Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG VĂN ĐẢY NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC,
SÂU BỆNH HẠI VÀ SỬ DỤNG CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG
ĐỐI VỚI HỒNG KHÔNG HẠT BẢO LÂM - TẠI LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, khoa Sau đại học, khoa Nông học, các thầy cô giáo đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đào Thanh Vân
giảng viên bộ môn cây ăn quả, phó trưởng khoa Nông học trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện đề tài và bảo vệ luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Chi cục Bảo vệ thực vật
Lạng Sơn, Viện Bảo vệ thực vật, Bộ môn Kiểm nghiệm chất lượng rau quả -
Viện nghiên cứu rau quả, phòng phân tích đất - Viện quy hoạch & thiết kế
nông nghiệp, các phòng ban chuyên môn của huyện Cao Lộc - tỉnh Lạng Sơn,
Đảng uỷ, HĐND, UBND và các hộ gia đình xã Bảo Lâm đã tạo điều kiện và
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình theo dõi thu thập số liệu cho luận văn.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới bạn bè và gia đình đã giúp đỡ và
động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này.
Lạng Sơn, Tháng 8 năm 2008
HỌC VIÊN CAO HỌC
LUẬN VĂN
THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐÀO THANH VÂN
THÁI NGUYÊN- 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây hồng (Diospyros Kaki Lim) là một loại cây ăn quả lâu năm có nguồn
gốc á nhiệt đới đã được trồng lâu đời ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Ở
nước ta hồng được trồng nhiều ở phía Bắc từ Hà Tĩnh trở ra, ở phía Nam hồng
được trồng ở vùng Đà Lạt- Lâm Đồng nơi có độ cao từ 1000- 1500 m so với mặt
nước biển. Phạm Văn Côn [5]; Nguyễn Đức Lương, Trần Như Ý [19]; Mai Xuân
Lương [20]. Hiện nay ở nước ta có trồng rất nhiều giống hồng nổi tiếng như
hồng Nhân Hậu ( Hà Nam), hồng Hạc Trì ( Phú Thọ), hồng Thạch Thất ( Hà
Tây), hồng vuông Thạch Hà ( Hà Tĩnh)...Trong đó giống hồng không hạt Bảo
Lâm được trồng tại xã Bảo Lâm, tỉnh Lạng Sơn cũng là một giống hồng quý
được coi là giống cây ăn quả đặc sản của tỉnh Lạng Sơn. Sở nông nghiệp và phát
triển nông thôn Lạng Sơn [25], UBND tỉnh Lạng Sơn [42].
Quả hồng có giá trị dinh dưỡng khá cao. Kết quả phân tích hàm lượng các
chất dinh dưỡng trong một quả hồng tươi ( nặng 168g) của các nhà khoa học Mỹ
1- 1,2 triệu đồng. Vì vậy giống hồng Bảo Lâm đã được tỉnh Lạng Sơn coi là một
cây trồng quan trọng trong chương trình xoá đói giảm nghèo và phủ xanh đất
trống đồi trọc ở Bảo Lâm và các vùng lân cận với mục tiêu đưa diện tích giống
hồng này lên 1800 - 2500 ha năm 2015 [42] tạo vùng hồng hàng hoá tập trung
chất lượng cao. Nhưng việc mở rộng diện tích trồng hồng còn gặp nhiều khó
khăn trong nhân giống, phòng trừ sâu bệnh hại, kỹ thuật trồng và chăm sóc, biện
pháp chống rụng quả cũng như các chỉ dẫn địa lý cho vùng trồng giống hồng
Bảo Lâm....các vấn đề vừa nêu chưa được nghiên cứu xem xét một cách đầy đủ
vì vậy cho đến nay vẫn chưa xây dựng được các quy trình trồng và chăm sóc
hồng để hướng dẫn và khuyến cáo cho người làm vườn. Thực tế đó đã dẫn đến
tình trạng các diện tích hồng được trồng ở Bảo Lâm hiện nay có năng suất thấp,
quả bé, giống bị thoái hoá.... không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất trong nền
kinh tế thị trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Xuất phát từ tình hình thực tế trên nhằm từng bước xác định được các biện
pháp canh tác phù hợp, góp phần hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc đối với
giống hồng không hạt Bảo Lâm tại Lạng Sơn chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài:
" Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sâu bệnh hại và sử dụng chất điều hoà
sinh trưởng đối với hồng không hạt Bảo Lâm - tại Lạng Sơn."
