Khảo sát tình hình cung ứng thuốc tại các nhà thuốc tư theo một số chỉ báo của tổ chức y tế thế giới WHO - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
■ ■ ■ ■
Bộ Y TÊ
VŨ NĂNG THOẢ
KHẢO SẤT TÌNH HÌNH CUNG ỨNG THUỐC
TẠI CÁC NHÀ THUỐC Tư THE0 MỘT sổ CHỈ BÁO
CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI [WHO]
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ ĐẠI HỌC KHOÁ 1998 - 2003)
Người hướng dẫn ; TH.S NGUYỄN THANH BÌNH
Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược
Thời gian thực hiện : Tháng2 - 5 nấm 2003
HÀ NỘI, THÁNG 5 - 2003
MZ12o9
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Thanh Bình
- Người đã dành nhiều công sức và thời gian hướng dẫn để em hoàn
thành khoá luận này.
Sau nữa em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo
trường Đại học Dược Hà Nội và đặc biệt các thầy cô giáo trong bộ
môn Quản lý và Kinh tế Dược đã truyền đạt cho em những kiến thức
quỷ báu trong thời gian học tập.
Do sự hạn chế về kiến thức cũng như tầm hiểu biết của một sinh
viên nên khoá luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong có sự nhận xét, góp ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn sinh
viên và những người có cùng sự quan tâm để có một khoá luận hoàn
chỉnh hơn.
Hà Nội, ngày 29/5/2003
Sinh viên
Vũ Năng Thoả
MỤC LỤC
Trang

3.3.2 Công thức 24
3.3.3 Kết quả ■ 24
3.3.4 Nhận xét 24
3.4 Phân tích các đơn thuốc đã được mua tại các nhà thuốc
3.4.1 Số thuốc trung bình trong một đơn
3.4.2 Tỷ lệ đơn thuốc có kháng sinh
3.4.3 Tỷ lệ đơn thuốc có thuốc tiêm
3.4.4 Tỷ lệ thuốc thiết yếu được kê đơn
3.4.5 Tỷ lệ các thuốc được bán theo đơn
3.4.6 Tỷ lệ thuốc có danh pháp INN hoặc tên gốc (GN) được
kê đơn.
3.4.7 Số tiền tùng bình một đơn thuốc
3.4.8 Nhận xét
3.5 Giá trị thuốc thiết yếu được bán so với tổng giá trị thuốc đã
bán.
3.5.1 Mục đích
3.5.2 Công thức
3.5.3 Kết quả
3.5.4 Nhận xét
3.6 Giá trị thuốc sản xuất trong nước đã bán so với tổng giá tiị
thuốc đã bán
3.6.1 Mục đích
3.6.2 Cổng thức
3.6.3 Kết quả
3.6.4 Nhận xét
3.7 So sánh một cơ số thuốc tại thời điểm hiện nay với năm 2002
3.7.1 Mục đích
3.7.2 Kết quả khảo sát
3.7.3 Nhận xét
3.8 Trình độ người bán thuốc tại các nhà thuốc

Dược trong thời điểm hiện nay nói riêng. Để góp phần tìm hiểu vấn đề này
chúng tôi tiến hành đề tài "Khảo sát tình hình cung ứng thuốc tại các nhà
1
thuốc tư theo một số chỉ báo của tổ chức Y tế thế giới (WHO)" với các mục
tiêu sau:
1. Đánh giá một số hoạt động cung ứng thuốc tại các nhà thuốc tư
thuộc các quận nội thành Hà Nội.
2. Đánh giá trình độ hiểu biết của người dân khi sử dụng thuốc
3. Bước đầu đánh giá việc kê đơn của người thầy thuốc qua những
đơn thuốc được bán tại các nhà thuốc tư.
2
p hầí>(i) t ổ n g q u a n
1.1 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới.
Chăm sóc sức khỏe toàn dân là một trong các chiến lược phát triển
của đại đa số các quốc gia trên thế giới. Để chăm sóc sức khỏe nhân dân có
hiệu quả ngoài việc cung cấp kịp thời đầy đủ thuốc có chất lượng cao và giá
cả hợp lý thì vấn đề sử dụng thuốc hợp lý và an toàn có một vai trò rất quan
trọng.
Theo một số nghiên cứu cho thấy hiện tại thế giới sử dụng thuốc còn
tồn tại hai vấn đề lớn:
- Sự phân bố không đồng đều thuốc giữa các nước đang phát triển và
phát triển.
- Sử dụng thuốc không an toàn, hợp lý [4].
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), đến năm 1995 vẫn còn 50% dân
số thế giới không được chăm sóc sức khỏe khi mắc những chứng bệnh
thông thường, nhất là không có thuốc thiết yếu. Các công trình nghiên cứu
đã khẳng định có khoảng 50% bệnh nhân không sử dụng thuốc khi được
chỉ định dùng điều trị. Hiện trạng đó làm cho tác dụng và hiệu quả điều trị
và dự phòng bị giảm và đặc biệt trong lĩnh vực kháng sinh vi khuẩn lại
kháng kháng sinh nhiều hơn[4].

