Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
LỜI CẢM ƠN
Chương trình thực địa của cử nhân Y tế công cộng năm thứ 4 với mục tiêu nâng cao
kiến thức về thực tiễn và củng cố, phát triển năng lực y tế công cộng định hướng dinh dưỡng
và an toàn vệ sinh thực phẩm cho sinh viên kéo dài trong 10 tuần, từ 5/11/2012 đến
11/01/2013. Nhóm 1 thực địa K8, trường Đại học Y tế công cộng chúng tôi gồm 6 thành
viên được phân công thực địa tại thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Trong thời gian thực tập 2 tuần tại Trung tâm y tế huyện Thanh Trì và 8 tuần tại TYT
thị trấn Văn Điển, nhóm chúng tôi đã xây dựng được các bản kế hoạch hoạt động của 3
khoa phòng tại Trung tâm y tế huyện, tham gia các hoạt động của TTYT và trạm y tế, thực
hiện các chỉ tiêu nhà trường đề ra và hoàn thành bài tập chuyên đề về một vấn đề ATTP tại
thị trấn Văn Điển. Qua đây, nhóm đã có thêm nhiều trải nghiệm thú vị, bổ ích cũng như có
thể nâng cao kỹ năng về chuyên môn cũng như tiếp cận với cộng đồng.
Để nhóm có thể hoàn thành tốt đợt thực địa lần này không thể thiếu được sự ủng hộ,
giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trường đại học Y tế công cộng, ủy ban nhân dân thi trấn
Văn Điển, các bộ y tế của trung tâm y tế huyện Thanh Trì và trạm y tế thị trấn Văn Điển.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhóm
có được đợt thực địa bổ ích, đây cũng chính là hành trang quý báu cho con đướng sự nghiệp
của mỗi chúng tôi. Đặc biệt, nhóm xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn Tiến
sĩ Nguyễn Thanh Hà và cử nhân Nguyễn Thị Thu Hòa đã nhiệt tình hướng dẫn nhóm trong
suốt đợt thực địa. Chúng tôi xin gửi lời cám ơn tới các cán bộ trung tâm y tế huyện Thanh
Trì và trạm y tế thị trấn Văn Điển đã tạo điều kiện ăn ở, làm việc, cung cấp thông tin và liên
hệ công việc cho chúng tôi trong suốt quá trình thực tâp.
Báo cáo của nhóm tuy còn nhiều hạn chế, nhưng nhóm rất mong nhận được sự góp ý
của các cán bộ trung tâm y tế, trạm y tế và các thầy cô để bản báo cáo này được hoàn thiện
hơn.
Một lần nữa chúng tôi chân thành cảm ơn nhà trường và địa phương đã tạo mọi điều
kiện cho chúng tôi hoàn thành tốt đợt thực địa này.
Hà Nội, ngày 25/01/2013
Thay mặt NSV
Nhóm trưởng
Phụ lục 15: Bộ câu hỏi phỏng vấn cơ quan quản lý 61
Phụ lục 16: Câu hỏi hướng dẫn phỏng vấn sâu cộng tác viên và các ban ngành đoàn thể 63
Phụ lục 17: Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn sẵn 64
Phụ lục 18: Bộ câu hỏi phỏng vấn người ăn tại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống 66
2
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Viết đầy đủ
1 ATTP An toàn thực phẩm
2 ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
3 CBYT Cán bộ y tế
4 CTV Cộng tác viên
5 CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
6 DVAU Dịch vụ ăn uống
7 KDDVAU Kinh doanh dịch vụ ăn uống
8 NĐTP Ngộ độc thực phẩm
9 TYT Trạm y tế
10 TTYT Trung tâm y tế
11 TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng
12 THCS Trung học cơ sở
13 THPT Trung học phổ thông
14 TTVD Thị trấn Văn Điển
15 UBND Ủy ban nhân dân
16 SDD Suy dinh dưỡng
17 YTCC&QLCBXH Y tế công cộng và quản lý các bệnh xã hội
3
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
A.
CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA BÀN THỰC ĐỊA
I.
tư kiên cố hóa kênh mương, lấy nước sông Hồng (từ kênh Hồng Vân) thay nước sông Tô
Lịch ô nhiễm phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các xã Vĩnh Quỳnh, Đại Áng, Liên Ninh,
Tả Thanh Oai nhằm đảm bảo chất lượng thực phẩm không chỉ cung cấp cho địa bàn
huyện mà còn cung cấp cho thành phố Hà Nội và các vùng lân cận khác.
1.3
Hệ thống y tế huyện:
UBND huyện là đơn vị chủ quản phòng y tế huyện đồng thời hiệp quản các cơ sở y
tế khác trên địa bàn bao gồm trung tâm y tế huyện Thanh Trì, bệnh viện đa khoa Thanh
Trì, bệnh viện đa khoa tư nhân Thăng Long, bệnh viện K cơ sở 2, bệnh viện Nội tiết
trung ương và bệnh viện Nông nghiệp.
Phòng y tế và Trung tâm y tế huyện là hai đơn vị trực tiếp chỉ đạo hoạt động y tế của
tuyến xã. Huyện Thanh Trì có 16 Trạm y tế của 16 xã, thị trấn, trong đó 6/16 Trạm y tế
chưa có bác sỹ.
