nghiên cứu đặc điểm tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn tổ chức y tế thế giới 2010 của nam giới đến khám tại trung tâm hỗ trợ sinh sản bệnh viện phụ sản trung ương - Pdf 22

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vô sinh là một trong những vấn đề chính của chiến lược sức khỏe sinh
sản của Tổ chức y tế thế giới (WHO). Theo định nghĩa của WHO, vô sinh là
tình trạng mà các cặp vợ chồng mong muốn có thai, sinh hoạt tình dục đều
đặn không sử dụng bất kỳ một biện pháp tránh thai nào nhưng không có thai
trong vòng 12 tháng trước khi nghiên cứu. Tỷ lệ vô sinh chung (bao gồm
nguyên phát, thứ phát) trên thế giới dao động khoảng 6-12%. Ở Việt Nam, tỷ
lệ vô sinh trên toàn quốc khoảng 7,7%, tỷ lệ này thay đổi theo từng vùng và
có xu hướng ngày càng tăng [1]
Vô sinh là vấn đề của một cặp vợ chồng. Theo ghi nhận của hầu hết y
văn và tài liệu trên thế giới, vấn đề vô sinh do nam giới đóng một vai trò khá
lớn trong nguyên nhân gây vô sinh. Nó chiếm tỷ lệ gần bằng hoặc tương
đương với các nguyên nhân gây vô sinh do nữ, cụ thể 40% nguyên nhân do
chồng, 40% nguyên nhân do vợ, do cả hai vợ chồng là 20% [2]. Suy giảm tinh
trùng là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra vô sinh nam. Các yếu
tố nội sinh và ngoại sinh đã và đang tác động một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp tới quá trình sinh sản và trưởng thành của tinh trùng. Sự phát triển công
nghiệp hóa xã hội làm môi trường ô nhiễm, cộng thêm lối sống và những loại
bệnh ảnh hưởng đến quá trình sinh sản bảo tồn nòi giống của con người đang
là những yếu tố ảnh hưởng xấu tới chất lượng tinh trùng [3].
Cho đến nay, phương pháp chính để chẩn đoán vô sinh nam thường dựa
trên kết quả của tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn của WHO bao gồm các chỉ số về
thể tích tinh dịch, mật độ tinh trùng, tỉ lệ tinh trùng di động, tỉ lệ tinh trùng
hình dạng bình thường Năm 1980, lần đầu tiên WHO đưa ra những tiêu
chuẩn cho việc đánh giá xét nghiệm tinh dịch người. Hơn 30 năm trôi qua, với
những sự chỉnh sửa phù hợp, phiên bản V của Cẩm nang hướng dẫn về xét
2
nghiệm chẩn đoán và xử trí tinh dịch người được xuất bản vào năm 2010 đã
hình thành những tiêu chuẩn đánh giá chung cho các bệnh viện, các phòng xét
nghiệm nam khoa trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, lĩnh vực vô sinh gần đây

