NHỮNG VẤN ĐỀ KTCT TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VN - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP NHÓM MÔN:
NHỮNG VẤN ĐỀ KTCT TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ
LÊN CNXH Ở VN

Hà Nội – Tháng 11 năm 2010
NHÓM 3- K52 KTCT
1. Bùi Thị Phương Dung
2. Đào Thu Phương
3. Bùi Thị Thu Trang
CÂU HỎI THẢO LUẬN
Những thành tựu và hạn chế của tiến trình CNH
ở Việt Nam thời kì trước đổi mới.
KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA
Công nghiệp hóa là: Là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao. Quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật, xây dựng nền đại
công nghiệp cơ khí hoá có khả năng cải tạo (trước hết là nông nghiệp và toàn bộ
nền kinh tế quốc dân), nhằm biến một nước kinh tế chậm phát triển, sản xuất
nhỏ là phổ biến sang nền sản xuất lớn chuyên môn hoá, hiện đại hoá là quá trình
xây dựng cơ cấu kinh tế mới mà nòng cốt là cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp
hiện đại. Trước đây, CNH tiến hành ở những nước kinh tế kém phát triển và
trong thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với nội dung có tính nguyên tắc là
ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Trong thời đại ngày nay, thông qua việc
mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, trong chặng đường đầu xây dựng chủ nghĩa xã
hội, CNH không nhất thiết phải bắt đầu bằng ưu tiên phát triển hệ thống công

vụ chiến lược trên gắn bó chặc chẽ và thúc đẩy nhau, trong đó kháng chiến
chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu, song công cuộc cải tạo và phát triển
kinh tế - xã hội ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc
của cả nước là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với cách mạng cả nước.
Công cuộc cải tạo XHCN mà nội dung chủ yếu là phát triển kinh tế quốc
doanh và kinh tế hợp tác xã, hạn chế kinh tế cá thể, xóa bỏ kinh tế tư bản tư
doanh được tiến hành khẩn trương
b. Hoàn cảnh đất nước thời kì 1975- 1986
- Miền Nam hoàn toàn giải phóng – cả nước thống nhất và cùng tiến lên
CNXH. Trong giai đoạn, chúng ta tiến hành cải tạo CNXH ở miền Nam. Củng
cố các thành quả của công cuộc cải XHCN trong cả nước.
Vấn đề hoạch định và hoàn thiện đường lối chiến lược và các chính sách
kinh tế xã hội lớn trở thành trung tâm chú ý của Đảng cộng sản Việt Nam từ đại
hội IV ( 1976) qua đại hội V (1982) đến đại hội VI (1986). Qua 3 lần đại hội
các vấn đề có tính nguyên tắc đã được xác định.
- Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là tất yếu, đồng thời
cũng là tất yếu về tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp của thời kì đó,
do Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước kinh tế lạc hậu, sản
xuật nhỏ là chủ yếu bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đó là
thời kì cải biến cách mạng sâu sắc, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng
tầng, do đó tất yếu phải trải qua đấu tranh giai cấp phức tạp để giải quyết
các vấn đề “ ai thắng ai”, đấu tranh giữa đổi mới và bảo thủ, trì trệ.
- Nội dung cơ bản của đường lối cách mạng XHCN ở Việt Nam là nắm
vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân
lao động, tiến hành đồng thời cách mạng về quan hệ sản xuất , cách mạng
khoa học – kĩ thuật, cách mạng tư tưởng văn hó, xây dựng cơ chế quản lý
kinh tế năng động và có hiệu quả theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong khi những vấn đề nguyên tắc nêu trên về cơ bản đã được đại hội và
hội nghị BCH trung ương của Đảng khẳng định một cách nhất quán thì trong
hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, thậm trí trong chỉ đạo chiến lược đã

chung chung ( kiểu như “đưa nền kinh tế nước ta sử sản xuất nhỏ lên sản xuất
lớn XHCN”) mà không dựa trên các luận cứ và luận chứng khoa học, không
được và cũng không thể triển khai thành các vấn đề cụ thể và có căn cứ. Cũng
không có những sự tính và dự báo các mục tiêu định lượng theo tình huống phát
triển cụ thể. Vì thế trong quá trình triển khai thực hiện rất khó kiểm soát và điều
chỉnh mục tiêu khi hoàn cảnh thay đổi, khó đánh giá chính xác kết quả thực
hiện chiến lược CNH khi kết thúc từng giai đoạn, từng chặng cụ thể của quá
trình CNH. Thêm vào đó, do các tiền đề và các điều kiện CNH không được
chuẩn bị đầy đủ nên việc chỉ đạo thực hiện chiến lược thường rơi vào tình trạng
duy ý chí, vượt quá khả năng thực tế của nền kinh tế.
 Đại hội V (1981) đã có một số bước tiến trong nội dung chiến lược
CNH, coi công nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản
xuất lớn XHCN, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng
một số ngành công nghiệp nặng quan trọng. Kết hợp nông nghiệp, công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong cơ cấu công – nông nghiệp
hợp lí. Thực chất của bước tiến về tư duy ở đây là nêu bật tư tưởng thiết lập một
cơ cấu kinh tế và một lộ trình tổng thể phù hợp hơn với trình độ xuất phát của
nền kinh tế và với tính chất của quá trình chuyển đổi kinh tế đang diễn ra trên
phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân ( chú trọng phát triển khu vực nông
nghiệp – nông thôn; đưa nhiệm vụ phát triển công nghiệp nhẹ lên một thứ bậc
ưu tiên cao hơn có tác động đảo ngược cách đặt vấn đề truyền thống).
Đại hội V cũng tính đến yếu tố hiệu quả kinh tế một cách kĩ càng hơn, dựa
trên nguyên tắc kết hợp nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng
trong một tầm nhìn tổng thể. Nhưng dù nhận thức về CNH XHCN trong giai
đoạn này đạt tới trình độ nào thì cũng phải thừa nhận một thực thể hiển nhiên
là: bất chấp các nỗ lực CNH mạnh mẽ, nền kinh tế VN vẫn trở thành một nền
kinh tế thiếu hụt ngày càng nghiêm trọng, ngày càng bị mất cân đối và lâm vào
khủng hoảng. Cơ cấu kinh tế ngành trong suốt nhiều năm hầu như không dịch
chuyển. Quá trình cải tạo kĩ thuật nền kinh tế, chuyển từ trình độ thủ công sang
trình độ cơ khí chỉ đạt được những kết quả khiêm tốn.

sinh” vốn là cách đặt vấn đề thích hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nền kinh tế
khép kín và bị bao vây cấm vận. Thứ ba, kinh tế nhà nước không còn là lực
lượng độc tôn tiến hành CNH. Kinh tế tư nhân trong nước và khu vực đầu tư
nước ngoài – những chủ thể mới của kinh tế nhiều thành phần – được thừa nhận
là những lực lượng quan trọng thực hiện CNH. Ba sự thay đổi trong tư duy
CNH nói trên đều gắn với sự thay đổi thể chế. Bắt nguồn từ đó, diễn ra những
thay đổi trong cách tiếp cận đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành, là vấn đề
trước đây chỉ do nhà nước quyết định. Nói khác đi bắt đầu có những thay đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status