Phân tích quan hệ c-v-p và lựa chọn phương án kinh doanh - Pdf 30

ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH QUAN HỆ C-V-P VÀ LỰA CHỌN
PHƯƠNG ÁN KINH DOANH
GVHD :
HVTH :
Lớp : CH Quản trị kinh doanh
Khoá :
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, người qaunr lý phải đối mặt với rất nhiều
vấn đề của thị trường…Một trong những mối quan tâm lớn đó của nhà quản lý là chi phí, bởi
lợi nhuận đạt được cao hay thấp chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã bỏ ra. Do đó
vấn đề được đặt ra là làm sao kiểm soát được các khoản chi phí, từ đó có những quyết định
đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích mối quan hệ giữa
chi phí – doanh thu – lợi nhuận là một công cụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó không hcir
giúp doanh nghiệp đánh giá tổng quát quá trình kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến
tình hình thực hiện lợi nhuận mà còn là phương pháp phân tích nhằm cung cấp những dữ liệu
mang tính dự báo phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp. Nó còn
là cơ sở để đưa ra các quyết định lựa chọn như: lựa chọn dây chuyền sản xuất, chiến lược
sản xuất, định giá sản phẩm, cung cấp dịch vụ một cách tốt nhất cho khách hàng… Vì vậy có
thể nói phân tích mối quan hệ CVP chính là phân tích cơ cấu chi phí hay nói cách khác là
nhằm phân tích rủi ro từ cơ cấu chi phí này. Dựa trên những dự báo về khối lượng (số lượng)
hoạt động để công ty đưa ra cơ cấu chi phí cho phù hợp đạt được lợi nhuận cao nhất. Chính
vì vậy, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “ Phân tích quan hệ C-V-P và lựa chọn phương
án kinh doanh” để làm sáng tỏ những vấn đề trên.
Trong quá trình phân tích chắc chắn còn nhiều thiếu sót mong nhận được sự góp ý
của quý thầy cô và các bạn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Chỉ số sản lượng:
Chỉ số sản lượng là đơn vị của đại lượng sử dụng để xác định sản lượng. Một chỉ số
sản lượng có thể dựa trên các yếu tố đầu vào sản xuất chẳng hạn như số tấn nguyên liệu đã
tiêu thụ, số thời gian lao động trực tiếp đã sử dụng hoặc số giờ máy công tác. Nó cũng có thể
dựa vào đầu ra chẳng hạn như số các đơn vị sản phẩm hoàn thiện tương đương đã xuất
xưởng, số đơn vị sản phẩm đã bán hoặc doanh thu thực hiện.
Một khi đã tìm ra chỉ số sản lượng thích hợp chúng ta có thể phân loại chi phí thành ba
nhóm chính:
+ Chi phí khả biến (biến phi)
+ Chi phí bất biến (định phí)
+ Chi phí hỗn hợp
1.1.2 Biến phí:
Biến phí là những mục chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động của đơn vị. Nếu ta
xem xét về tổng số, biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động của đơn vị. Ngược
lại, nếu xem xét trên một đơn vị mức độ hoạt động thì biến phí là một hằng số.
Trong một đơn vị sản xuất,biến phí tồn tại khá phổ biến như: Chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp…Những chi phí này khi mức độ hoạt động của doanh
nghiệp gia tang thì chúng cũng gia tang tỷ lệ thuận theo và ngược lại.
Có các loại biến phí sau:
* Biến phí thực thụ:
Đây là loại chi phí mà sự biến động của chúng thực sự thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ
hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng về mặt toán học,
biến phí thực thụ được thể hiện theo phương trình sau:
V = ax
Trong đó: V: Tổng biến phí trong kỳ để tạo ra sản lượng x
a: Biến phí một dơn vị sản phẩm
Tổng biến phí thực thụ
V = ax
Mức độ hoạt động x
Đồ thị biến phí thực thụ