Sertoli đang che chở cho các tế bào dòng tinh đang phát triển ở các giai đoạn
khác nhau. Các tế bào Sertoli nối với nhau nhờ các thể liên kết, làm thành hàng
rào máu - tinh hoàn, tránh cho tinh trùng tiếp xúc với tế bào miễn dịch trong cơ
thể, bảo vệ cho tinh trùng không bị hoạt hóa sinh ra kháng thể kháng tinh trùng
[6],[7], [8]. Xen kẽ giữa các ống sinh tinh là các mô liên kết: mạch máu, thần
kinh và những tế bào leydig – tế bào này đảm nhiệm chức năng nội tiết là sản
xuất ra hormon sinh dục nam: testosteron [9], [7], [10]
1.1.2. Quá trình sản sinh tinh trùng
Sinh tinh là một quá trình xảy ra liên tục có thể chia thành 3 giai đoạn:
giai đoạn tế bào mầm, giai đoạn biệt hóa chức năng để thụ tinh (phân bào
giảm nhiễm) giai đoạn biệt hóa về cấu trúc để có khả năng tự di chuyển [11],
[10]. Quá trình này xảy ra ở tất cả các ống sinh tinh của nam giới từ khi dậy
thì cho tới cuối cuộc đời [12].
4
1.1.2.1. Giai đoạn tế bào mầm:
Giai đoạn đầu của bào thai, các tế bào mầm nguyên thủy di chuyển tới
tuyến sinh dục đang phát triển. Những tế bào mầm này chưa trưởng thành gọi
là tinh nguyên bào (spermatogonia) sẽ phát triển bằng cách phân bào nguyên
nhiễm. Nguyên bào tinh nằm dọc bờ ngoài của ống tinh gần với tế bào Sertoli
và tế bào đệm [13]. Trước tuổi dậy thì nguyên bào tinh không hoạt động. Từ
tuổi dậy thì trở đi nguyên bào tinh phân chia liên tục bằng quá trình phân bào
nguyên nhiễm tạo thành nhiều tế bào và cung cấp liên tục các tế bào mới. Các
biểu mô mầm ban đầu dưới ảnh hưởng của testosteron phải mất khoảng 64
ngày mới biệt hóa để trở thành tinh trùng [6],[14].
1.1.2.2. Giai đoạn biệt hóa về cấu trúc
Các tiền tinh trùng biệt hóa thành tinh trùng trưởng thành (spermatozoa).
Quá trình biệt hóa này gọi là hiện tượng sinh tinh: các tiền tinh trùng dài ra phát
triển thành đuôi nối bào tương. Điểm cơ bản của quá trình biệt hóa là các tiền
tinh trùng vẫn được cung cấp đầy đủ bộ gien lưỡng bội của tế bào mẹ [11]
1.1.2.3. Giai đoạn biệt hóa về chức năng

1.1.4.2. Đuôi
Đuôi có hình roi gồm những ống nhỏ phù hợp để chuyển động. Ở phần
trên và đoạn giữa của đuôi tinh trùng, các ống được các ty lạp thể khá đặc biệt
bao xung quanh. Các ty lạp thể này nhu nhập dinh dưỡng và chuyển thành
ATP là nguồn năng lượng cho hoạt động của đuôi [11].
1.2. Hormon tham gia điều hòa quá trình tạo tinh trùng
Quá trình tạo tinh trùng ở các ống sinh tinh được kích thích bởi
testosteron do tế bào leydig của tinh hoàn sản xuất, dưới sự điều khiển phức
6
tạp bởi các hormon GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone) của vùng dưới
đồi và FSH (Follicle Stimulating Hormone), LH (Luteinizing hormon) của
tuyến yên [7].
1.2.1. FSH
FSH tác động lên tế bào đích là tế bào Sertoli, thông qua trung gian của
tế bào này tác động lên một số giai đoạn của quá trình sinh tinh. Tế bào
Sertoli chế tiết ra một loại protein ức chế FSH của tuyến yên. Mọi tổn thương
tế bào Sertoli hay tổn thương quá trình sinh tinh đều làm tăng nồng độ FSH
trong máu. Vùng dưới đồi có vai trò quan trọng vì chế tiết LH-RH một chất
điều khiển chế tiết FSH và LH của tuyến yên [16].
Vùng dưới đồi đảm nhận chức năng lồng ghép trục thần kinh-nội tiết sinh
sản, chế tiết hormon GnRH để phòng thích từng nhịp vào thùy trước tuyến yên.
Tuyến yên gắn với vùng dưới đồi bởi cuống yên, GnRH tác động lên tế
bào hướng sinh dục nằm rải rác trong thùy trước tuyến yên để tổng hợp các
hormon hướng sinh dục (Gonadotropin hormones) như FSH và LH [7]
Hormon FSH từ tuyến yên tác động lên các tế bào Sertoli, kích thích
enzym adenycyclase, làm tăng AMP vòng (adenosin monophosphat cyclic)
và thúc đẩy quá trình tổng hợp protein gắn androgen là ABP (androgen
binding protein). Protein này liên kết với testosteron rồi được tiết vào lòng
ống sinh tinh, nơi mà testosteron rất cần cho quá trình sinh tinh bằng cách
kích thích phát triển các tế bào mầm nguyên thủy ở gần màng đáy của các