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Xác định một số đặc điểm sinh học, tình hình sâu bệnh hại và sử dụng chất
điều hoà sinh trưởng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hồng không hạt Bảo
Lâm tại Lạng Sơn.
3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Điều tra hiện trạng sản xuất hồng Bảo Lâm tại xã Bảo Lâm, huyện Cao
Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
hại... Từ đó có những đề xuất về các nội dung cần xem xét, nghiên cứu nhằm
từng bước hoàn chỉnh quy trình kỹ thuật khuyến cáo cho người làm vườn tại Bảo
Lâm và các vùng lân cận.
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu quy luật ra cành hồng
Cây hồng ra hoa kết trái, sinh trưởng hàng năm phụ thuộc rất lớn vào các
yếu tố đất đai, khí hậu thời tiết, tuổi cây, giống...Trong một năm cây hồng
thường có 2-3 đợt lộc là lộc xuân, lộc hè, lộc thu. Phạm Văn Côn [6], [7]; Vũ
Công Hậu [14], [15]; Trần Như Ý [50], [51]. Các đợt lộc thường có liên quan
khá chặt chẽ với nhau, quá trình ra lộc của năm trước là tiền đề cho sự ra hoa kết
trái của năm sau. Nguyễn Thế Huấn [16]. Nghiên cứu quy luật ra cành để có các
biện pháp kỹ thuật cần thiết, hợp lý tác động và điều chỉnh quá trình ra lộc nhằm
hạn chế hoặc thậm chí loại bỏ hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ
của cành quả năm sau góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
xuất hồng. Vũ Công Hậu [13], [14].
1.1.3. Cơ sở khoa học của việc điều tra thành phần sâu bệnh hại hồng
Sâu bệnh hại cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến sinh
trưởng, phát triển, của cây, năng suất và chất lượng quả. Theo Đường Hồng Dật
(1984) [9]; Hà Quang Hùng [17]; Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân (1998) [29];
Nguyễn Công Thuật (1996) [32] thì sâu bệnh hại có thể làm giảm từ 20 -30%
năng suất, thậm chí mất trắng. Cây hồng cũng như các cây ăn quả lâu năm khác
đều có rất nhiều đối tượng sâu bệnh gây hại. Phạm Văn Côn [7]; Chu Vĩnh
Đông, Lộ Hoa Trung [12]; Vũ Công Hậu [15]; Trần Thế Tục [37], [39]; Nguyễn
Văn Tuất và cộng sự [40], [41]; Viện Bảo vệ thực vật [47]. Tuy nhiên các nghiên
cứu về sâu bệnh gây hại đối với cây hồng vẫn chưa đầy đủ, thực tế những năm
vừa qua do không kiểm soát được sâu bệnh đã dẫn đến nhiều vườn hồng ở Bảo
Lâm bị giảm năng suất, có nhiều cây bị chết...Nghiên cứu, điều tra thành phần
lệ đậu quả khá cao nhưng tỷ lệ rụng quả cũng lớn. Nguyễn Thế Huấn (2006)
[16]; Hoàng Thị Nam (2007) [21]; Lưu Vinh Quang (1995) [24], mức độ rụng
cũng tuỳ thuộc vào giống, khí hậu thời tiết và chế độ chăm sóc. Theo Lưu Vinh
Quang (1995) [24], thì nguyên nhân rụng quả hồng gồm: rụng quả sinh lý, rụng
quả do thiếu dinh dưỡng trong đất, rụng quả do thời tiết khí hậu, rụng quả do sâu
bệnh hại, rụng quả do tác động cơ giới như tập quán nhân giống bằng rễ của
người làm vườn... Trong đó rụng quả sinh lý là nguyên nhân chủ yếu. Rụng quả
sinh lý là do các nguyên nhân nội tại như:
- Quả không thụ tinh.