Bệnh viện đa khoa Thanh Trì và bệnh viện đa khoa tư nhân Thăng Long là 2 bệnh viện
đã được xếp hạng 2. Đây là nơi trực tiếp khám chữa bệnh bảo hiểm y tế cho người dân
từ tuyến xã chuyển lên. Tỷ lệ người dân sử dụng bệnh viện huyện ngày càng tăng một
mặt là do đây là nơi nhận khám chữa bệnh bảo hiểm của địa phương, mặt khác do chất
lượng bệnh viện ngày càng được nâng cao, tạo được lòng tin của người dân.
2.
Thị trấn Văn Điển:
Thị trấn Văn Điển có diện tích 91,3 ha, dân số 17.586 người. Nghề nghiệp chủ yếu
của người dân địa phương là kinh doanh dịch vụ thương mại và công nhân viên chức.
Đây là địa phương không có hộ làm nông nghiệp do đó điều kiên kinh tế rất phát triển.
Tỷ lệ hộ nghèo là 1,7%.
Trạm y tế thị trấn Văn Điển có 8 cán bộ y tế tương đương 0.5 cán bộ/ 1000 dân, trong
4
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
đó có 1 bác sỹ, 1 cử nhân y tế công cộng, 3 điều dưỡng, 1 dược sỹ, 1 y sỹ y học cổ
truyền và 1 nữ hộ sinh. Bên cạnh đó, trạm còn có 20 cộng tác viên phân bố đều 7 tổ
dân phố có nhiệm vụ phối hợp với cán bộ triển khai các chương trình y tế và tuyên
này qua các năm trên địa bàn huyện đều đạt trên 99%.
1.1.3 Dinh dưỡng cho trẻ em (TE) dưới 5 tuổi.
Đơn vị phụ trách: Khoa CSSKSS Trung tâm y tế huyện Thanh Trì.
Hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng TE dưới 5 tuổi được thực hiện với nhiều
chương trình bao gồm cân, đo trẻ toàn huyện vào 1/6 kết hợp uống vitamin A hàng năm
để đánh giá được tình trạng dinh dưỡng trên toàn địa bàn huyện; Phục hồi dinh dưỡng
cho bà mẹ mang thai tăng cân thấp và trẻ em dưới 2 tuổi 3 tháng liền không tăng cân và
tăng cường công tác tập huấn, truyền thông. Hoạt động truyền thông rất được chú trọng
bằng việc đa dạng hóa các loại hình truyền thông kết hợp chặt chẽ với phòng truyền
thông giáo dục sức khỏe. Kết quả về tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân và thể thấp còi đã liên tục
giảm đều qua các năm. Biểu đồ mô tả xu hướng giảm tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi trên
đia bàn huyện Thanh Trì (Phụ lục 1 trang 38 )
5
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
1.1.4 Chương trình phòng chống bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng
Đơn vị phụ trách: Khoa CSSKSS Trung tâm y tế huyện Thanh Trì
Đối với bệnh đái tháo đường, các hoạt động liên quan đến dinh dưỡng chỉ dừng lại ở
mức truyền thông đến các đối tượng có nguy cơ cao lồng ghép vào các buổi sàng lọc đái
tháo đường tại trạm y tế, truyền thông qua loa đài hay truyền thông lồng ghép vào các
buổi họp phụ nữ, sinh hoạt thôn, tổ dân phố.
Hoạt động của nhóm:
Ngày 23/11/2012 và ngày 24/11/2012 nhóm được tham gia hoạt động khám sàng lọc
và tư vấn đái tháo đường tại xã Liên Ninh. (Trình bày rõ ở mục 2 Trang 11 phần III –
Phần A)
1.2 Chương trình dinh dưỡng triển khai trên địa bàn thị trấn Văn Điển.
Góp phần vào công cuộc hoàn thành chỉ tiêu đề ra năm 2012 của Trung tâm y tế huyện
Thanh Trì, trạm y tế thị trấn Văn điển cũng đã có những hoạt động và kết quả như sau:
1.2.1 Chương trình dinh dưỡng quốc gia
• Chương trình phòng chống SDD ở trẻ em gồm các hoạt động:
- Cân trẻ dưới 2 tuổi hàng quý
trạm. Các bệnh nhân mắc bệnh mạn tính có thể đến TYT lấy thuốc miễn phí đối với
bệnh tăng huyết áp, được khám, tư vấn và theo dõi bệnh tật tại nhà.
Chương trình dinh dưỡng phòng chống các bệnh mạn tính chỉ dừng lại ở công tác
tuyên truyền: truyền thông qua loa phát thanh, tổ chức các buổi nói chuyện, tư vấn dinh
dưỡng khi bệnh nhân đến lấy thuốc tại trạm.
Hoạt động của nhóm tại trạm: Tư vấn dinh dưỡng cho người mắc bệnh tăng huyết
áp, tiểu đường (Trình bày cụ thể tại Mục 1.4 trang 21, phần II thuộc B).
1.2.4 Chương trình chống rối loạn do thiếu Iod
Các hoạt động chính của chương trình chống rối loạn do thiếu Iod bao gồm:
- Theo dõi độ bao phủ muối Iod qua công tác đánh giá sử dụng muối của 32 hộ gia
đình và việc buôn bán muối Iod tại 8 cửa hàng kinh doanh trong 1 quý.
- Theo dõi bướu cổ ở học sinh tiểu học thông qua chương trình khám sức khỏe tại
trường học diễn ra hàng năm.
- Nếu phát hiện có trẻ bị bướu cổ hay có người dân đến thông báo, trạm sẽ khám
chuyên khoa và tư vấn sử dụng muối Iod.
