Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
ICT401_Bài 3_v1.0013101225 49
BÀI 3: CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Khi ứng dụng máy tính và Internet vào toàn
bộ quy trình kinh doanh, các doanh nghiệp
trước hết phải nghiên cứu đặc điểm cũng
như quy mô của doanh nghiệp mình, loại
hình kinh doanh thương mại điện tử nào phù
hợp với mình, nhằm đạt được lợi thế tối ưu
trong kinh doanh và gặt hái được lợi nhuận
tối đa.
Mục tiêu
Nội dung
Sau khi học xong bài học, các bạn sẽ nắm
được các khái niệm, đặc điểm, các lợi ích và
hạn chế của một số mô hình thương mại
điện tử phổ biến hiện nay trên thế giới.
Thời lượng học
6 tiết
đến một số kết quả tìm kiếm khác. Một đặc điểm nổi trội của công cụ tìm kiếm trong catalog điện
tử của amazon đó là người tiêu dùng có thể tìm kiếm từ khóa trong nội dung một cuốn sách chứ
không chỉ dừng lại ở tựa sách. Lần thứ hai khi khách hàng truy cập vào trang web của công ty thì
giao diện của trang web cung cấp ngay các mặt hàng mà khách hàng đã tìm kiếm trong lần đầu
truy cập cùng với những gợi ý về các sản phẩm có liên quan tới mặt hàng mà khách hàng đã tìm
kiếm. Các sản phẩm trình bày trên giao diện của trang web theo thứ tự sản phẩm truy cập gần nhất
cho tới sản phẩm truy cập cũ hơn. Ngoài ra, ở cuối trang web amazon.com còn có một mục
catalog các sản phẩm mà khách hàng đã xem
Câu hỏi
Trên đây là một trong số các mô hình thương mại điện tử được áp dụng phổ biến trên thế giới.
Tại Việt Nam, mô hình thương mại điện tử đang được các doanh nghiệp áp dụng thế nào?
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
ICT401_Bài 3_v1.0013101225 51
3.1. Mô hình Catalog trực tuyến (Web Catalog Model)
3.1.1. Khái niệm Catalog điện tử
Catalog điện tử là các trang thông tin về sản phẩm dưới dạng điện tử, không những
đóng một vai trò quan trọng trong các ứng dụng của thương mại điện tử, mà còn có
vai trò “ xương sống” cho một trang web bán hàng trực tuyến.
Catalog điện tử bao gồm một cơ sở dữ liệu về sản phẩm, các công cụ tìm kiếm và hiển
thị. Catalog điện tử có thêm công cụ tìm kiếm, đây chính là khác biệt lớn nhất giữa
catalog điện tử với catalog in giấy. Một điểm nổi bật nữa của catalog điện tử là khả
năng tương tác cao. Ví dụ khi truy cập vào trang web www.hairstyler.com bạn có thể
chèn ảnh của mình vào và sau đó thay đổi kiểu tóc và màu sắc.
Hiện nay, các catalog còn cho phép người tiêu dùng đánh giá về chất lượng của sản
phẩm mà mình đã mua để giúp những khách hàng tiềm năng có thể đánh giá xem sản
để tìm kiếm sản phẩm.
Mức lan tỏa của catalog trên toàn cầu nhanh
với qui mô rộng thông qua mạng internet.
Sống động nhờ có thể chèn các hình ảnh động
và âm thanh.
Có thể giới thiệu được số lượng lớn sản phẩm
trên cùng một catalog.
Tiết kiệm chi phí trong dài hạn.
Tự động so sánh giá của các sản phẩm cùng loại
Khách hàng phải có kỹ năng sử dụng máy tính
và truy nhập thông tin.
Hạn chế số sản phẩm được giới thiệu
trên Catalog.
Thông tin sản phẩm bị hạn chế vì hình
ảnh và ngôn ngữ mô tả ít.
Chi phí in catalog giấy ngày càng tăng.
Mất nhiều chi phí để giới thiệu catalog.