- Mất cân đối về dinh dưỡng do bón phân không cân đối, không đầy đủ,
hoặc thiếu hụt các nguyên tố vi lượng như: Bo, S, Mg, Zn...
- Tác động bất lợi của môi trường như nhiệt độ quá cao, hạn, úng.
- Mất cân đối về chất điều hoà sinh trưởng như hàm lượng IAA giảm sẽ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
làm tăng sự rụng quả... Vì vậy việc sử dụng một số chất điều hoà sinh trưởng
phun bổ sung nhằm làm giảm tỷ lệ rụng quả là cần thiết. Phun chất điều hoà sinh
trưởng không những thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát triển của cây mà còn
làm chậm việc hình thành tầng rời, đảm bảo cho việc vận chuyển các chất
dinh dưỡng vào nuôi quả nên giảm được tỷ lệ quả bị rụng. Lê Văn Tri [33], [34].
1.2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CÂY HỒNG
1.2.1. Những nghiên cứu về nguồn gốc, phân loại
1.2.1.1. Nguồn gốc
Cây hồng (Diospyros) thuộc bộ thị (Ebenales), họ thị (Ebenaceae), phân
lớp sổ (Dilleniaceae), lớp hai lá mầm (Dicotyledoneae), ngành thực vật hạt kín
(Angiospermae). Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến [1]; Vũ Văn Chuyên [2].
Các nghiên cứu về nguồn gốc của cây hồng phương Đông cho rằng một số
nhóm hồng thuộc loài hồng dại ( Diospyros kaki) tồn tại trong những khu rừng
cứu cho biết: Mori (1953) chia hồng thành 4 nhóm đó là:
- Nhóm 1: Nhóm PCNA ( Pollination Constant Non- Astringent) là nhóm
gồm những giống hồng không chát, không biến đổi với sự thụ phấn, thịt quả
thường có những đốm tanin sẫm. Các giống thuộc nhóm này như: Fuju, Jiro,
Gosh, Suruga...
- Nhóm 2: Nhóm PVNA (Pollination Variant Non-Astringent) là nhóm
gồm những giống không chát và biến đổi với sự thụ phấn, thịt quả có những đốm
tanin sẫm, khi không có hạt thì thịt quả có vị chát. Các giống thuộc nhóm này
như: Zenjimaru, Shogatsu, Mizushima, Anahya kume...
- Nhóm 3: Nhóm PCA (Pollination Constant Astringent) là nhóm gồm
những giống chát, không biến đổi với sự thụ phấn, thịt quả không có những đốm
tanin sẫm. Các giống thuộc nhóm này như: Y okomo, Yosumizo, Shakokashi,
Hagakushi, Hachiya...
- Nhóm 4: Nhóm PVA (Pollination Variant Astringent) là nhóm gồm
những giống chát và biến đổi với sự thụ phấn, quả có thể chát khi được thụ phấn
và có một vài đốm tanin sẫm xung quanh hạt. Các giống thuộc nhóm này như:
Azumi, Shirazu, Emon, Kosshuhya kume, Hiratanenashi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Theo Voronxov (1982) [48] thì trên thế giới hiện nay trồng phổ biến 03
loại hồng là:
- Hồng dại (Diospyros lotus L): Nhị bội thể 2n = 30, cây có thể cao 20-
30m, đường kính gốc thân có thể đạt 70 cm, thuộc loại cây có hoa đơn tính khác
gốc, quả bé (trọng lượng trung bình 15g/quả), rất chát.
- Hồng Virginiana (D.virginiana L): Tứ bội thể 4n = 60 hoặc lục bội thể
6n = 90, cây có thể cao 30-35 m, đường kính gốc thân có thể đạt 70-80cm, thuộc
loại cây có hoa đơn tính khác gốc, quả bé (trung bình 22g/quả), quả khi chín màu
đỏ thơm ngon không chát, chất lượng quả tốt hơn hồng phương Đông.