Công tác phòng chống rối loạn iot đa dạng với các hoạt động giám sát sử dụng muối
iot tại các điểm bán lẻ và hộ gia đình. Kết hợp truyền thông, tư vấn nâng cao kiến thức
cho người dân nhằm đảm bảo mục tiêu bao phủ muối iot trên toàn huyện đạt 99.6%.
2.
Các chương trình ATTP đang triển khai trên địa bàn
2.1 Tuyến huyện
Khoa An toàn vệ sinh thực phẩm chịu trách nhiệm quản lý và thực hiện các chương trình
liên quan đến an toàn thực phẩm trên địa bàn.
Trong năm 2012, hoạt động về vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai theo 4 dự án:
2.1.1 Thông tin giáo dục truyền thông đảm bảo chất lượng ATTP
Đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức, phương tiện truyền thông;
Tổ chức các lớp truyền thông giáo dục ATTP cho các ban ngành đoàn thể. Đẩy mạnh luật
ATTP và các văn bản pháp quy trên các phương tiện báo, đài truyền thanh, Hội nông dân, Hội
phụ nữ, Trung tâm truyền thông và giáo dục sức khỏe, Mạng lưới cộng tác viên,
Tổ chức lễ phát động “Tháng hành động vệ sinh an toàn thực phẩm”
2.1.3 Quản lý chất lượng ATTP
-
Tham mưu xây dựng, ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác ATTP
trên địa bàn huyện.
-
Xây dựng và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về quản lý, nâng cao năng lực hệ thống
quản lý ATTP từ tuyến huyện đến 16 xã, thị trấn.
-
Tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát định kì và đột xuất trên địa bàn huyện.
-
Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP cho các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh
thực phẩm trên địa bàn toàn huyện với chỉ tiêu trên 80%.
-
Tăng cường sự phối hợp liên ngành.
Kết quả: 100% các xã, thị trấn được tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Hoạt động kiểm tra, giám sát được triển khai thường xuyên trên 16 xã, thị trấn
Tỷ lệ các cơ sở đạt tiêu chuẩn ATTP khi kiểm tra tăng dần theo các năm từ 82,7% (2006) đến
86.7% (2011) và 85,9% (9 tháng đầu năm 2012).
Tỷ lệ các cơ sở được cấp giấy đủ điều kiện ATTP tính đến 8 tháng đầu năm 2012: 885/1936,
chiếm 45,7%
Số cơ sở thực phẩm thành phố cấp 12/21 cơ sở (57,1%)
Số cơ sở thực phẩm huyện cấp 70/145 cơ sở (48,3%)
Số cơ sở thực phẩm xã, thị trấn cấp 803/1770 cơ sở (45,4%)
2.1.4 Kiểm nghiệm chất lượng ATTP
- Đào tạo kĩ năng cho cán bộ làm công tác xét nghiệm
- Xét nghiệm chất lượng ATTP tại các cơ sở
Kết quả:100% cán bộ làm công tác xét nghiệm được thamgia tập huấn
Xét nghiệm nhanh:
- Xét nghiệm dấm đạt tiêu chuẩn: 98,7% mẫu;
- Xét nghiệm hàn the đạt tiêu chuẩn: 95,9% mẫu;
năm)
230 nhân viên/ 218 cơ sở thực phẩm được
khám
5 Tổ chức lễ phát động Tháng hành
động ATTP
Tổ chức thành công lễ phát động
Công tác kiểm tra, giám sát
1 Thực hiện ký cam kết với các cơ
sở về việc thực hiện các quy định
ATTP
100% cơ sở
2 Kiểm tra hàng tháng các cơ sở Cơ sở sản xuất: 57/68 (83%) lượt
Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống đạt 163/191
(85%) lượt
Cửa hàng ăn uống: 302/349 (86,5%) lượt
Quán ăn: 41/49 (83,6%) lượt
Dịch vụ ăn uống khác: 198/224 (88%) lượt
3 Thực hiện xét nghiệm Xét nghiệm tinh bột 267/318 (84%) mẫu
Xét nghiệm nước sôi 262/290 (90%) mẫu
Xét nghiệm hàn the 21/21 (100%) mẫu
Xét nghiệm dấm 197/197 (100%) mẫu
4 Thực hiện tháng hành động
ATTP
9
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
Công tác phòng chống ngộ độc thực
phẩm
Trong năm không có vụ ngộ độc thực phẩm
nào
Công tác cấp giấy chứng nhận đủ điều
- Có kế hoạch làm việc nhóm và phân công nhiệm vụ rõ ràng.
1.5Khó khăn
Sinh viên không có chuyên môn về lâm sàng nên chỉ tham gia hỗ trợ CBYT về công
tác chuẩn bị, ghi chép và chỉ dừng ở mức được thực hành đo chỉ số nhân trắc.
1.6Bài học kinh nghiệm
- Củng cố kỹ năng đo chỉ số nhân trắc trên cộng đồng.
- Vận dụng và rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng ghi chép, phân công nhiệm
vụ rõ ràng.
2. Hoạt động khám sàng lọc đái tháo đường
2.1Thời gian và địa điểm: Từ 5 giờ đến 10 giờ sáng ngày 10 - 11/11/2012 tại trạm y tế
xã Liên Ninh
2.2Thành phần tham gia:
10
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
- Cán bộ y tế: 2 cán bộ của TTYTDP thành phố Hà Nội, 6 cán bộ của trạm y tế, 5 cán
bộ trung tâm y tế huyện
- Sinh viên thực tập: 6 sinh viên
2.3 Quy trình của buổi sàng lọc:
2.4Thuận lợi
- CBYT đủ và phân công nhiệm vụ rõ ràng nên công việc được thực hiện nhanh và theo
đúng tiến độ.