Mất nhiều thời gian để tìm kiếm sản
phẩm và so sánh giá. Nguồn: Ecommerce, Turban, 2006
Mọi người thường đặt ra câu hỏi liệu trong tương lai catalog điện tử có thể thay thế
hoàn toàn catalog giấy không? Một thực tế cho thấy báo và tạp chí ấn bản không hề
giảm cho dù hiện nay số lượng báo và tạp chí trực tuyến đang tăng lên với tốc độ
chóng mặt. Điều này chỉ ra rằng catalog in giấy sẽ không dễ biến mất. Tuy nhiên,
trong mô hình thương mại điện tử B2B, catalog in giấy có thể bị thay thế hoàn toàn
bởi catalog điện tử.
3.1.2. Lợi ích mà catalog điện tử đem lại
Đối với doanh nghiệp:
Còn đối với catalog động thì thông tin được hiển
thị bằng những hình ảnh động, có thể có cả âm
thanh. Việc sử dụng catalog điện tử động đôi khi
tạo ra những hiệu ứng tích cực cho người tiêu dùng,
khiến cho người tiêu dùng bị lôi cuốn và sẵn sàng
tiến hành đặt mua hàng mà không có sự do dự.
Mức độ cá biệt hóa: Catalog điện tử có thể chia thành
catalog theo một chuẩn chung và catalog được cá biệt
hóa theo từng đối tượng.
Đối với catalog dạng chuẩn, người bán có thể cung
cấp cùng một catalog cho nhiều khách hàng khác nhau. Nhưng trong các catalog
cá biệt hoá thì nội dung về giá cả, và hình thức hiển thị giới thiệu sản phẩm lại
được mặc định theo sở thích của từng đối tượng khách hàng cụ thể mà nó hướng
tới.
Catalog cá biệt hóa được sử dụng nhiều trong các mô hình kinh doanh thương mại
điện tử B2B hơn là trong mô hình thương mại điện tử B2C.
Có hai cách để tạo catalog điện tử có tính cá biệt:
o Thứ nhất là yêu cầu khách hàng xác định được những mặt hàng ưa thích trong
catalog tổng hợp, việc này được thực hiện bằng
một phần mềm One-to-One của công ty
Broadvision (www.broadvision.com).
o Thứ hai là có thể tạo các catalog điện tử có tính
cá biệt hóa bằng cách sử dụng một phần mềm
trong hệ thống để tự động xác định các sở thích
của khách hàng dựa trên những dữ liệu giao
dịch. Thường thì hiện nay, các doanh nghiệp
bán lẻ trực tuyến sử dụng cookie để theo dõi
hành vi của khách hàng, cũng như thói quen và
sở thích của khách hàng. Trên cơ sở thông tin ghi được, một phần mềm sẽ
tự
Ví dụ như, nếu bạn đặt hàng trên amazon.com thì ngay lập tức đơn đặt hàng của bạn
sẽ tự động được chuyển tới thiết bị kiểm tra vận hành bằng máy tính xem hàng có sẵn
trong kho không.
3.2. Mô hình siêu thị trực tuyến (E - Store Model)
3.2.1. Khái niệm
Siêu thị trực tuyến là trang web bán hàng trực tuyến nơi mà người tiêu dùng có thể
vào mua sắm hàng hóa, dịch vụ và thanh toán trực tuyến bằng các phương tiện thanh
toán điện tử. Ngoài ra còn có thể gọi siêu thị trực tuyến bằng nhiều tên khác nhau như
cửa hàng ảo (virtual shop), cửa hàng trực tuyến (electronic storefront, online store).
Siêu thị trực tuyến có thể kinh doanh một mặt hàng duy nhất, ví dụ iTunes của Apple
là siêu thị âm nhạc trực tuyến phổ biến nhất trên thế giới hiện nay trong việc cung cấp
các album và bản nhạc có bản quyền (www.itunestore.com). Ngoài ra hiện nay còn có
một loại hình siêu thị trực tuyến tổng hợp bán rất nhiều mặt hàng thuộc mọi chủng
loại khác nhau, ví dụ www.walmart.com.