(tanin) trong qua ra làm cho quả không còn vị chát, cũng có thể đem dấm cho
quả chín mềm mà không cần ngâm, khi đó tanin ở dạng tự do chuyển sang dạng
kết hợp thì quả sẽ có vị ngọt và không còn vị chát, nếu sử lý chát bằng dấm chín
thì quả sẽ ngọt hơn so với ngâm vì trong quá trình dấm thì một phần chất tanin
được chuyển thành đường.
+ Nhóm hồng dấm: Chất tanin trong quả thuộc dạng không hoà tan trong
nước. Nên được khử chát bằng cách dấm đất đèn hoặc đốt hương.... Sau khi
được dấm thì quả chín mềm và không còn chát.
1.2.2. Những nghiên cứu về phân bố và sản xuất hồng
1.2.2.1. Phân bố và sản xuất hồng trên thế giới
Các nghiên cứu đều cho rằng Trung Quốc là nước trồng hồng nhiều nhất
thế giới, hồng được trồng trên khắp đất nước Trung Quốc (trừ các tỉnh Hắc Long
Giang, Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng), các tác giả Trung Quốc cho rằng
vùng trồng hồng tốt nhất là từ vĩ tuyến 33
0
- 37
0
vĩ Bắc, ở đây có nhiều giống
hồng tốt, chất lượng cao, sinh trưởng, phát dục thuận lợi. Vũ Công Hậu [13],
[14], những nước có diện tích, sản lượng hồng lớn sau Trung Quốc là: Hàn
Quốc, Nhật Bản...(bảng 1.1)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Bảng 1.1. Diện tích, sản lượng hồng một số nước trên thế giới
Tên nước
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Diện tích
(ha)
Á và bắc Mỹ, sự phân bố của các loài còn phụ thuộc vào mục đích và nhu cầu sử
dụng của người trồng.
Loài Diospyros kaki L. Phân bố chủ yếu ở 4 nước: Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc và Việt Nam. Ở châu Á quả hồng được sử dụng chủ yếu để ăn tươi, tại
Trung Quốc, Nhật Bản quả hồng được sử dụng làm một trong những món tráng
miệng chính trong khẩu phần ăn hàng ngày. Các sản phẩm chế biến từ hồng
thường được tiêu thụ mạnh ở thị trường châu Âu, người châu Âu ở vùng Địa
Trung Hải đã quen với cây hồng và cho rằng quả hồng chín rất ngọt, hương vị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
đậm đà và có tập quán thường dùng thìa ăn hồng khi đã chín nhũn. Vũ Công Hậu
[15]; Trần Thế Tục [37].
1.2.2.2. Phân bố và sản xuất hồng ở Việt Nam
Bảng 1.2. Diện tích, sản lượng hồng ở Việt Nam
Năm Diện tích (ha) Năng suất (Tạ/ha) Sảnlượng (tấn)
1998 2.575,00 46,00 5.469
2000 4.713,00 46,20 9.750
2004 4.827,70 47,00 10.507
Nguồn: Viện nghiên cứu rau quả Trâu Quỳ, Hà Nội
Hồng là một loại cây ăn quả quan trọng đã được trồng từ rất lâu ở Việt
Nam vì quả hồng có phẩm vị ngon, trồng hồng có hiệu quả kinh tế cao hơn so
với trồng một số loại cây ăn quả khác như mơ, mận, đào...Những năm gần đây
cây hồng đang ngày càng được chú ý phát triển ở nhiều tỉnh trên cả nước, nhưng
tập trung chủ yếu ở vùng trung du, miền núi phía Bắc như Lạng Sơn, Bắc Giang,
Bảng 1.3. Diện tích hồng ở một số tỉnh năm 2006
Số TT Tên tỉnh Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Thái Nguyên* 1.565,00 17,24
2 Bắc Giang 1.562,00 17,20
ngày và đêm khoảng 9
0
C, các tháng trong mùa khô có biên độ nhiệt ngày đêm
lớn hơn mùa mưa.