- Người dân đến sớm như đúng kế hoạch và tuân thủ không ăn bất kì thứ gì theo đúng
nguyên tắc xét nghiệm nhanh.
- Sinh viên thực tập được có mặt ở hầu hết các bước của buổi khám sàng lọc: đo chỉ số
nhân trắc, đo huyết áp, tư vấn, phụ vụ trong buổi tư vấn: dọn dẹp, pha nước đường,…
2.5Khó khăn
- Thời gian bắt đầu chiến dịch hơi sớm từ lúc 5h sáng và thời tiết lạnh.
- Ngày đầu tiên 10/11, người dân đến dồn dập nên công tác chỉ đạo còn gặp đôi chút
khó khăn.
- Được thông báo đột xuất và cũng không nghĩ đến việc tập huấn trước buổi sàng lọc
tập kết hợp
với cán bộ
tại trạm
thực hiện
Thử máu
do cán bộ
TTYTDP
Hà Nội và
TTYT
thực hiện
Tư vấn do
cán bộ
TTYTDP
Hà Nội và
sinh viên
thực tập
thực hiện
Cán bộ khoa
ATTP chia sẻ
kiến thức với
người tham gia
tập huấn
Tổng hợp và
trả lời các
câu hỏi của
người tham
gia tập huấn
Kết thúc buổi
tập huấn
Giảng viên
- Ngoài ra, được tham gia buổi giám sát Vitamin A do đoàn của Trung tâm y tế dự
phòng Hà Nội và Trung tâm y tế huyện Thanh Trì xuống giám sát Trạm y tế Văn
Điển gồm các hoạt động: Đoàn giám sát kiểm tra sổ sách, kiểm tra cách lưu tên
những trẻ được uống vitamin A (tên, ngày tháng năm sinh khớp với liều lượng
Vitamin A được uống), giám sát trực tiếp chuyên môn - cách cho uống Vitamin A
của CBYT trạm, giám sát khẩu hiệu, cách bố trí hội trường,… từ đó đánh giá trong
bảng kiểm và kết luận với Trạm y tế Văn Điển.
4.4 Thuận lợi:
12
Nhận giấy
mời uống
Vitamin A
và lưu tên
trẻ vào sổ.
Thực hiện:
Sinh viên hỗ
trợ CBYT
Cho trẻ uống
Vitamin A.
Thực hiện:
CBYT thực
hiện đồng
thời hướng
dẫn sinh viên
Đo chỉ số
nhân trắc cho
trẻ dưới 1
tuổi.
Thực hiện:
Sinh viên
sức khỏe của giáo viên, hợp đồng cung cấp nguyên liệu,… và các hồ sơ giấy tờ có liên
quan.
1.2 Kết quả
Trong hai buổi theo đoàn đi kiểm tra bếp ăn của trường mầm non Huỳnh Cung và
trường Tứ Hiệp A, nhóm sinh viên được quan sát thực tế các test thử và chủ động thực
hành đánh giá dựa trên quan sát, sử dụng bảng kiểm dưới sự hướng dẫn cua cán bộ; Trực
tiếp thực hành viết biên bản kiểm tra (xin mẫu biên bản từ khoa ATTP) và lưu lại; Xem
xét các hồ sơ hiện có của trường, tập đóng vai trò như một cán bộ trong đoàn thực sự.
Thu được kết quả như sau:
• Quan sát CBYT thực hiện các test thử:
Trường mầm non Huỳnh Cung:
- Dấm ăn: Không thực hiện vì trường mầm non không sử dụng dấm ăn cho các bé.
13
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
- Nước sôi: Không thực hiện vì nhà trường sử dụng nước bình đã có chứng nhận
kiểm tra.
- Tinh bột: Làm test nhanh với 5 mẫu thử. Sử dụng glucol test với 5 mẫu thử và đều
đạt kết quả âm tính.
Trường mầm non Tứ Hiệp A:
- Dấm ăn: Không thực hiện vì trường mầm non không sử dụng dấm ăn cho các bé.
- Nước sôi: làm test nhanh với 5 mẫu thử, và đạt kết quả âm tính.
- Tinh bột: Làm test nhanh với 5 mẫu thử. Sử dụng glucol test với 5 mẫu thử và đều
đạt kết quả âm tính.
• Đánh giá dựa trên quan sát và sử dụng bảng kiểm:
Hai trường mầm non đều đạt được kết quả như sau:
- Có hợp đồng mua bán nguyên liệu với nhà cung cấp.
- Có hồ sơ nguồn gốc nguyên liệu.
- Giáo viên được khám sức khỏe định kỳ, xét nghiệm AR định kỳ 1 năm/ lần.
- Nhân viên có trang phục hợp vệ sinh.
- Phòng ăn, bàn ăn, bàn chế biến thực phẩm hợp vệ sinh.
1.1 Quy trình lập kế hoạch
1.2 Kết quả
Nhóm đã lập được 3 bản kế hoạch về dinh dưỡng và ATTP cho 3 khoa phòng của
TTYT huyện Thanh Trì.
1.3 Thuận lợi
- Nhóm được sự hỗ trợ nhiệt tình từ CBYT của 3 khoa phòng.
- Các thông tin thu thập được đầy đủ để phân tích, nhận định và đưa ra những giải
pháp tối ưu nhất.