Nếu xét về mức độ triển khai thương mại điện tử thì siêu thị trực tuyến có hai loại:
Siêu thị trực tuyến thuần túy; hai là siêu thị trực tuyến bán truyền thống.
Siêu thị trực tuyến là một trong những hình thức thương mại điện tử được ứng dụng
đầu tiên khi internet được đưa vào thương mại hóa. Đây là mô hình thương mại điện
tử phát triển nhanh nhất với số lượng website bán hàng trực tuyến tăng hàng năm.
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
ICT401_Bài 3_v1.0013101225 55
Wal – Mart tiến tới trực tuyến
Wal-mart, tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới hiện nay, đã rất nỗ lực trong việc kết hợp
Website và thương mại điện tử với chuỗi cửa hàng ngoài đời thực. Mới đây, hãng đã triển
khai chương trình "Site to Store", cho phép khách hàng đặt mua một sản phẩm nào đó qua
Website.
như người tiêu dùng có thể truy cập và đăng ký làm thành viên của cửa hàng để có thể
nhận được những khoản ưu đãi như chiết khấu khi mua hàng; khách hàng hay người
tiêu dùng có thể chia sẻ thông tin với nhau về hàng hóa, dịch vụ; có mục đánh giá sản
phẩm giúp cho người tiêu dùng có thêm nhận định khi đưa ra quyết định mua sản phẩm.
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
56 ICT401_Bài 3_v1.0013101225
Hình 3.1: Mô hình sàn giao dịch điện tử Nguồn: Turban, Electronic Commerce, 2006, Prentice Hall
3.2.2. Lợi ích của việc triển khai các siêu thị trực tuyến:
Giá hàng hóa trên các siêu thị trực tuyến thường có
xu hướng rẻ hơn. Theo một nghiên cứu vào năm
2004, giá hàng hóa của các sản phẩm trên các siêu
thị trực tuyến rẻ hơn 6-16% so với giá hàng bán
offline.
Các khoản chiết khấu khi mua hàng trực tuyến
nhiều hơn mua hàng offline. Ngoài các khoản chiết
hàng tồn kho
Giải quyết lô hàng
Trung gian, tổ chức tài chính
logistics, công nghệ, những người khác
Cơ sở hạ tầng
(mạng, cơ sở dữ liệu)
Trước
giao
dịch
Sau
giao
dịch
Cổng nhà cung cấpBài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
ICT401_Bài 3_v1.0013101225 57
Nhìn chung, doanh nghiệp đã ứng dụng khá thành công mô hình kinh doanh đăng ký
cung cấp nội dung này. Ngoài ra, những doanh nghiệp nào có quyền sở hữu công
nghệ, trí tuệ, bằng phát minh sáng chế,… thì cũng có thể ứng dụng mô hình này để
kinh doanh. Hiện nay, mô hình này đã và đang bắt đầu xuất hiện rộng rãi ở Việt Nam.
3.4. Mô hình hỗ trợ quảng cáo (Advertising - Supported Model)
3.4.1. Khái niệm
Là mô hình mà website sẽ cung cấp dịch vụ, thông tin hay cơ sở dữ liệu miễn phí cho
khách hàng khi đi kèm với các thông điệp quảng cáo. Và doanh thu có được khi ứng
dụng mô hình này là từ hoạt động quảng cáo.
Các nhà cung cấp dịch vụ mạng cung cấp thông tin trực tuyến miễn phí đến các khách
hàng. Tất cả các hoạt động bán hàng hoàn toàn được hỗ trợ bởi doanh thu quảng cáo.
những trang web đầu tiên xây dựng theo mô hình trang web đa dạng, bao gồm
nhiều trang khác nhau tập trung nhiều đối tượng người truy cập.
Yahoo! Hiện tại đây là trang web dẫn đầu về số lượng truy cập trên thế giới (Theo
thống kê của Alexa.com), điều này cho phép Yahoo! mở rộng các danh mục trang
thông qua một “cổng vào” tập trung là www.yahoo.com (khái niệm cổng thông tin
được hiểu như “cửa ngõ” truy cập vào trang). Bên cạnh Yahoo, các cổng thông tin
điển hình khác cũng sử dụng mô hình quảng cáo trực tuyến như AOL, AltaVista,
Google, C-Net hay MSN của Microsoft.