- Mùa mưa thường bắt đầu từ giữa tháng 4 đầu tháng 5, kết thúc vào cuối
tháng 10 giữa tháng 11 và chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa năm.
- Độ ẩm không khí trung bình 85%, các tháng 7,8,9 ẩm độ không khí
tương đối cao (90- 92%). Mùa khô độ ẩm không khí giảm xuống dưới 80%, độ
ẩm tương đối thấp nhất vào tháng 2, 3 ( 75-78%).
Hồng trồng ở Đà Lạt chủ yếu là các giống thuộc loài Diospyros kaki L.
Đây cũng là loài được trồng phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và
các tỉnh phía Bắc nước ta. Các giống hồng được trồng phổ biến gồm:
+ Hồng trứng lốc. Quả hình trứng, khi chín có màu hồng, bóng láng. Cây
có tán lớn, năng suất cao có thể đạt 5-6 tạ/cây/năm, có khả năng chống chịu tốt với
sâu bệnh, dễ trồng. Đây là một trong những giống hồng được ưa chuộng nhất hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
nay. Qu ả khi chín ăn rất ngọt, giòn, thích h ợp cho việc vận chuyển đi xa, thời gian thu
hoạch sớm từ tháng 6 - 8.
+ Hồng trứng muộn. Quả hình trứng, khi chín có màu hồng, bóng. Cây có
tán trung bình, năng suất cao có thể đạt 3 -4 tạ/cây/năm, chống chịu tốt, quả khó
rụng khi gió lớn, chất lượng quả không bằng hồng trứng lốc, nhưng vì chín muộn
(thu hoạch hàng năm vào tháng 10-11) nên giá bán cao.
+ Hồng Pome tròn. Quả tròn to, mã đẹp, năng suất tương đối cao, trung
bình đạt 1 tạ/cây/năm. Q uả chín có mầu đỏ son, phẩm chất tốt, rất được ưa
chuộng. Thu hoạch muộn vào tháng 9 - 10 hàng năm.
+ Hồng chén. Cây có tán lá trung bình, cành yếu nên thư ờng phải có biện
pháp chống đỡ khi quả lớn. Lá nhiều, thư ờng che khuất quả, năng suất trung
+ Hồng vuông không hạt. Cây cao trung bình 9,5m, đường kính tán cây
9,2m, thân không to lắm (đư ờng kính gốc khoảng 27cm), tán hình dù. Lá to hơi
bầu dài 15cm, rộng 11cm, mặt trên xanh đậm và bóng, mặt dưới có màu xanh
nhạt và có lông màu vàng mọc dày theo gân lá. Quả hình vuông có khía sâu dọc
quả, chiều cao và đường kính quả khoảng 6,3cm, trọng lượng quả 160g, tỷ lệ
phần ăn được 93%, tỷ lệ chất khô 15%, tỷ lệ đường 9,5%, tỷ lệ axit 0,3%. Vỏ
quả hơi dày, bóng, dễ bóc, vỏ khi chín có màu đỏ vàng, ít xơ, thịt quả có mầu đỏ
hồng, được nhiều người ưa thích. Năng suất trung bình có thể đạt 400 -
500kg/cây.
+ Hồng tròn. Cây cao trung bình 10,5m, tán rộng 8,3m, hình cầu, đường
kính gốc thân 27cm. Lá hình bầu dục, dài 14cm, rộng 10,5cm, mặt trên xanh
bóng, mặt dưới có lông tơ màu vàng nhưng thưa hơn so với lá hồng vuông không
hạt. Quả hình tròn, đỉnh quả tròn, vỏ dày và bóng khi chín có màu vàng, thịt quả
có màu vàng nhạt, không có xơ, ăn ngọt. Trọng lượng trung bình quả 120g, chiều
cao và đường kính quả khoảng 6,0cm. Tỷ lệ chất khô 18,7%, đư ờng 11%, axit
0,2%, có 0,5 hạt/1quả. Năng suất 1 cây khoảng 250-300kg.