1.4 Khó khăn
- Là nhóm đầu tiên nên vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, chưa tìm hiểu kỹ càng nên phải làm lại
các bản kế hoạch nhiều lần.
- Nhóm chưa xác định được rõ ràng phương thức làm kế hoạch tại địa phương, áp
dụng máy móc lý thuyết đã học.
- Thời gian sửa kế hoạch không nhiều vì còn phải thực hiện những công việc được
giao tại TTYT
1.5 Bài học kinh nghiệm
- Cần phải tìm hiểu rõ ràng cách lập kế hoạch tại địa phương, không nên áp dụng máy
móc phương pháp lập kế hoạch lý thuyết đã học.
- Cần vận dụng linh hoạt giữa lý thuyết và thực tế.
- Cần chủ động hơn trong công tác lập kế hoạch.
II. Tuyến thị trấn:
1. Về vấn đề dinh dưỡng
1.1Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 1 tuổi
1.1.1Thời gian và địa điểm
Ngày 05/12/2012, ngày 07/12/2012 và ngày 08/12/2012 tại Hội trường thị trấn Văn
Điển nhóm sinh viên đã thực hiện hoạt động cân đo, đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ
em dưới một tuổi lồng ghép với chương trình uống Vitamin A và tiêm chủng mở rộng.
1.1.2Quy trình
15
Thu thập số
giáo viên
hướng dẫn tại
cộng đồng
Sửa bản kế hoạch
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
1.1.3 Kết quả đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 1 tuổi
Sau 3 ngày thực hiện đo chỉ số nhân trắc cho trẻ dưới 1 tuổi trên địa bàn thị trấn Văn
Điển nhóm đã cân đo được 90.3% trẻ với kết quả như sau:
• Bảng kết quả đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 1 tuổi theo độ suy dinh
dưỡng, giới tính và tuổi
SDD thể nhẹ
cân(%)
SDD thể thấp
còi (%)
SDD thể còm
còi (%)
Tỷ lệ SDD chung 5,25 6,17 4,64
Độ 1 4,63 4,32 3,70
Độ 2 0,31 1,23 0.62
Độ 3 0,31 0,62 0,31
SDD theo giới
Nam 7,05 7,05 5,30
Nữ 3,26 5,20 3,89
SDD theo tuổi
< 6 tháng tuổi 2,51 5,28 2,49
6 – 12 tháng tuổi 7,92 7,31 6,72
• Bảng kết quả đánh giá tình trạng thừa cân – béo phì cho trẻ dưới 1 tuổi theo tuổi
và giới
Thừa cân – béo phì (%)
Tỷ lệ TCBP chung 8,02
lượng lớn trẻ.
- Về kĩ năng cân đo trẻ. Trên thực tế, hoạt động cân trẻ diễn ra có thuận lợi là không
có trường hợp nào trẻ quấy khóc, không dỗ được, mà phải cân mẹ bế cháu.
Khó khăn:
- Theo đúng quy tắc cân trẻ nên cởi hết quần áo. Tuy nhiên, do tiến hành hoạt động
cân vào mùa đông thời tiết lạnh nên chỉ cởi bỏ được một phần quần áo của trẻ sau
đó tiến hành cân trẻ bằng cân Nhơn Hòa có tại trạm và khó ước lượng được chính
xác để trừ bì đối với những trẻ mặc nhiều quần áo dầy, do đó chưa giảm được sự
hạn chế tối đa của việc sai số.
- Khi đo người tiến hành đo phải hết sức khú ý nhắc nhở và cùng với gia đình cởi
bỏ mũ đội đầu và giầy của số lượng lớn trẻ để kỹ thuật đo được chính xác và hạn
chế tối thiểu sai số.
- Số lượng trẻ được cân đo là lớn do đó không tránh khỏi sự lộn xộn và sự chờ đợi
mong đến lượt của gia đình trẻ.
1.1.5 Bài học kinh nghiệm
- Rèn luyện được kỹ năng cân đo trẻ. Trong quá trình cân, đo có thể gặp lỗi với
những trẻ đầu tiên nhưng sau khi được thực hành cân, đo nhiều lần giúp nhóm
sinh viên củng cố hơn nội dung lý thuyết được học và nâng cao kỹ năng cân đo trẻ
tại cộng đồng.
- Trước khi hoạt động cân đo diễn ra cần chuẩn bị trước thông tin, vạch ra các ý
định muốn thực hiện liên quan đến đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Ví dụ như
nhóm muốn tìm hiểu sự liên quan giữa kinh tế hộ gia đình với tình trạng thừa cân
béo phì ở trẻ thì nhóm cần có sự chuẩn bị trước và hỏi thêm về kinh tế gia đình trẻ.
- Vận dụng và rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, cách điều hành công việc, phân
công nhiệm vụ, kỹ năng ghi chép.
- Sau khi có số liệu cân đo trẻ, nhóm muốn có thêm hoạt động dựa vào biểu đồ tăng
trưởng trẻ sẵn có tại trạm, giúp cho gia đình biết một cách tổng quát nhất trẻ đang
phát triển trong ngưỡng nào. Đây là hoạt động nằm ngoài kế hoạch tuy nhiên đây
cũng là một cơ hội mà nhóm vận dụng để giúp tăng cường kỹ năng giao tiếp với
cộng đồng.