testosterone – vai trò cận tiết (paracrin).
Testosteron tự điều chỉnh bằng cách điều chỉnh CYP 17 ở ty thể.
8
Inhibin ức chế tuyến yên sản xuất FSH: dưới ảnh hưởng của FSH, các
tế bào Sertoli sản xuất hormone inhibin A và B, ở người chỉ có inhibin B có
tác dụng ức chế FSH.
Prolactin được sản xuất bởi các tế bào hướng sữa nằm ở phần bên thùy
trước tuyến yên. Prolactin có khả năng ức chế cả FSH, LH và testosterone.
Estradiol là sản phẩm chuyển hóa từ testosterone tại tế bào Leydig,
Sertoli cũng như các mô đích khác như tuyến yên hay vùng dưới đồi … nhờ
enzym aromatase. Các hormon GnRH, LH và FSH bị ức chế chủ yếu bởi
estradiol. Khi testosterone không chuyển hóa được thành estradiol do khuyết
tật enzym aromatase hoặc khi estraiol kém tác dụng do khuyết tật thụ thể thì
testosterone ở nồng độ cao cũng không ức chế được LH [20], [21], [22].
β – endorphin có vai trò điều hòa các hormon sinh dục và ngược lại, các
hormon sinh dục có khả năng điều hòa sản xuất β – endorphin. Các nghiên cứu
cho thấy khi tiêm naloxon (một chất đối kháng thuốc phiện) vào cơ thể, người ta
thấy nhịp giải phóng LH tăng lên rõ rệt về tần số cũng như về biên độ.
Nồng độ LH, FSH, ACTH (adenocorticotropic hormon) đều tăng lên
trong máu, trong khi prolactin do stress gây nên lại giảm xuống. Kết quả này
cho thấy vai trò ức chế của endorphin đối với gonadotropin [13].
1.3. Các bệnh lý rối loạn quá trình tạo tinh trùng
Khả năng sinh sản của nam giới phụ thuộc vào số lượng, chất lượng của
tinh trùng và các yếu tố đảm bảo sự di chuyển của tinh trùng từ nơi nó được sinh
ra vào đường sinh dục nữ và kết thúc là gặp được noãn bào [6], [23].
Các bệnh lý rối loạn quá trình tạo tinh trùng chia làm hai nhóm:
- Rối loạn quá trình tạo tinh trùng do rối loạn các hormon hướng sinh
dục (nguyên nhân trước tinh hoàn).
- Rối loạn tinh trùng do bệnh lý của tinh hoàn (nguyên nhân tại tinh hoàn).
9

sự giảm sút chất lượng tinh trùng. Qua các nghiên cứu người ta đã nhận thấy
sự giảm sút chất lượng tinh trùng liên quan tới các tác nhân vật lý, hóa học,
các bệnh lý nhiễm trùng cấp và mãn tính, các bệnh lây truyền qua đường tình
dục, tiền sử dùng thuốc, tiền sử phẫu thuật hoặc chấn thương sinh dục [27],
[28], [29], [30].
1.4.1. Tuổi
Liệu khi người nam giới có tuổi, sự sản sinh tinh trùng có ít đi không
và chất lượng tinh trùng có ảnh hưởng không?
Vào năm 1951, Macleod đã tiến hành nghiên cứu và nhận ra rằng có xu
hướng giảm khả năng di động tinh trùng ở nam giới trên 40 tuổi [31].
Tới năm 1996 một nghiên cứu của Hollanders và cộng sự thực hiện ở
Luân Đôn nhận thấy cùng với sự tăng lên của tuổi tác, khả năng di động
của tinh trùng và mật độ tinh trùng giảm đi rõ rệt. Các thông số khác như
thể tích, hình thái ít thay đổi. Có sự liên quan chặt chẽ giữa tuổi với các bất
thường về cấu trúc nhiễm sắc thể ở tinh trùng, chỉ có 2.8% ở tuổi 20 tăng
lên đến 13.6% ở tuổi 45 [29].
Tuy nhiên vào năm 2000 trong nghiên cứu ở Đức của Krause thực hiện
trên 253 người lại đưa ra kết quả trái ngược hoàn toàn: thể tích tinh dịch, số
lượng và độ di động của tinh trùng không thay đổi theo tuổi [32].
Gần đây năm 2005 một báo của Baird DT và cộng sự khi tiến hành
nghiên cứu và thấy có sự tăng lên đáng kể sự bất thường chromosomes trong
tinh trùng của các nam giới lớn tuổi [33].
Theo thời gian, khi người đàn ông có tuổi khối lượng cơ sẽ giảm, khối
lượng mỡ trong cơ thể tăng vậy liệu khi chỉ số IBM cao (high body mas
11
index) thì khả năng sản sinh tinh trùng có ảnh hưởng không? Đó là một câu
hỏi mà các nhà khoa học quan tâm.
Một nghiên cứu được thực hiện gần đây ở trung tâm hỗ trợ sinh sản
Atlanta Mỹ báo cáo kết quả nghiên cứu từ 117 nam giới trong đó 66 người có
chỉ số IBM cao. Người ta nhận thấy có mối liên hệ giữa những người đàn ông