* Vùng Nam Đàn- tỉnh Nghệ An
Huyện Nam Đàn nằm sát thành phố Vinh có lượng mưa bình quân năm là
1.928mm. Hồng được trồng tập trung ở 2 xã Nam Xuân và Nam Anh, diện tích
hồng chiếm tới 33,7% tổng số diện tích cây ăn quả các loại của hai xã. Có rất
nhiều giống hồng được trồng ở vùng này như:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
+ Hồng cậy vuông. Cây cao trung bình 6,4m, tán rộng 7,5m, hình bán
nguyệt. Lá to hơi tròn, mặt trên bóng nhẵn, mặt dưới xanh nhạt có lông tơ màu
nâu tập trung ở gân lá. Quả hình vuông, đỉnh quả bằng hoặc hơi lõm. Khi chín vỏ
quả màu đỏ, vỏ mỏng giòn, có ít phấn ở gần cuống quả. Tai quả nhỏ, vểnh lên,
gốc quả lõm ít, thịt quả có màu đỏ. Chiều cao quả 3,3cm, đường kính quả 4,1cm.
hình bầu dục. Quả tròn dài, đáy quả thắt lại, rốn quả tròn, tai quả cong lên, vỏ
quả màu vàng bóng. Trọng lượng quả trung bình 70,6g, có khoảng 5,1 hạt/quả.
* Vùng Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Nằm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, có lượng mưa trung bình năm 1751 mm,
nhiệt độ trung bình 23,7
o
C, ẩm độ trung bình 85%, tổng số giờ nắng trong năm
đạt 1437 giờ. Vùng này có hai giống hồng quý là:
+ Hồng Nhân Hậu. Được trồng chủ yếu ở xã Hoà hậu, thân cây màu xám,
cành bánh tẻ màu nâu, tán cây hình bán nguyệt, độ cao phân cành trên 1m. Lá
lớn, hình bầu dục, mầu xanh đậm, mặt trên bóng láng, mặt dưới có lông tơ màu
nâu vàng, chiều dài lá 15,8cm, chiều rộng lá 10,4 cm. Quả hình trái tim, khi chín
có màu đỏ thắm, thu hoạch vào trung tuần tháng 8 âm lịch. Vỏ quả mỏng, thịt
quả dẻo, ít hạt. Trọng lượng quả trung bình 150- 250g.
+ Hồng Văn Lý: Được trồng chủ yếu ở xã Văn Lý, thân cây màu xám,
cành bánh tẻ màu xám sáng. Tán cây thường có hình dù, độ cao phân cành 60-70
cm. Lá lớn trung bình, hình bầu dục, mặt trên hơi ráp. Lá có chiều dài 14,4 cm,
chiều rộng 7,5 cm. Quả hình trụ, trôn quả tròn, khi chín có màu đỏ vàng, không
hạt. Trọng lượng quả trung bình 70-90 g. Chín vào giáp tết âm lịch.
* Vùng Thạch Thất tỉnh Hà Tây
Huyện Thạch Thất nằm ở phía đông bắc tỉnh Hà Tây có nhiệt độ trung
bình năm 23,3
0
C, Lượng mưa trung bình năm1.554 - 1.780 mm. Vùng này chỉ
trồng một giống hồng duy nhất có nguồn gốc từ Yên Thôn nên người ta gọi là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
hồng Yên Thôn hay hồng Thạch Thất, do đặc tính sinh trưởng khoẻ, thích nghi
hẹp). Lá thuôn dài, mặt trên màu xanh đậm, bóng, mặt dưới xanh trắng có lông
thưa. Quả hình trứng, trọng lượng quả trung bình 100-150g có 1-3 hạt, hạt dài và
dày. Chín vào tháng 9. Khi chín vỏ màu vàng nhạt, thịt quả màu vàng, thuộc
nhóm hồng ngâm.