- Đặc biệt đối với trường hợp người phụ nữ BMI 19,5 tăng 22 kg khi mang thai đến
tuần thứ 33 và một người BMI 24 tăng 19 kg khi mang thai đến tuần thứ 32 họ đều
tăng cân vượt quá tiêu chuẩn khuyến nghị nên rất dễ có nguy cơ bị thừa cân – béo phì
và nguy hiểm hơn là mắc các bệnh đái tháo đường hay tăng huyết áp. Do đó họ cần
duy trì một chế độ ăn bình thường như trước khi mang thai và thai nhi sẽ sử dụng
năng lượng dự trữ của người mẹ.
- Trường hợp thai phụ có BMI 17,8 tăng 9kg khi mang thai ở tuần thứ 35 thì lại ngược
lại. Trường hợp này bị suy dinh dưỡng năng lượng trường diễn thể nhẹ trước khi
mang thai, do đó trong quá trình mang thai cần tăng từ 12 – 18 kg nhằm cung cấp đầy
đủ năng lượng cho mẹ và bé. Do đó, thai phụ cần sử dụng các loại thực phẩm giàu
năng lượng như các loại sữa cao năng lượng dành cho bà bầu,
- Cung cấp cho họ thực đơn mẫu (Phụ lục 2)
Về khám và bổ sung vi chất:
- Sắt, axit folic và canxi là những vi chất rất cần thiết cho sức khỏe của thai phụ và sự
phát triển của thai nhi đặc biệt là trong 2 tháng cuối. Vì vậy, các thai phụ cần uống bổ
sung vi chất đều đặn.
- Đặc biệt phụ nữ khi mang thai có nguy cơ mắc đái tháo đường thai nghén và cũng có
nguy cơ thấp đái tháo đường sau sinh do đó cần đến khám tại bệnh viện và làm các
xét nghiệm cần thiết để kiểm tra.
Chế độ nghỉ ngơi, hoạt động cho phụ nữ mang thai
- Ngoài ăn uống thì chế độ nghỉ ngơi cũng như giấc ngủ của người mẹ cũng rất quan
trọng cho sự phát triển của bé. Do đó người mẹ cần có một giấc ngủ tốt và thoải mái.
18
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
Tuy nhiên có trường hợp thai phụ phải trực đêm nên cách tốt nhất thai phụ xin đổi ca
trực với người cùng làm và xin trực bù vào thời gian sau sinh 6 tháng.
- Bên cạnh đó thai phụ cũng cần luyện tập bằng những bài tập đơn giản hoặc đi bộ nhẹ
nhàng.
- Các bài tập đơn giản tạo sự thoải mái cho thai phụ nữ mang thai (Phụ luc 3)
1.2.4 Thuận lợi
Tư vấn:
- Trước tiên, nhóm đã cung cấp thêm kiến thức cho người chăm sóc trẻ: không nên cho
trẻ ăn quá lâu với 1 bữa, biết rằng tâm lý của bà mẹ lúc nào cũng sợ con đói nên cho ăn
rải rác suốt ngày như thế sẽ làm trẻ không có hứng thú với việc ăn. Đối với trẻ thường
xuyên bị táo bón, không nên cho trẻ sử dụng các loại sữa hoàn nguyên, đặc biệt là sữa
socola vì có thể làm tăng tình trạng táo bón ở trẻ.
19
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
- Thứ 2, quan niệm chỉ hầm xương lấy nước cho trẻ ăn là không nên, vì trong nước
xương hầm không có nhiều dinh dưỡng, mà chủ yếu chỉ là chất béo. Vì vậy các bà mẹ
cần cho trẻ ăn cả phần thịt và cho trẻ ăn thêm các loại rau xanh để trẻ dễ tiêu hóa cũng
như cung cấp thêm các vitamin cần thiết.
- Thứ 3, nên cho trẻ ăn thêm hoa quả để tăng cường vitamin và chất sơ. Gia đình có thể
chọn những loại hoa quả tùy theo mùa và không nên chỉ vắt lấy nước mà cho trẻ ăn cả
để bổ sung thêm chất xơ.
- Thứ 4, với trẻ đang ăn bột thì khi nấu bột cho trẻ nên cho thêm bột mầm giá đỗ vào làm
tăng đậm độ năng lượng trong bát bột.
- Thứ 5, nên tranh thủ những hôm thời tiết có nắng cho trẻ ra phơi nắng, hoạt động giúp
trẻ tổng hợp Vitamin D một cách tự nhiên làm giảm tình trạng còi xương.
- Cung cấp thực đơn mẫu ( Phụ lục 4)
1.3.2 Tư vấn dinh dưỡng cho bà mẹ có con bị béo phì
Đối tượng: 4 bà mẹ có con bị thừa cân, béo phì
Tình trạng trẻ: Ăn quá nhiều, ít tập luyện, ăn nhiều đồ dễ gây béo phì: đồ ngọt, váng sữa,
uống quá nhiều sữa, ăn ít rau. Trẻ ít vận động thể lực.
Tư vấn:
Tuyệt đối không được thực hiện chế độ giảm cân cho trẻ mà vẫn giữ số bữa cho trẻ
như bình thường. Tuy nhiên nên thay thế các đồ ăn nhiều chất béo của trẻ như váng sữa
bằng những đồ ăn ít chất béo hơn như sữa chua hoặc hoa quả, Trong bữa ăn của trẻ cần
tăng cường thêm rau xanh, giảm dầu mỡ.
Khuyến khích cho trẻ vận động thể lực: chơi đùa với trẻ, trẻ biết đi để cho trẻ tự đi,…
kiện hoặc thường xuyên đến trạm để kiểm tra huyết áp nhằm tránh những hậu quả xấu.