giữa ,mức độ hoạt động và chi phí như ở hình 1. Thuộc loại định phí này có thể kể ra như :
Chi phí khấu hao máy móc thiết bị, nhà xưởng của doanh nghiệp…Hai đặc điểm cơ bản của
định phí bắt buộc là :
+ Chúng tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Chúng không thể cắt giảm dến bằng không trong một thời gian ngắn.
* Định phí tùy ý:
Là những chi phí có thể thay đổi trong từng kế hoạch của nhà quản trị doanh nghiệp và
do nhà quản trị doanh nghiệp quyết định số lượng định phí trong từng kì kinh doanh ( Đồ thị
biểu diễn quan hệ với mức độ hoạt động như ở hình 2). Ví dụ như chi phí quảng cáo, chi phí
đào tạo, bồi dưỡng nghiên cứu…Những chi phí này có hai đặc điểm:
+ Có bản chất ngắn hạn
+ Trong những trường hợp cần thiết người ta có thể giảm chúng đi
Chi phí Chi phí
Phạm vi phù hợp
Mức độ hoạt động Mức độ hoạt động
Hình 1 Hình 2
1.1.4 Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà bản thân nó gồm cả yếu tố biến phí lẫn định phí.
Ở mức hoạt động cơ bản, chi phí hỗn hợp thuờng thể hiwwnj các đặc điểm của chi phí cố
định, ở mức hoạt động vượt quá mức hoạt động căn bản nó lại thet hiện đặc điểm của biến
phí. Ví dụ: chi phí điện thoạt, phụ tùng thay thế, bảo trì sản phẩm… Đồ thị biểu diễn như
hình 3.
1.1.5 Phương pháp phân tích chi phí hỗn hợp
Để thuận tiện cho việc sử dụng chi phí hỗn hợp trong phân tích và quản lý kinh doanh,
người ta tiến hành tách riêng định phí và biến phí trong chi phí hỗn hợp bằng các phương
pháp sau:
* Phương pháp cực đại - cực tiểu
*Phương pháp đồ thị phân tán:
Chi phí
Yếu tố chi phí cố định

nghiên cứu các quan hệ sản lượng – lợi nhuận thông qua việc phân tích điểm hòa vốn là cơ
sở doanh nghiệp lập kế hoạch lợi nhuận.
2. Phân tích CVP
2.1 Số dư đảm phí - mối quan hệ then chốt trong việc phân tích CVP
Như đã phân tích ở trên, các chi phí khả biến biến thiên tỷ lệ thuận với doanh thu. Do
đó việc sinh ra một đồng doanh thu phụ thêm cũng sinh ra một lượng chi phí khả biến nào
đó. Từ đó ta có khái niệm số dư đảm phí.
Số dư đảm phí là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí khả biến
Mối quan hệ giữa số dư đảm phí với chi phí và khối lượng theo công thức:
Số dư đảm phí = doanh thu – chi phí khả biến
= =
Theo công thức trên, số dư đảm phí khi đã bù đắp chi phí cố định, phần dôi ra chính là
lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp.
Nếu gọi x là sản lượng, g là giá bán, a là chi phí khả biến đơn vị, b là chi phí bất biến.
Ta có báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí như sau:
Bảng số 1.1. Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí
Chỉ tiêu Tổng số Tính cho 1 sản phẩm
1. Doanh thu Gx g
2. Chi phí khả biến ax a
3. Số dư đảm phí (g – a)x g - a
4. Chi phí bất biến B
5. Lợi nhuận (g – a)x - b
Từ báo cáo thu nhập tổng quát, ta xét các trường hợp sau:
* Trường hợp 1:
Khi doanh nghiệp không hoạt động, sản lượng x = 0, thì lợi nhuận P = -b, nghĩa là
doanh nghiệp lỗ bằng chi phí bất biến.
* Trường hợp 2:
Tại sản lượng xh mà số dư đảm phí bằng chi phí bất biến, lợi nhuận p = 0, nghĩa là
doanh nghiệp đạt được điểm hòa vốn.
⇒ (g -a)xh = b ⇒ xh =b/(g-a)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status