Báo điện tử: Là mô hình khá phổ biến sử dụng cách thức tạo doanh thu từ quảng
cáo, cũng như cách tạo quảng cáo phổ thông như báo giấy truyền thống, các báo
điện tử cũng tiến hành quảng cáo cho khách hàng bằng cách cho thuê chỗ đặt
Logo, đường link, banner…
Một số trang tập trung đối tượng truy cập nhất định: Các trang này tập trung vào
một đối tượng người dùng có mục đích nhất định khi tìm kiếm thông tin trên
mạng, sau đó khi thu hút được người dùng thường xuyên, việc tiến hành quảng cáo
trên các site này thông thường sẽ có mức phí cao hơn các cách thức quảng cáo trực
tuyến khác.
Một số ví dụ dễ thấy như trang tìm kiếm việc làm trên mạng CareerSite hay trang
Vietnamworks tại Việt Nam. Ngoài ra còn có một số trang khá nổi tiếng khác như
AutoTrader.com, CycleTrader.com chuyên dùng cho mua bán các phương tiện
giao thông sử dụng lại.
3.5. Mô hình phí dịch vụ (Fee-for-service Model)
3.5.1. Khái niệm
Mô hình phí dịch vụ là mô hình tạo doanh thu thông qua thu phí dịch vụ mà doanh
nghiệp cung cấp cho khách hàng, tuy nhiên theo mô hình này nhà cung cấp sẽ không
thực hiện giao dịch cho khách hàng mà tiến hành cung cấp dịch vụ trực tuyến cho
khách hàng sử dụng. Mức phí được xác định dựa trên giá trị của dịch vụ cung cấp.
Các loại hình kinh doanh thường sử dụng mô hình phí dịch vụ
Trò chơi trực tuyến: không chỉ trên thế giới mà ngay tại Việt Nam, dịch vụ trò chơi trực
tuyến đã có sự phát triển rất mạnh mẽ. Nếu chỉ tính riêng ở Mỹ, hằng năm có hơn khoảng
3.5.2. Lợi ích và hạn chế của mô hình phí dịch vụ
Lợi ích:
Rủi ro liên quan đến lãi suất trong đầu tư sẽ được giảm đáng kể.
Khách hàng sẽ yên tâm hơn khi thanh toán đúng chi phí cho đúng dịch vụ mà mình
sử dụng.
Khách hàng sẽ kiểm soát được chi phí phải trả cho nhà cung cấp dịch vụ. Hơn
nữa, khách hàng có thể chọn loại hình dịch vụ tùy thuộc vào mức tiền họ sẵn
sàng thanh toán.
Hạn chế:
Khó khăn phát sinh trong mối quan hệ giữa nhân
viên và chủ doanh nghiệp. Nhân viên xem việc ứng
dụng mô hình này như việc phải gánh thêm một
khó khăn hành chính khi phải cung cấp dịch vụ cho
khách hàng qua một thị trường ảo và cửa hàng ảo.
Còn đối với chủ doanh nghiệp, việc thay đổi sang
mô hình này vướng phải nhiều khó khăn khi
phương thức kinh doanh truyền thống vẫn đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nhiều nhà cung cấp phải trả hoa hồng cho những nhà hoạch định chiến lược kinh
doanh dự án thương mại điện tử.
Việc ứng dụng mô hình phí dịch vụ thời gian đầu có thể sẽ ảnh hưởng tới doanh
thu của công ty.
Chi phí hành chính sẽ cao hơn vì công ty cần phải lưu trữ, kiểm soát thời gian,
thanh toán chi phí hóa đơn và thu phí từ khách hàng.
Các nhà cung cấp dịch vụ khó có thể áp dụng nhiều mức giá khác nhau tại các thị
trường khác nhau.