- Thứ hai, về chế độ ăn của bệnh nhân, đối với bệnh nhân chưa có thói quen tốt trong ăn
uống, thì đề nghị họ ăn nhạt, tránh sử dụng muối, hat nêm hay nước mắm quá nhiều,
khi nấu ăn thì từ từ ăn nhạt nếu không thể ăn nhạt ngay. Các đồ chiên rán hay phủ thì
không nên ăn, thậm chí cả khi đi ăn cỗ cũng nên tránh những món này. Rượu bia, chè,
thuốc lá, thuốc lào không nên dùng, nếu có thói quen thì dần dần bỏ. Các bệnh nhân
đều được khuyên ăn các loại thủy hải sản thay cho thịt lợn.
- Thứ ba, về chế độ tập luyện, đề nghị bệnh nhân không nên gắng sức để tập thể dục, chỉ
nên đi lại nhẹ nhàng và đi nhiều lần trong ngày hơn là tập trung đi một khoảng thời gian
dài trong ngày
- Cung cấp thực đơn mẫu (Phụ lục 6)
1.4.2 Tư vấn bệnh nhân đái tháo đường
Đối tượng: 5 người bị tiểu đường tại thị trấn
Tình trạng bênh nhân:
Cả 5 bệnh nhân đều là người cao tuổi đã về hưu, đều mắc bệnh tiểu đường trên 3 năm. Có
1 bệnh nhân đã từng bị đột quỵ. Thường xuyên lên TTYT để khám và lấy thuốc về uống
đều đặn. Cả 5 bệnh nhân đều cho rằng cần kiêng một số loại thức ăn tuy nhiên lại không
biết cần kiêng những gì và cần ăn ra sao. Có 3 bệnh nhân hạn chế ăn phủ tạng và ăn mặn.
Về chế độ tập luyện có 2 trên 5 bệnh nhân thường xuyên đi bộ vào buổi sáng và tối
nhưng lại không biết đi bao nhiêu là đủ.
Tư vấn
- Thứ nhất, bệnh nhân nên thường xuyên kiểm tra đường huyết tại nhà nếu có điều kiện
hoặc khám bệnh và mua máy đo đường huyết tại nhà.
- Thứ hai, về chế độ ăn, nên chia nhỏ thành nhiều bữa, hạn chế ăn chất bột đường như
cơm, bún phở và bánh mì để tránh đường huyết tăng sau khi ăn. Nên ăn nhẹ trước khi đi
ngủ để tránh hạ đường huyết ; Hạn chế ăn dầu mỡ, các thức ăn chứa nhiều dầu mỡ và
chất béo như nội tạng động vật, các món chiên xào nhiều mỡ ; Nên hạn chế ăn những
hoa quả tương đối ngọt như: quýt ngọt, táo, xoài chín; Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả
ít ngọt và những ngũ cốc giàu chất xơ như gạo lức, gạo giã rối.
- Thứ ba, về chế độ tập luyện, buổi chiều tối được nghỉ nên đi bộ hoặc tập thể dục mỗi
thị trấn Văn Điển
- Ngày 13 tháng 12 năm 2012
2.1.2 Thành phần tham gia
Cán bộ TYT: Lưu Thị Thu Trang- cán bộ phụ trách chương trình ATTP tại thị trấn và
nhóm sinh viên
Quy trình: kiểm tra ATTP tại các cơ sở được thực hiện đúng theo quy định. gồm 7
bước:
Bước 1: Chào hỏi và giới thiệu về đoàn kiểm tra với cơ sở thực phẩm
Bước 2: Đề nghị chủ cơ sở thực phẩm cho xem giấy tờ: giấy khám sức khỏe, giấy xét
nghiệm phân, giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP, hợp đồng mua nguyên liệu hoặc
giấy thẩm của thú y (với những cơ sở sử dụng thực phẩm gia súc, gia cầm)
Bước 3: Đánh giá tình hình tại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống bằng bảng kiểm
trong biên bản. (Biên bản kiểm tra ATTP tại cơ sở dịch vụ ăn uống_Phụ lục 8)
Bước 4: Thực hiện xét nghiệm nhanh 3 test: tinh bột, phoocmon, dấm ăn.
Bước 5: Viết biên bản kiểm tra ATTP tại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống.
Bước 6: Nhắc nhở chủ cơ sở về những lỗi vi phạm và nếu tái phạm sẽ có biện pháp xử
lý, ghi và ký vào biên bản.
Bước 7: Chào và ra về
2.1.3 Kết quả
22
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
Hai cơ sở đều có đủ giấy tập huấn, khám sức khỏe và giấy chứng nhận đủ điều kiện
ATTP và 2 cơ sở được thẩm định để cấp giấy chứng nhận đều có giấy khám sức khỏe
và tập huấn.