nhân gây ra tình trạng giãn tĩnh mạch tinh. Sự suy yếu của van khiến cho sự
thoát lưu máu về tĩnh mạch trung ương sẽ không hiệu quả, dẫn đến sự hồi lưu
của dòng máu và kết quả là các tĩnh mạch tinh phình trướng. Khối tĩnh mạch
tinh giãn quanh tinh hoàn giống như một hồ máu nóng làm gia tăng nhiệt độ
tinh hoàn hơn 0,6-0,8 độ C so với bình thường và người ta tin rằng chính sự
gia tăng nhiệt độ tinh hoàn lâu ngày làm hư hại cấu trúc tinh hoàn [37], [38].
Các nghiên cứu cho thấy giãn tĩnh mạch tinh lâu ngày có thể dẫn đến
chậm phát triển tinh hoàn, ảnh hưởng xấu lên khả năng sinh tinh và sự sản
sinh androgens của tinh hoàn, ngoài ra dòng máu hồi lưu đem đến tinh hoàn
các nội tiết tố của thận, của thượng thận, và chuyển hóa chất khác
(corticosteroids, epinephine, renin ) cũng là những yếu tố có thể ảnh hưởng
đến hoạt động chức năng tinh hoàn [39].
Phần lớn giãn tinh mạch tinh không có triệu chứng. Nhiều trường hợp
chỉ phát hiện khi đi khám sức khỏe. Những triệu chứng khiến cho bệnh nhân
đến khám thầy thuốc là:
- Cảm giác khó chịu, nặng tức hoặc đau ở tinh hoàn.
- Nhìn thấy hay sờ thấy các tĩnh mạch giãn nở ở bìu.
- Teo tinh hoàn
- Vô sinh
13
- Tình trạng khó chịu hoặc đau tức bìu thường thuyên giảm khi nằm và
không bao giờ xuất hiện khi mới thức giấc, ngược lại thường gia tăng khi ngồi
lâu, đứng lâu hay khi hoạt động gắng sức trong thời gian dài [37].
Có nhiều nghiên cứu đã ghi nhận sự giảm nồng độ testosterone trong
các trường hợp vô sinh nam do giãn tĩnh mạch tinh [40].
Các bất thường có thể gặp trong xét nghiệm tinh dịch của bệnh nhân
giãn tĩnh mạch tinh là: giảm mật độ tinh trùng, giảm khả năng di động của
tinh trùng, tăng tỷ lệ tinh trùng có hình dạng bất thường. Ở nam giới bị giãn
tĩnh mạch tinh thì 90% các mẫu tinh dịch có tình trạng giảm di động tinh
trùng, và 65% có đậm độ tinh trùng <20 triệu/ 1 ml.