có 13 trường hợp nhầm lẫn tiêm vincristin chống ung thư vào tuỷ sống; làm
4
cho 10 người tử vong, 3 người bị bại liệt [21]. Từ đó đặt ra vấn đề người
thầy thuốc phải có trình độ chuyên mồn sâu, có tinh thần trách nhiệm khi
chăm lo bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Việc kê đơn và bán thuốc theo đơn đang được quan tâm nhiều hơn.
Thực trạng hiện nay các bác sĩ được các hãng dược phẩm dùng lợi ích kinh
tế để khuyến khích kê đơn các sản phẩm của hãng, về phía người kinh
doanh dược phẩm có không ít người chỉ vì lợi J cinh tế bán thuốc cho bệnh \/
nhân những thuốc tác dụng mạnh cũng như là sinh lợi lớn và bán những
thuốc cần kê đơn. Còn về bệnh nhân có người chỉ mua một số thuốc trong
đơn hoặc tự ý không dùng một số thuốc được bác sĩ kê [14].
Theo một nghiên cứu cho thấy ngay cả những nước phát triển việc
lạm dụng kháng sinh cũng phổ biến. Tại Mỹ thì phòng khám cấp cứu ở
Syracause New York đã kê đơn kháng sinh cho 82% những người bệnh bị
viêm phế quản. Trong 295 bệnh nhân viêm phế quản gần như tất cả đều bị
ho và nhiều đờm nhưng không ai cần dùng kháng sinh. Do đó việc sử dụng
kháng sinh không hợp lý đã dẫn đến hiện trạng gây tăng các nhiễm khuẩn
kháng thuốc. Trước thực trạng đó Cơ quan quản lý chất lượng thuốc và thực
phẩm của Mỹ (FDA) khuyến khích các thầy thuốc chỉ kê đơn kháng sinh
dùng toàn thân khi thật cần thiết và hướng dẫn người bệnh về tầm quan
trọng của việc dùng kháng sinh theo đúng ehỉ dẫn [20].
Việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, là rất quan trọng nó đã và đang là
mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới, cả nước phát triển và đang phát
triển. Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã có quan tâm rất lớn về điều này nên
từ những năm 70, Tổ chức y tế thế giới đã thành lập chương trình thuốc
thiết yếu. Nhưng để việc sử dụng thuốc được thật sự hợp lý, an toàn thì đòi
5
hỏi phải có những thay đổi thật sự tích cực từ phía người thầy thuốc, người
bán thuốc và cả trình độ dân trí của bệnh nhân về sức khỏe.