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
60 ICT401_Bài 3_v1.0013101225
Người tham
giá đấu giá
Đấu giá
Đấu giá tăng, đấu giá giảm
Đấu giá ủy quyền
Kết hợp các hình thức đấu giá
Tính toán cho chi phí đấu giá
Hủy bỏ đấu giá
Trung gian đấu giá
Đăng ký
Đưa thông
tin
Tìm kiếm các
Cuộc đấu giá
Đăng ký
Đấu giá
Hoàn thành
Thông báo về đấu giá
Báo cáo của những
nguời tham giá đấu giá
Xuất hóa đơn
V
ận chuyển
Người bán thanh toán phí
Thông báo cho nguời bán
Thông toán cho người bằng thẻ tín dụng
Phản hồi của
Người mua
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
xóa đi tài khoản mà họ đăng ký khi tham gia
đấu giá
Rủi ro khi đấu giá là thấp nhất (sản phẩm thật,
người mua thật)
Rủi ro cao vì sản phẩm ảo, người mua ảo
Mặt hàng đấu giá hạn chế, trị giá cao hoặc là
rất cao
Mặt hàng đấu giá đa dạng, trị giá sản phẩm
tương đối thấp
Người mua và bán đều phải đến tận nơi tổ chức
đấu giá
bên có thể tham gia đấu giá tại bất kỳ đâu có
mạng Internet
Nguồn : Ecommerce, Turban, 2006
eBay, website đấu giá trực tuyến lớn nhất trên thế giới hiện nay
eBay.com được thành lập vào năm 1995 bởi Pierre Omidyar, một chuyên gia lập trình máy
tính. Là công ty phát triển nhanh nhất mọi thời đại và là website bán đấu giá trực tuyến lớn
nhất toàn cầu, nơi mà mọi người ở khắp nơi trên thế giới có thể mua hoặc bán bất cứ mặt
hàng nào được phép. Hiện nay, eBay đang kiểm soát gần 90% ngành đấu giá qua mạng trên
toàn cầu, có khoảng 80 triệu người mua và tiêu khoảng 894 USD mỗi ngày. Hàng ngày có
hơn 2 triệu mặt hàng mới đượ
c đưa thêm vào giao dịch, hơn 10 triệu cuộc trả giá và hơn
100.000 người bán, người mua gia nhập vào hệ thống bán hàng nổi tiếng này. Vào bất cứ
thời điểm nào, trên eBay đều đang diễn ra khoảng 19 triệu phiên đấu giá với hơn 45.000
mặt hàng khác nhau và khoảng 2 triệu mặt hàng mới được chào bán hàng ngày. Ngoài
website chính của Mỹ, eBay còn thiết lập mạng lưới website tại 35 quốc gia khác nhau. Và
năm 2007, eBay chính thức ra đời tại Việt Nam (www. eBay.vn)
Nhằm khuy
ến khích những người bán trực tuyến tăng số lượng mặt hàng chào bán trên
3.6.3. Ưu điểm của mô hình đấu giá trực tuyến
Không ràng buộc thời gian. Việc đặt giá có thể thực hiện bất kì lúc nào. Các sản
phẩm được liệt kê trong một hoặc một vài ngày (thường là từ 1 đến 10 ngày, tùy
theo ý thích của người bán) để người mua có thời gian tìm kiếm, quyết định và đặt
giá. Giá trị của món hàng sẽ được nâng lên theo số lượng người tham gia đấu giá.
Không ràng buộc địa lý. Những người bán hàng và những người đấu giá có thể
tham gia đấu giá từ
bất kì nơi nào có truy cập Internet. Điều này làm các cuộc đấu
giá thêm gần gũi và giảm chi phí tham dự một cuộc đấu giá. Điều này đồng thời
cũng làm tăng số lượng các sản phẩm (có càng nhiều người bán hàng) và số lượng
các đặt giá (có càng nhiều người đặt giá). Những món hàng không những không
cần phải đưa đến sàn đấu giá mà còn giảm được chi phí, giảm được giá khởi điểm
được chấp nh
ận của người bán.
