P. Trên đất phù sa gley
có tầng loang lổ, bón Na

6
làm tăng sinh khối, số
nhánh/cây và chiều cao cây. Quan hệ tương hỗ giữa Si và P
trong cây có tác dụng tích cực lên sự hấp thu và chuyển hóa
dưỡng chất P, Si và N. Bón riêng biệt hoặc bón kết hợp
Na
2
SiO
3
, Na
2
SiF
6
với P có xu hướng làm giảm hàm lượng sắt,
nhôm do đó tăng tỷ lệ P/Fe và P/Al trong cây.
Trên đất xám trên phù sa cổ, sự sinh trưởng của cây lúa
giữa các công thức có bón lân và silic không khác biệt rõ so với
đối chứng như trong thí nghiệm trên đất phèn. Bón riêng biệt Si
(không P) cho chiều cao cây, sinh khối và số nhánh/cây không
khác biệt so với đối chứng. Bón Si kết hợp P làm tăng nhẹ chiều
cao cây, sinh khối, lượng N và lượng P cây hút.
22

Chương 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. KẾT LUẬN
1) Ba phương trình đẳng nhiệt Langmuir đơn, Langmuir kép
và Freundlich đều minh họa tốt mối quan hệ giữa nồng độ P
trong dung dịch cân bằng và lượng P hấp phụ trong các đất
nghiên cứu. Tùy mục đích nghiên cứu có thể sử dụng một trong

với lượng P cây lúa hút chặt hơn so với sự tương quan giữa
lượng P chiết theo phương pháp Onioani với lượng P cây lúa
hút. Có thể ứng dụng phương pháp chiết lân bằng anionite để
đánh giá khả năng cung cấp lân của đất lúa miền Nam.
4) Bổ sung đồng thời Si dạng silicate natri (Na
2
SiO
3
) hoặc
silicofluoride natri (Na
2
SiF
6
) cùng với P trong dung dịch hoặc
bón silicate natri và silicofluoride natri vào đất ngập nước trước
khi cho đất tiếp xúc với dung dịch chứa P đều làm giảm khả
năng hấp phụ P của đất (trung bình giá trị Q
max
giảm 15-27 %).
Tác dụng của hợp chất silicate lên khả năng hấp phụ P của đất ở
vùng nồng độ P trong dung dịch cân bằng thấp (0,2 mg/l) rõ
hơn so với tác dụng lên Q
max
(trung bình giá trị P
0,2
giảm 41-74
%). Ảnh hưởng của silicate natri và silicofluoride natri trong
trường hợp bổ sung cùng lúc với P làm giảm khả năng hấp phụ
P của đất mạnh hơn so với trường hợp bón silicate natri và
silicofluoride natri vào đất trước. Trong hai hợp chất silic thí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status