- Nếu xạ trị liệu 18rad/ kg, khả năng sinh tinh hồi phục sau 12 tháng, liều
5- rad/kg hoặc lớn hơn sẽ gây hậu quả không tinh trùng trong tinh dịch [25].
Các nhà khoa học ở Viện quốc gia về sức khỏe trẻ em và phát triển con
người cùng với trung tâm y khoa Walter Reed Army ở Bethesda nhận thấy tác
động xấu của ibuprofen lên quá trình sản sinh tinh trùng qua các nghiên cứu của
họ trên động vật thí nghiệm là chuột và bò họ nhận thấy ibuprofen có thể làm
giảm khả năng sản xuất prostaglandins một chất hữu ích có trong tinh dịch.
Bệnh lây truyền đường tình dục như giang mai có thể ảnh hưởng đến quá
trình sinh tinh bởi nó tác động trực tiếp đến tinh hoàn và mào tinh gây viêm lan
tỏa mô kẽ, kết hợp với viêm nội mạc và hình thành các gôm giang mai [47].
Bệnh lậu và bệnh phong không được điều trị cũng là nguyên nhân gây
viêm tinh hoàn làm giảm khả năng sinh tinh [47].
Những người viêm nhiễm tinh dịch do E. coli cũng làm cho tinh trùng
bất động [39].
1.4.3. Ảnh hưởng của môi trường tới chất lượng tinh trùng
15
Năm 1986 Schill W. B. báo cáo nghiên cứu ở Đức của ông về tác động
của môi trường độc hại tới tinh trùng ông nhận thấy có mối liên quan giữa sự suy
giảm tinh trùng với những người tiếp xúc với hoát chất và kim loại nặng [48].
Các tác giả Whorton Meyer và cộng sự (1984); Berger (1998) qua nghiên
cứu nhận thấy các yếu tố hóa học có ảnh hưởng tới chất lượng tinh trùng.
Trong một nghiên cứu của Zorn B. và cộng sự thực hiện năm 1999 trên
2343 người đàn ông bình thường ở Slovenia để đánh giá sự thay đổi của tinh
trùng trong thời gian từ 1983 đến năm 1996. Nghiên cứu này cho thấy số
lượng tinh trùng thấp nhất tìm thấy ở những người sinh những năm từ 1950
đến 1960. Độ di động của tinh trùng giảm một cách đáng kể theo thời gian từ
1983 đến 1996. Đó là những năm có chất lượng có cuộc sống giảm. Môi
trường sống ô nhiễm và cuộc sống đầy rẫy stress [49].
Vào những năm 2004, Stoy J và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu
Cohort trên 1747 người đàn ông trong độ dưới 18 đến 39 làm công việc nặng

hơn rõ rệt với nhóm chứng. Thời gian tiếp xúc với TNT càng kéo dài thì số
lượng tinh trùng, thể tích tinh dịch và chất lượng tinh trùng càng giảm. Người
ta nhận thấy rằng TNT là loại thuốc nổ có khả năng thâm nhập vào cơ thể qua
đường da, hô hấp và tiêu hóa nhất là trong khí hậu nóng ẩm. Một đặc tính của
TNT là dễ tích lũy ở tổ chức giàu lipid. Vì vậy nó có thể tích lũy ở tinh hoàn,
từ đó ảnh hưởng tới sự phát triển của tinh trùng.
1.4.4. Ảnh hưởng của thuốc lá và rượu hoặc các chất kích thích tới chất
lượng tinh trùng
Hút thuốc lá có phải là yếu tố gây suy giảm chất lượng tinh trùng
hay không?
17
Các nhà khoa học đã thực hiện nhiều nghiên cứu và thực nghiệm
trên động vật.
Năm 1990, Patterson thực hiện nghiên cứu về sự thay đổi nồng độ
testosterone trên những con chuột (mice) có tác động của thuốc lá [57].
Cho tới năm 1997, Yardimici lại lặp lại thực nghiệm này trên những
con chuột cống [58].
Vào năm 1998, Meikle và cộng sự đã nghiên cứu về tác động của khói
thuốc tới nồng độ testosteron trong máu trên chó [59].
Tới năm 1996 Wine đã hồi cứu trên đối tượng là nam giới bị vô sinh
nghiện thuốc lá và nhận ra rằng: ở những người nghiện thuốc nồng độ
testosteron thay đổi [45].
Năm 1998, một nghiên cứu khác được thực hiện ở Saudi Arabia bởi
Adelusi B và cộng sự cũng nhận thấy rằng những người có thói quen hút
thuốc lá và thường xuyên uống cà phê thì độ di động của tinh trùng giảm [60].
Qua rất nhiều nghiên cứu và thực nghiệm người ta nhận ra rằng: hút
thuốc lá và uống rượu nhiều có thể ảnh hưởng có hại tới khả năng sinh sản
của nam giới. Cả hai tính chất: số lượng và độ di động của tinh trùng đều có
thể bị ảnh hưởng bởi hút thuốc lá, mặc dù uống nhiều rượu có thể làm giảm
số lượng tinh trùng, nhưng ảnh hưởng chính của nó là làm tổn thương tới sự