Sức mạnh của tương tác xã hội. Tương tác xã hội liên quan đến quá trình đấu giá
thì giống như việc đánh bạc. Những người đấu giá chờ đợi trong hi vọng là họ sẽ
thắng (eBay gọi những người đặt giá thành công là những người chiến thắng).
Cũng giống như sự ham mê cờ bạc, nhiều người tham gia đặt giá chủ yếu để "chơi
trò chơi" chứ không muốn giành được món hàng. Điều này đã tạo ra một sự phân
chia lớn các khách hàng tiềm năng của eBay.
Số lượng người đấu giá lớn vì tiềm năng có giá thấp, hàng hóa và dịch vụ đa
dạng, dễ dàng tham gia và lợi ích xã hội của quá trình đấu giá.
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
ICT401_Bài 3_v1.0013101225 63
Số lượng người bán hàng lớn do có nhiều người tham gia đặt giá, có thể bán
được giá cao, giảm chi phí bán hàng, dễ buôn bán.
Mạng lưới kinh doanh mở rộng. Số lượng lớn người tham gia đấu giá sẽ khuyến
cao thường chỉ có một vài nhà cung cấp nhưng lại có rất nhiều người mua. Vì vậy
xuất hiện sự độc quyền trong việc cung cấp hàng hóa.
Hình 3.4: Cấu trúc sàn giao dịch điện tử B2B
Nguồn: Ecommerce, Turban, 2006
Mô hình sàn giao dịch của người mua (Buy–side): Là mô hình sàn giao dịch do
một doanh nghiệp lập ra để mua hàng hóa (dịch vụ) từ nhiều doanh nghiệp khác
(one–from–many).
Hình thức này thường thấy ở những ngành công nghiệp sản xuất ôtô, máy bay,…khi
một số ít nhà sản xuất lớn (GM, Ford, Boeing…) tiến hành mua nguyên liệu từ rất
nhiều công ty con. Việc độc quyền mua cho phép người mua hưởng lợi từ sự cạnh
tranh giá cả, chất lượng. Hình thức này còn giúp tạo dựng những mối quan hệ tin
tưởng lâu dài giữa người mua và các nhà cung cấp khi
nguồn mua hàng của người mua thực sự ổn định.
Các phương thức mua hàng hóa (dịch vụ) của các
doanh nghiệp:
o Đấu thầu trực tuyến.
o Mua hàng trực tuyến từ các nhà sản xuất, bán
buôn hoặc bán lẻ thông qua đàm phán để ký kết
hợp đồng.
o Tham gia vào hệ thống mua hàng – đây là hệ thống
mua hàng trực tuyến gồm nhiều doanh nghiệp mua
vừa và nhỏ lập nên nhằm tập trung lượng cầu đủ
lớn, từ đó mua được hàng với giá cả phải chăng,
giảm được chi phí giao dịch.
Sàn giao dịch trực tuyến đa chiều (Exchanges): Là mô hình sàn giao dịch trực
tuyến mà tại đây mọi doanh nghiệp có nhu cầu đều có thể tham gia giao dịch với
nhau trên cơ sở ứng dụng một nền công nghệ chung (many–to–many). Các sàn
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
sàn giao dịch B2B cộng tác (Collaborative commerce): Là mô hình sàn giao dịch
mà trong đó các doanh nghiệp hợp tác giao dịch với các doanh nghiệp khác ngoài
việc mua bán hàng hóa như trao đổi thông tin, thiết kế, lập kế hoạch, phát triển,
quản lý và nghiên cứu sản phẩm cũng như việc nỗ lực cải tiến ứng dụng TMĐT
vào hoạt động kinh doanh.
Mô hình này giúp doanh nghiệp có khả năng đưa sản phẩm mới ra thị trường một
cách nhanh hơn, giảm được thời gian sản xuất, giảm được số hàng tồn kho và điều
chỉnh nhanh chóng hơn theo nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng.
3.7.1.3. Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử B2B
Lợi ích:
Tạo lập nhiều cơ hội mua bán.
Giảm thiểu chi phí giấy tờ và hạn chế chi phí hành chính.
Tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Giúp người mua tiết kiệm thời gian và chi phí tìm kiếm sản phẩm và nhà cung cấp.
Tăng hiệu quả làm việc của nhân viên trong việc mua bán sản phẩm.
Giảm thiểu lỗi và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Định dạng sản phẩm dễ dàng hơn.
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
66 ICT401_Bài 3_v1.0013101225
Giúp công ty giảm thiểu chi phí marketing và chi phí bán hàng.
Giảm mức và chi phí hàng tồn kho.
Giúp tạo catalog điện tử phù hợp với từng nhu cầu khách hàng khác nhau với các
mức giá khác nhau.
Tăng tính linh hoạt trong sản xuất và cho phép thực hiện giao hàng theo đúng thời gian.
Đối với người mua, giảm chi phí mua hàng.
Tạo ra sự thích ứng ở mức độ cao.
thực hiện khi mua hàng hóa hoặc dịch vụ.
Amazon.com là ví dụ điển hình cho mô hình TMĐT này
Tên miền thu hút 615 triệu người xem mỗi năm, con số này lớn gấp đôi walmart.com.
Ban đầu amazon chỉ kinh doanh mặt hàng sách, sau đó nhanh chóng làm nhà bán lẻ các
Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
ICT401_Bài 3_v1.0013101225 67
mặt hàng khác như đĩa CD, băng video, DVD, phần mềm, các đồ điện gia dụng, đồ làm
bếp, đồ làm vườn, đồ chơi, trò chơi và sản phẩm cho trẻ sơ sinh, đồ trang sức, nhạc cụ,
văn phòng phẩm…
Từ 8/2005, amazon bắt đầu bán sản phẩm của mình dưới mác riêng là “Pinzon” khi
công ty có ý định tập trung vào các sản phẩm như dệt may, đồ dùng nhà bếp và các sản
phẩm gia dụng.
5/2007, amazon tuyên bố mở m
ột cửa hàng âm nhạc trực tuyến, bán những bản nhạc ở
dạng MP3.
8/2007, amazon cho ra đời cửa hàng thực phẩm trực tuyến AmazonFresh, khách hàng
có thể yêu cầu giao thực phẩm vào buổi sáng sớm.
Năm 2008, amazon còn vươn sang cả sản xuất phim và hiện tại đang đầu tư vào phim
The Stolen Child với hãng phim 20
th
Century Fox.
Mô hình kinh doanh bán lẻ trực tuyến
Để hiểu rõ hơn mô hình này, chúng ta xem xét dưới khía cạnh nhà bán lẻ hoặc nhà sản
xuất. Người bán mặc dù có cơ cấu tổ chức riêng, nhưng vẫn phải nhập hàng từ các
nguồn khác, thường là các nhà kinh doanh. Mô hình dưới đây chỉ ra các hoạt động
kinh doanh khác trong Thương mại điện tử và các hoạt động liên quan, vì các hoạt
động này ít nhiều đều ảnh hưởng đến loại hình kinh doanh bán lẻ trực tuyến.
B2B Bán hàng
marketing
& CRM
Kế hoạch nguồn
lực doanh nghiệp
“xương sống”
Công ty của chúng tôi
Tài chính doanh nghiệp,
kế toán, HRM, IT
Đốitác
kinh doanh
Nhà
cung cấp
Nhà
cung cấp
Nhà
cung cấp
Đốitác
kinh doanh
Nhà
phân phối
Khách
hàng
Nhà
cung cấp
Nhà
cung cấp
Nhà
cung cấp
Đốitác
Nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng mà không phải qua các nhà bán
buôn và bán lẻ. Tuy nhiên, khách hàng sẽ gặp phải một số khó khăn khi mua hàng trực
tuyến và ngược lại các cửa hàng trực tuyến có thể sẽ gặp khó khăn khi giao hàng cho
khách hàng. Do đó, để khắc phục vấn đề này, cần phải có một bên hỗ trợ trực tuyến.