tăng so với năm 2001. Thuốc đông dược có tỷ lệ không đạt tiêu chuẩn chất
lượng chiếm 9,61%. Tính đến ngày 31/12/2002, đã có 70 lô thuốc bị Cục Quản
lý dược Việt Nam- Bộ Y tế đình chỉ, trong đó có 51 lô thuốc nước ngoài và 19 lô
thuốc trong nước. Năm 2002 tập trung vào mặt hàng có hoạt chất dễ bị phân huỷ
là men giảm phù nề chống viêm Serratio peptidase nên Cục Quản lý dược Việt
Nam - Bộ Y tế đã rút số đăng ký của 10 mặt hàng có chứa men Serratio
peptidase. Thuốc giả chỉ chiếm 0,3% có xu hướng giảm so vói các năm trước [3].
Bên cạnh những mặt tích cực mà thị trường thuốc thời mở cửa đem
lại thì cũng đồng thời tạo nên sự phức tạp, mất trật tự, thậm chí hỗn loạn rất
khó khăn trong quản lý. Đi dạo quanh phố phường, làng xã, quán chợ quầy
bán thuốc tràn lan. Những người không có trình độ cũng kinh doanh dược
phẩm [19]. Do đó, người dân có thể dễ dàng mua thuốc ở mọi nơi khi có
nhu cầu dùng thuốc.
0
Thị trường thuốc phong phú nên hiện nay diễn ra sự cạnh tranh khốc
liệt giữa hàng sản xuất trong nước và hàng sản xuất tại nước ngoài là không
cân sức do có nhiều yếu tố chủ" quan và khách quan, trong đó thị hiếu thích
dùng thuốc ngoại của nhân dân và đặc biệt là người thầy thuốc [6]. Theo
nghiên cứu tại 4 bệnh viện trung ương: Bạch Mai, Hữu Nghị, Viện 108,
Việt Đức thấy tỷ lệ các loại thuốc nước ngoài chiếm 60,4% các loại thuốc
dùng trong bệnh viện cho thấy xu hướng của người thầy thuốc và bệnh
7
nhân thích dùng thuốc ngoại. Phải chăng đây là do chất lượng thuốc nội
chưa được tốt.
Theo báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện pháp lệnh hành nghề y dược
tư nhân thì tính đến ngày 10/01/2001 cả nước có 17.733 cơ sở hành nghề
Dược tư nhân trong đó có 16.605 cơ sờ được đăng ký cấp giấy chứng nhận
đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề Dược tư nhân.Tuy nhiên các cơ sở
còn mắc sai chiếm tỷ lệ không nhỏ, theo báo cáo của 61 tỉnh thành phố thì V7
còn 1.128 cơ sở hành nghề không có giấy chứng nhận chiếm 6,36% và có

các cơ sờ khám chữa bệnh để bán những biệt dược đắt tiền, mặc dù những
bệnh đó chỉ cần thuốc thông thường cũng khỏi. Đôi khi ngưqri cung ứng
thuốc lại là người nghe thông tin từ bệnh nhân và bán thuốc. Theo một cuộc
khảo sát năm 1999 về nghiên cứu sử dụng thuốc an toàn, hợp lý thì số
người được hỏi mua kháng sinh theo gợi ý của người bán thuốc chiếm tỷ lệ
82,5%. Theo báo cáo của 57 tỉnh thành phố trong tổng số 10.436 cơ sở
thanh tra có 1.663 cơ sờ vi phạm, xử lý 893 cơ sở, với các hình thức: phạt
tiền 587 cơ sở với tổng số tiền phạt 810.764.650 đồng, cảnh cáo 311 cơ
s ^ ìn h chỉ hoạt động 121 cơ sở. Nội dung vi phạm chủ yếu : Dược sĩ chủ \ /
nhà thuốc vắng mặt; Người giúp việc bán thuốc không đủ tiêu chuẩn theo
qui định; Kinh doanh thuốc hết hạn, thuốc không có số đăng ký, thuốc đã
bị đình chỉ lưu hành; Ghi chép sổ mua bán và theo dõi chất lượng thuốc
không đầy đủ; Thực hiện chưa đúng qui chế chuyên môn dược đặc biệt là
qui chế quản lý thuốc độc, hướng tâm thần, thuốc gây nghiện; Biển hiệu
chưa đúng qui định; Bán thuốc không theo đơn; Thông tin quảng cáo thuốc
không đúng quy định; Thuốc nhập lậu; Phần lớn đại lý thuốc hoạt động quá
9
chức năng, còn kinh doanh thuốc ngoài danh mục được phép; Tình trạng
buôn bán thuốc nhập lậu cả tân dược và thuốc cổ truyền, đặc biệt là tại một
số tỉnh biên giói và thị trường thuốc thành phố Hồ Chí Minh; Hành nghề
không phép chủ yếu ở một số vùng sâu, vùng nông thôn [3].
Việc sử dụng thuốc không phải do người bệnh tự quyết định. Thực
chất là thầy thuốc là người tạo ra nhu cầu và chỉ định dùng thuốc. Một số
thầy thuốc gắn lợi ích của mình với các quầy thuốc trong và ngoài bệnh
viện để kê đơn thuốc [7]. Có những bệnh thông thường bác sĩ kê đơn tới
hàng trăm nghìn đồng. Còn bệnh thực sự thì kê đơn với các biệt dược đắt
tiền. Từ đó, dẫn tới tình trạng nhiều thuốc có chung tác dụng dược lý, một
số có tương tác khi sử dụng gây nên tình trạng quá liều hoặc gây phản ứng
không lợi cho bệnh nhân khi sử dụng.
Theo nghiên cứu "Nghiên cứu tình hình Dược Việt Nam theo bộ chỉ