phút đầu, cá biệt có trường hợp kéo dài tới 60 phút.
- Độ quánh và màu sắc: Sau khi tinh dịch ly giải hoàn toàn, quan sát độ
quánh mẫu tinh dịch bằng cách hút vào pipette đường kính khoảng 1,5mm,
sau đó để tự nhỏ xuống. Bình thường tinh dịch sẽ nhỏ thành từng giọt nhỏ.
Nếu độ quánh tăng khi giọt nhỏ kéo dài thành sợi dài > 2 cm. Bình thường
19
màu sắc của tinh dịch có màu trắng đục, cũng có thể hơi trong hơn nếu mật độ
tinh trùng ít. Một số trường hợp bệnh lý có thể gặp như lẫn máu hoặc có mủ.
- Thể tích tinh dịch: Thể tích tinh dịch được đo bằng ống nghiệm có chia
vạch hoặc đo bằng xy lanh loại 5 ml. Giới hạn dưới của thể tích tinh dịch là 1,5 ml.
- pH: Chỉ số đánh giá độ a xít của tinh dịch. Dịch tiết của túi tinh có
tính chất kiềm còn của tuyến tiền liệt có tính chất a xít. Đo pH bằng giấy đo
pH có độ giao động từ 6 đến 10 và đo khi tinh dịch đã ly giải hoàn toàn.
Trong lần tái bản này WHO mới chỉ đưa ra được giới hạn dưới của pH là 7,2
còn giới hạn trên còn cần phải thêm số liệu.
1.5.2. Đánh giá về vi thể
- Kết đám tinh trùng: Là ngưng kết không đặc hiệu, gồm cả tinh trùng sống,
chết, di động và không di động và cả các tế bào không phải tinh trùng như bạch
cầu, tế bào biểu mô. Sự kết đám là biểu hiện không bình thường cần ghi lại.
- Kết dính tinh trùng: Là ngưng kết đặc hiệu, các tinh trùng di động kết
dính với nhau, các tinh trùng có thể kết dinh đầu với đầu, đầu với đuôi hoặc
đuôi với đuôi. Kết dính tinh trùng chia ra làm 4 mức độ khác nhau tuỳ vào
tinh trùng kết dính nhiều hay ít.
- Độ di động: Độ di động của tinh trùng được phân ra làm ba loại là:
+ Di động tiến tới (PR - progressive motility) khi tinh trùng di động nhanh,
thành đường thẳng hoặc vòng tròn lớn mà không tính đến tốc độ di chuyển.
+ Di động không tiến tới hoặc di động tại chỗ (NP - non-progressive
motility): bao gồm tất cả các di động khác còn lại bao gồm di chuyển thành
vòng tròn nhỏ, đuôi di động rất khó khăn đầu mới nhúc nhích hoặc chỉ quan
sát thấy đuôi nhúc nhích