Tất cả các cơ sở đều chưa có có hợp đồng mua bán hoặc giấy chứng nhận đủ điều
kiện ATTP của bên cung cấp nguyên liệu, chưa có lưu mẫu thức ăn,
Xét nghiệm tinh bột: ¾ cơ sở không đạt tiêu chuẩn về xét nghiệm nhanh tinh bột, ¼
cơ sở đạt về xét nghiệm nhanh tinh bột
Xét nghiệm foccmon: 1/1 cơ sở đạt về xét nghiệm
Xét nghiệm dấm ăn: 2/2 cơ sở đạt về xét nghiệm nhanh dấm ăn
gọn gàng, mặt bàn được kê cao và luôn sạch, bát chén đều được úp cẩn thận tuy nhiên,
nhiều gia đình không có xà phòng rửa tay tại khu vực bồn rửa tay. Về vệ sinh dụng cụ và
chế biến thực phẩm, phàn lớn là đạt hết các tiêu chuẩn trừ có việc dùng thớt sống chín
23
Nhóm 1_Thị trấn Văn Điển
riêng biệt là nhiều hộ gia đình còn mắc phải. Tất cả các tiêu chí dựa trên đánh giá thông
qua bảng kiểm (Chi tiết phụ lục 9)
II.2.3 Tư vấn
Chủ yếu nhóm tư vấn dựa vào bảng kiểm, có tiêu chí nào chưa đạt được thì nhắc nhở
ngay cho người dân. Bên cạnh đó giải thích lý dó tại sao phải làm như vậy và đưa ra các
hậu quả nếu không nhanh chóng sửa đổi như nên mua thùng rác có nắp đậy hoặc dùng
bài che chắn lại vì ruỗi muỗi đậu vào rác rồi lại đậu vào thức ăn sẽ dễ bị đi ngoài, thớt
thái nên có 2 loại là thái sống và thái chín do sản phẩm thịt khi còn sống có thể có một số
vi khuẩn gây bệnh dính vào thớt khi rửa thì không thể chết đi được, nếu sau đó lại dùng
thớt này để thái thịt chín thì thịt chín sẽ bị nhiễm vi khuẩn ban đầu
II.2.4 Thuận lợi
- Cán bộ trạm, cộng tác viên và người dân rất hợp tác
- Các hộ gia đình ở gần nhau nên có thể dễ dàng cho việc đi lại
II.2.5 Khó khăn
Thời điểm đến chưa phù hợp, đến vào lúc họ không nấu nướng nên một số tiêu chí
khó có thể đánh giá chính xác qua câu trả lời của người dân
II.2.6 Bài học kinh nghiệm
Cần xác định trước địa điểm nhà sẽ đến phỏng vấn, liên hệ trước và hẹn họ vào một
buổi thích hợp để tiến hành tư vấn.
2.3Hoạt động quan sát và đánh giá điều kiện ATTP tại chợ
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng bảng kiểm để quan sát tình hình ATTP tại chợ (Bảng kiểm chợ phụ lục 10)
2.3.2 Kết quả quan sát 3 chợ tại thị Trấn Văn Điển
Qua hoạt động quan sát điều kiện ATTP tại 3 chợ: Chợ Yên Ngưu, Chợ Pin, Chợ Quốc
Bảo tại thị trấn Văn Điển. Kết quả cho thấy điều kiện ATTP tại các chợ còn hạn chế.
bộ tại TYT
Là lần đầu tiên thực hiện đi đánh giá ATTP tại chợ nên ban đầu nhóm chưa có sự
chuẩn bị kĩ về công cụ quan sát do vậy chưa thể đánh giá được hết tình hình ATTP tại
các chợ do vậy nhóm phải bổ sung bảng kiểm và thực hiện đánh giá chợ lần hai.
C. MÔ TẢ VÀ PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ ATTP TẠI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN
UỐNG TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN VĂN ĐIỂN
1. Đặt vấn đề
Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở tổ chức chế biến, cung cấp thức ăn, đồ
uống để ăn ngay có địa điểm cố định bao gồm cơ sở chế biến suất ăn sẵn; căng tin kinh
doanh ăn uống; bếp ăn tập thể; bếp ăn, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng;
nhà hàng ăn uống; cửa hàng ăn uống; cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực
phẩm chín [2]. Đây là loại hình dịch vụ ngày càng được nhiều người tiêu dùng lựa chọn
bởi tính đa dạng và phong phú của nó. Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống thường là nơi
có số lượng người tiêu dùng lớn, có khi lên đến hàng trăm. Do đó nếu chủ cửa hàng
không có ý thức mà cố tình sử dụng các loại thực phẩm nhập lậu không có nguồn gốc rõ
ràng, thực phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng để thu lợi nhuận thì sẽ rất nguy hiểm.
Vì vậy, đây là nơi chứa đựng nhiều nguy cơ tiểm ẩn về ngộ độc thực phẩm nếu không
được các cơ quan chức năng quản lý chặt chẽ.
Thị trấn Văn Điển là nơi có số lượng các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống cao nhất
trên địa bàn Huyện Thanh Trì với trên 200 cơ sở. Việc quản lý các cơ sở này cũng đang
gặp nhiều hạn chế như tỷ lệ cấp giấy chứng nhận đủ kiều kiện ATTP đạt mức 86,6%
nhưng qua quan sát thực tế và phỏng vấn đối tượng cho thấy tình trạng các cơ sở vi phạm
vệ sinh an toàn thực phẩm như chưa tuân thủ quy trình một chiều, người trực tiếp bán
thực phẩm cho khách quên đeo tạp dề,…vẫn còn phổ biến; tỷ lệ người trực tiếp tham gia
chế biến, bán thực phẩm đi tập huấn còn thấp hơn nhiều so với thực tế.
Có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến công tác quản lý như thiếu sự phối hợp liên
ngành của các bên liên quan trong công tác kiểm tra, giám sát ATTP,… Đi kèm với đó là
những yếu tố từ phía chủ cơ sở như ý thức chấp hành vệ sinh kém hay từ phía chính bản
thân người tiêu dùng do nhiều yếu tố từ các cấp lãnh đạo cho đến chủ cơ sở và người tiêu