+ Hồng ngâm hình quả trụ dài. Cây cao khoảng 7m, tán rộng 4m (tán hẹp).
Lá thuôn dài, mặt trên xanh bóng, mặt dưới màu trắng, xanh có lông tơ thưa màu
vàng. Quả hình trụ dài, trọng lượng quả trung bình 100-150g, chín vào tháng 9.
Khi chín quả có màu vàng không đều, phía tai quả xanh, phía trôn quả màu vàng,
quả có thể không hạt hoặc có 1-2 hạt.
* Vùng Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn
Huyện Cao Lộc nằm ở phía Bắc tỉnh Lạng Sơn. Nhiệt độ trung bình
năm 21,2
0
C. Biên độ nhiệt bình quân ngày đêm là: 7,8
0
C. Mùa đông nhiệt độ
trung bình xuống thấp 12-15
0
C, có năm xuống dưới 0
0
C nhưng chỉ trong thời
gian ngắn. Tổng tích ôn năm 7738
0
C.
Lượng mưa trung bình hàng năm 1.392mm, nhưng phân bố không đều,
mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 9 và chiếm khoảng 75%
tổng lượng mưa cả năm.
Ẩm độ không khí bình quân năm là 82%, nhưng các tháng mùa khô (từ
tháng 10 năm trước đến tháng 1 năm sau) có lúc ẩm độ không khí xuống đến
50%. Lượng bốc hơi bình quân năm 1070,8mm.
tuổi đường kính thân chỉ đạt 25- 30cm, chiều cao cây chỉ đạt 5 - 6m. Trần Như Ý
và cộng sự [50], [51].
Hồng là cây thay lá hàng năm về mùa đông, có thời gian ngủ nghỉ rõ rệt.
Trong các loại cây thay lá, hồng ưa nhiệt độ tương đối cao, vì vậy rụng lá sớm và
nảy mầm muộn. Ở miền Bắc hồng thường rụng lá vào cuối tháng 10, đến giữa
hoặc cuối tháng 2 mới ra lộc, thời gian ngủ nghỉ khoảng 2-3 tháng. Vũ Công Hậu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
[13], [14], [15].
Thời gian ra lộc của hồng phụ thuộc vào nhiệt độ. Nơi nào, năm nào có
nhiệt độ cao hồng sẽ ra lộc sớm hơn, tập trung hơn và ngược lại. Trong một năm
hồng ra 3 - 4 đợt lộc tuỳ thuộc vào tuổi và khả năng sinh trưởng của cây. Cây già
chỉ ra một đợt lộc chủ yếu là lộc xuân, cây non một năm có thể ra 3 - 4 đợt lộc.
Nhưng các đợt lộc thứ 3, thứ 4 thường yếu biểu hiện ở cành ngắn, số lượng ít.
Phạm Văn Côn [7]; Vũ Công Hậu [14], [15]; Trần Như Ý và cộng sự (2000)
[51]. Cây hồng có các đợt cành chính sau:
- Cành xuân. Nảy đồng loạt vào trung tuần tháng 2 đến tháng 3, trên cành
lúc này có cả mầm hoa và mầm dinh dưỡng.
- Cành hè. Nảy vào tháng 6, tháng 7.
- Cành thu. Nảy vào tháng 8, tháng 9. Đây là đợt cành mẹ của cành mang
quả năm sau vì vậy trong sản xuất cần chú ý chăm sóc và bồi dưỡng.
Đối với những cây đã ra hoa kết quả thì trong đợt cành xuân thường có 3
loại cành: cành sinh trưởng, cành mang hoa đực và cành mang hoa cái. Phạm
Văn Côn [5], [6], [7].
+ Cành sinh trưởng. Là những cành không mang hoa, không có quả, chỉ có
lá làm nhiệm vụ quang hợp và tích luỹ dinh dưỡng nuôi quả.
+ Cành mang hoa đực. Loại cành này thường nhỏ, mọc từ gốc cành năm
trước, sinh trưởng yếu nên cành ngắn, cành mang hoa đực chủ yếu làm nhiệm vụ