/ml thì có thể pha loãng với môi
trường, còn mật độ tinh trùng dưới 5.10
6
/ml thì pha loãng với môi trường sau
đó ly tâm lấy cặn để đánh giá hình thái học tinh trùng. Tuy nhiên để tinh trùng
dàn đều và mỏng trên tiêu bản cho dễ đọc thường chỉ nhỏ 1 giọt 10 µl tinh
dịch lên lam kính, sau đó dùng cạnh của một lam kính khác kéo dài giọt tinh
dịch tạo phết mỏng (tương tự như phết mỏng tìm ký sinh trùng sốt rét), sau đó
để khô và nhuộm tiêu bản. Mẫu tiêu bản có thể nhuộm bằng một trong các
phương pháp Papanicolaou, Shorr hoặc Diff-Quik. Bằng phương pháp nhuộm
này đầu tinh trùng phía acrosome có màu xanh nhạt và phía sau acrosome có
21
màu xanh đậm, cổ bắt màu đỏ hoặc không bắt màu, đuôi bắt màu xanh hoặc
đỏ. Giọt bào tương nằm phía sau đầu vào bao quanh cổ bắt màu xanh.
- Đánh giá hình thái: đánh giá hình thái tinh trùng dưới vật kính dầu
x100, cần đánh giá từ 100 đến 200 tinh trùng và phân loại hình thái tinh trùng.
Một số tiêu chuẩn đánh giá về hình thái tinh trùng như sau:
- Tinh trùng bình thường: đầu tinh trùng hình bầu dục, bờ đều, chiều
dài của đầu khoảng 4-5 µm, chiều rộng khoảng 2,5-3,5 µm, tỷ lệ chiều dài
đầu/chiều rộng đầu bằng 1,5-1,75. Acrosome rõ nét và chiếm khoảng 40-70%
thể tích đầu, không có không bào lớn trong acrosome và không có quá hai
không bào nhỏ. Thân tinh trùng phải mảnh mai và rộng khoảng 1µm, dài gấp
1,5 lần chiều dài đầu, đính vào trục của đầu. Giọt bào tương nhỏ hơn một nửa
thể tích của đầu. Đuôi dài khoảng 45µm, thẳng và nhỏ hơn cổ. Đánh giá một
tinh trùng bình thường thì tất cả các thành phần của tinh trùng phải bình
thường. Theo tiêu chuẩn của WHO 2010 thì giới hạn dưới tỷ lệ tinh trùng
bình thường là 4%.
Bất thường hình thái tinh trùng: đánh giá bất thường hình thái tinh trùng
theo tiêu chí sau:
- Bất thường đầu: đầu nhỏ, đầu to, đầu hình búp măng, đầu tù, đầu tròn,

Thông thường thì không cần phải phân biệt đâu là tinh trùng non, đâu là bạch
cầu chỉ trừ trong trường hợp thật cần thiết bằng cách các bạch cầu có chứa men
myeloperoxidase, khi phản ứng với hydrogen peroxide (H
2
O
2
) sẽ giải phóng ra
oxy. Các tế bào này sẽ chuyển sang màu nâu khi có mặt của H
2
O
2
. Giới hạn
trên của số lượng tế bào tròn không thay đổi so với lần trước là 1.10
6
tế bào/ml.
1.5.3. Phân loại mẫu tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn WHO 2010 [4], [64]
- Nhóm Oligospermia: chỉ có mật độ tinh trùng thấp hơn giới hạn tối thiểu.
- Nhóm Athesnozoospermia: chỉ có độ di động của tinh trùng thấp hơn
giới hạn tối thiểu.
- Nhóm Teratospermia: chỉ có hình dạng tinh trùng bình thường thấp hơn
giới hạn tối thiểu.
23
- Nhóm Oligo – Athesnozoospermia: có đồng thời mật độ và độ di động
của tinh trùng thấp hơn giới hạn tối thiểu.
- Nhóm Oligo – Teratospermia: có đồng thời mật độ và hình dạng tinh
trùng bình thường thấp hơn giới hạn tối thiểu
- Nhóm Athesno – Teratospermia: có đồng thời độ di động và hình dạng
bình thường của tinh trùng thấp hơn giới hạn tối thiểu.
- Nhóm OAT (Oligo-Athesno-Teratospermia): nhóm tinh trùng ít, yếu và dị dạng
- Nhóm Cryptozoospermia: có rất ít tinh trùng trong mẫu

α
p
pp
n
Z

=

Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu
α: mức ý nghĩa thống kê, lấy giá trị α = 0,05.
25
z: giá trị tới hạn của phân bố chuẩn với mức ý nghĩa 2 phía của sai lầm
α đã ấn định. Với α = 0,05  Z = 1,96.
p: dựa vào nghiên cứu phân tích kết quả tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn
WHO 2010 của tác giả Hồ Mạnh Tường năm 2012, các chỉ số tinh dịch
đồ bình thường trên giới hạn tối thiểu chiếm tỷ lệ 14,56%. Lấy p= 0,146
q = 1- p =0,854
ε = 0,3
Thay các giá trị vào công thức:
n= 1,96
2
x
0,146 x 0,854
= 249
(0,146x0,3)
2
Chọn n = 250
2.1.3.3. Cách chọn mẫu
Theo thống kê của Trung tâm hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status