thuốc của vi khuẩn.
%
Việc sử dụng kháng sinh quá tự do đã gây ra những hậu quả nghiêm
trọng. Vào đầu năm 1990, acid Nalidixic được sử dụng ở bệnh viện và cộng
đồng tại các tỉnh phía Nam để điều trị bệnh đường ruột. Năm 1996 mức độ
đề kháng acid Nalidic còn rất thấp 2,4% nhưng đến năm 1997 - 1998 tỷ lệ
kháng là 24% [9].
Tóm lại, thuốc phòng bệnh và chữa bệnh là hàng hoá đặc biệt, ảnh
hưởng trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe con người. Thực trạng hiện nay
vấn đề sử dụng thuốc hợp lý an toàn đang là vấn đề cấp bách của ngành
Dược. Và việc cung ứng thuốc chữa bệnh cho nhân dân được Đảng và nhà
nước đặc biệt quan tâm.
11
PHẦN II. PHƯỜNG PHÁP NGHIÊN cứ u
2.1.Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đơn vị nghiên cứu :
Các nhà thuốc tư tại các quận nội thành Hà Nội
2.1.2 Đơn vị quan sát:
- Người bán thuốc
- Người mua thuốc
- Đơn của thầy thuốc
2.2. Phương pháp chọn mẫu.
2.2.1 Phương pháp.
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn. Dựa vào danh mục
các nhà thuốc chọn ngẫu nhiên ra các nhà thuốc để tiến hành khảo sát.
2.2.2 Xác định cỡ mẫu.
Áp dụng công thức
n=72 pd - p)
(i-a/2) ^2
Trong đó :

%
- Giá tiền trung bình một lần mua.
- Tỷ lệ thuốc có tên gốc hoặc có danh pháp INN được mua.
- Tỷ lệ thuốc nội được mua.
- Tỷ lệ thuốc thiết yếu được mua.
- Tỷ lệ thuốc tự mua phải bán theo đơn.
- Tỷ lệ số lần mua thuốc có hướng dẫn sử dụng.
- Giá trị thuốc sản xuất trong nước đã bán so với giá trị thuốc đã bán.
- Giá trị thuốc thiết yếu đã bán so với giá trị thuốc đã bán.
13
PHẦN III. KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Từ 300 phiếu khảo sát thu thập tại 30 nhà thuốc tư ở Hà Nội. Chúng tôi
đã tiến hành phân tích xử lý số liệu để làm rõ một số vấn đề liên quan tói việc
cung ứng thuốc.
3.1 Tỷ lệ người mua thuốc theo đơn và không có đơn
Đánh giá việc dùng thuốc theo đơn và tự điều trị trong cộng đồng.
Tỷ lệ ngưòi mua thuốc theo đơn được tính theo công thức:
Số người mua thuốc theo đơn J> /
_________

______1 - - 1 "
______
_
___
_
________
X 100/
Tổng số người mua thuốc /0
Bảng 1: Số người mua thuốc theo đợn và không có đơn
Hình thức