Và trong trường hợp này, các bên trung gian trong truyền thống sẽ đóng một vai trò
mới trong thương mại điện tử, sẽ cung cấp giá trị gia tăng và sự trợ giúp.
Hình 3.6: Cấu trúc mạng phân phối trong thương mại điện tử
Nguồn: Ecommerce, Turban, 2006
Như vậy, Internet tạo ra một phương cách mới tiếp cận khách hàng, một phương pháp
mới đem lại giá trị cho khách hàng, và đem lại nhiều doanh thu.
Ví dụ về các vai trò mới của bên trung gian, Kelly Blue Book (kbb.com) cung cấp
thông tin về giá cả cho khách hàng; Edmunds thì cung cấp cho khác hàng thông tin về
các chi phí khi giao dịch; CARFAX (carfax.com) có thể nghiên cứu một loại xe hơi đã
sử dụng nào đó và thông báo cho khách hàng nếu xe này có bất kỳ vấn đề nào xảy ra
còn iMotors (imotors.com) cung cấp cho khách hàng chiết khấu về bảo hiểm, gas và
dịch vụ sửa chữa.
Nhà cung cấp Nhà sảnxuất Bán buôn Bán lẻ Người tiêu dùng
Nhà cung cấp Nhà sảnxuất Bán buôn Bán lẻ Người tiêu dùng
Nhà cung cấp Nhà sảnxuất Bán buôn Bán lẻ Người tiêu dùng
Nhà cung cấp Nhà sảnxuất Bán buôn Bán lẻ Người tiêu dùng
(a)
(b)
(c)
Hàng hóa lưuthông
Thông tin lưulượng
Chứcnăng trung gian
Nhà cung cấp Nhà sảnxuất Bán buôn Bán lẻ Người tiêu dùng
Nhà cung cấp Nhà sảnxuất Bán buôn Bán lẻ Người tiêu dùng
Doanh thu cũng sẽ thu được từ hệ thống thông tin mà khách hàng truy cập. Các sản phẩm
số hóa hiển nhiên được bán và giao trực tiếp trên mạng.
Mô hình hỗ trợ quảng cáo (Advertising-supported model): Là mô hình mà website sẽ
cung cấp dịch vụ, thông tin hay cơ sở dữ liệu miễn phí cho khách hàng khi đi kèm với các
thông điệp quảng cáo. Và doanh thu có được khi ứng dụng mô hình này là từ hoạt động
quảng cáo.
Mô hình phí dịch vụ (fee-for-service model): Mô hình phí dịch vụ là mô hình tạo doanh
thu thông qua thu phí dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng, tuy nhiên theo
mô hình này, nhà cung cấp sẽ không thực hiện giao dịch cho khách hàng mà tiến hành cung
cấp dịch vụ trực tuyến cho khách hàng sử dụng.
Mô hình đấu giá trực tuyến (online auction model): Đấu giá trực tuyến là việc tiến hành
hoạt động đấu giá qua các hệ thống thông tin. Tổ chức, cá nhân có thể độc lập tiến hành đấu
giá trực tuyến hoặc thông qua dịch vụ đấu giá trực tuyến củ
a tổ chức, cá nhân khác.
Mô hình B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với
doanh nghiệp. Doanh nghiệp ở đây là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, kể cả các tổ chức phi lợi
nhuận. B2B chiếm ít nhất 85% tổng giá trị giao dịch của TMĐT.
Mô hình B2C: Là mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, theo đó, các
công ty sẽ bán hàng hóa hoặc dịch vụ đến người tiêu dùng cuố
i cùng. Nó được biết đến với
tên gọi bán lẻ trực tuyến. Doanh nghiệp ở đây có thể là nhà sản xuất, nhà phân phối hoặc
đại lý. Một đặc tính rõ rệt nhất của TMĐT B2C là khả năng thiết lập mối quan hệ trực tiếp
với khách hàng rất hiệu quả mà không cần có sự tham gia của khâu trung gian như nhà
phân phối, bán buôn hoặc môi giới. Bài 3: Các mô hình thương mại điện t
ử
70 ICT401_Bài 3_v1.0013101225