nhiên việc tự mua thuốc vẫn chiếm tỷ lệ 76,7% là rất cao. Từ đó, đặt ra vấn đề
hiện nay các cấp có thẩm quyền nên có biện pháp quản lý thực hiện quy định,
quy chế chuyên môn tại các nhà thuốc tư nhân nhằm hướng tói việc cung ứng
thuốc đáy đủ, kip thời. Tăng cường công tác tuyên truyền sử dụng thuốc hợp
lý an toàn và có hiệu quả bằng nhiều hình thức, nâng cao dân trí trong việc sử
dụng thuốc.
3.2 Phân tích những trường hợp tự mua thuốc
Nhằm đánh giá mức độ biểu biết, mức độ thực hiện quy chế chuyên
môn của người bán thuốc trong việc cung ứng thuốc.
3.2.1. Số thuốc trung bình một lần tự mua
a. Công thức
Số thuốc trung bình một lần tự mua tính theo công thức
Tổng số thuốc tự mua
Tổng số lần tự mua
15
b. Kết quả
Bảng 2: Số thuốc trung bình một lần tự mua
Tổng số lần tự
mua
Tổng số thuốc
tự mua
Số thuốc trung bình
môt lần tư mua
230 237
1,03 ±0,05
Vậy số thuốc trung bình một lần tự mua là: 1,03.
3.2.2. Tỷ lệ thuốc tự mua phải bán theo đơn
a. Công thức
Tỷ lệ thuốc tự mua phải bần theo đơn tính theo công thức
Tổng số thuốc tự mua phải bán theo đơn 0

a. Công thức
Tỷ lệ số lần tự mua thuốc có kháng sinh theo đơn
Số lần tự mua có kháng sinh ữ /

1
X 100//
Tổng số lần tự mua thuốc
b. Kết quả
Bảng 4: Số lần tự mua thuốc có kháng sinh
Chỉ tiêu
Số lần
Tỷ lệ
(%)
Số lần tự mua có kháng sinh
51
22,2
Số lần tự mua không CQ kháng sinh 179
77,8
Tổng số lần tự mua thuốc
230
100,0
Biểu đồ 3: Tỷ lệ số lần tự mua có kháng sinh
22.2%
77.8%
□ Có kháng sinh
M Không có kháng sinh
Bảng 5: Số lần tự mua thuốc có kháng sinh phải kê đơn và không phải
kê đơn
Chỉ tiêu
Số lần Tỷ lê

Tỷ lệ thuốc thiết yếu được bán không đơn tính theo công thức:
Tổng số thuốc thiết yếu được bán không đơn /-

X 100 7
Tổng số được bán không đơn p
b. Kết quả
Bảng 7: Số thuốc thiết yếu được bán không đơn
Chỉ tiêu
Số thuốc
Tỷ lệ
(%)
Số thuốc thiết yếu được bán không đơn
157 68,2
Số thuốc không phải thuốc thiết yếu được
bán không đơn
80 21,8
Tổng số thuốc được bán không đơn
237
100,0
Vậy tỷ lệ thuốc thiết yếu được bán không theo đơn là 68,26%
Biểu đồ 5: Tỷ lệ thuốc thiết yếu được bán không đơn
21.8%
68.2%
H Thuốc thiết yếu
□ Không phải thuốc thiết yếu
19
3.2.6. Tỷ lệ thuốc có tên gốc (GN) hoặc tên danh pháp INN được bán

1 — 1 1
_________
X 100
Tổng số thuốc tự mua
b. Kết quả
Bảng 9: Số thuốc nội tự mua
Chỉ tiêu
Số thuốc
Tỷ lệ (%)
Thuốc nội tự mua
133
56,2
Thuốc khác tự mua
104
43,8
Tổng số thuốc tự mua
237
100,0
Số thuốc nội tự mua là 133 chiếm tỷ lệ 56,2% .
Biểu đồ 8: Tỷ lệ thuốc nội tự mua
H Thuốc nội □ Thuốc khác
3.2.8 Nhận xét:
Trong tổng số 230 lần tự mua thuốc thì số thuốc trung bình trong một
lần người dân tự mua là 1,03 thuốc. Như vậy, số thuốc trung bình một lần tự
mua không cao. Số thuốc cần phải bán theo đơn là 64 thuốc chiếm tỷ lệ 27%
trong tổng số thuốc người dân tự mua. So vối kết quả nghiên cứu năm 1998 tỷ
lệ thuốc tự mua phải bán theo đơn là 33,5% [7] thì kết quả lần này thấp hơn
21

Trích đoạn PHẦN IV KẾT LUẬN VÀ Ý KIÊN ĐỂ XUÂT 4.1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status