BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC:
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC
TRONG VIỆC VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP
ĐẢNG (2-1930)
LỚP HỌC PHẦN: 211200847
NHÓM: 2
GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Trang
Tp Hồ Chí Minh, 4/2015
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC:
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC
TRONG QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG THÀNH
LẬP ĐẢNG (1930)
LỚP HỌC PHẦN: 211200847
NHÓM: 2
STT HỌ VÀ TÊN
MÃ SỐ
M ỤC L ỤC
PH ẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
I.Nguồn gốc và quá trình hình thành
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Chủ nghĩa Mác
1.1.2 Chủ nghĩa Lênin
1.1.3 Quốc tế cộng sản
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 cách mạng trong nước
1.2.1 cách mạng trên thế giới
1.3 Quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
II. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị những điều kiện về tư tưởng, chính trị
và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng Sản
2.1 Sự chuẩn bị về tư tưởng, chính trị
2.2 Sự chuẩn bị về tổ chức
III. Hội nghị thành lập Đảng và cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng
3.2 Hội nghị thành lập Đảng
3.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
IV. Kết luận
PHẦN MỞ ĐẦU
quyết được những khủng hoảng lớn đang còn tồn tại.
PHẦN NỘI DUNG
I. NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Chủ nghĩa Mác
Chủ nghĩa Mác ra đời năm 1840, ông nghiên cứu xã hội tư bản và
khẳng định rằng sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội là
một tất yếu khách quan.
Ở phương Tây, cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản diễn ra
quyết liệt, tiêu biểu có các phong trào: công nhân dệt Li-ông Pháp (1831-
1834), công nhân Xilidi Đức (1844), phong trào Hiến chương Anh (1838-
1848). Các phong trào này đều bị thất bại do thiếu tổ chức, thiếu sự liên
kết và không có lý luận soi đường.
Mác đưa ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lật đổ chủ
nghĩa tư bản, xác lập chế độ xã hội chủ nghĩa.
Năm 1848 Mác tuy ên bố: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, đưa ra quy
luật ra đời của Đảng cộng sản: chủ nghĩa xã hội khoa học + phong trào
công nhân.
1.1.2. Chủ nghĩa Lênin
Bối cảnh lịch sử: chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế
quốc, hệ thống thuộc địa ra đời trên khắp thế giới, mâu thuẫn dân tộc
ngày càng trở nên gay gắt.
Tất yếu: “sẽ không có một phong trào vững chắc nếu không có Đảng
vững chắc lãnh đạo, hãy cho tôi một tổ chức của những người cộng sản,
tôi sẽ làm đảo lộn cả nước Nga này”.
- Lênin chỉ rõ: Đ ảng cộng sản = Chủ nghĩa Mác + phong trào công
nhân
1.1.3. Quốc tế Cộng sản
- Đảng cộng sản = Chủ nghĩa Mác – Lê nin + phong trào công nhân
đấu tranh chống các thế lực tư bản nước ngoài, đòi cải cách dân chủ.
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), các cuộc khởi
nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dân Việt Nam vẫn tiếp diễn, nhưng
đều không thành công.
Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và
hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu
nước giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam.
Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa nêu trên, đầu thế kỷ XX phong trào
yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của
tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi. Về mặt phương pháp, tầng lớp sĩ
phu lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX có sự phân
hóa thành hai xu hướng. Một bộ phận chủ trương đánh đuổi thực dân
Pháp, giành độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia bằng biện
pháp bạo động, một bộ phận khác lại coi cải cách là giải pháp để tiến tới
khôi phục độc lập.
Từ trong phong trào đấu tranh, các tổ chức đảng phái ra đời: Đảng
lập hiến (năm 1923); Đảng thanh niên (tháng 3-1926); Đảng thanh niên
cao vọng (năm 1926); Việt Nam nghĩa đoàn ( năm 1925), sau nhiều lần
đổi tên, tháng 7-1928 lấy tên là Tân việt cách mạng Đảng, Việt Nam quốc
dân Đảng (tháng 12-1927). Các đảng phái chính trị tư sản và tiểu tư sản
trên đây đã góp phần thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp, trong đó
nổi bật là Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng.
Thế nhưng tất cả các phong trào đều thất bại.
Qua đó đă thể hiện: Truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất vì
độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Tạo cơ sở xã hội thuận lợi cho việc
tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm cách mạng của Hồ Chí
Minh. Tạo cơ sở cho phong trào yêu nước trở thành một trong 3 nhân tố
dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam là sự yếu kém trong tiến
trình giải phóng dân tộc của giai cấp tư sản và những hạn chế về giai cấp,
đường lối chính trị; hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp rộng rãi
nghiên cứu được những vấn đề hết sức có ý nghĩa trong việc giải phóng
dân tộc qua các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới.
Người nhận ra sâu sắc những hạn chế của các nhà yêu nước đương
thời. Mặc dù khâm phục lòng yêu nước nhưng Người không đồng ý đi
theo con đường cứu nước của họ. Và ở đây Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua
hạn chết của tầm nhìn để tìm cho dân tộc mình một con đường cứu nước
khác. Người đã thấy được cách mạng dân chủ tư sản không thể đưa lại
độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước nói chung và nhân
dân Việt Nam nói riêng. Nên Người đã quyết định đi theo con đường của
Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Quốc tế Cộng sản.
Từ 1911 đến 1917, Người đã đến nhà nước châu Âu, châu Phi và
châu Mĩ.
Năm 1917, Người trở lại Pháp sau 8 năm bôn ba và gia nhập Đảng
Xã hội Pháp vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lí tưởng của Đại
Cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng và Bác ái.
Ngày 18 – 6 – 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại
Pháp, Nguyễn Tất Thành với tên gọi là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội
nghị Véc-xai Bản yêu sách của nhân dân An Nam. Bản yêu sách đòi
chính phủ Pháp và các nước đồng minh thừa nhận các quyền tự do, dân
chủ và quyền bình đẳng của nhân dân An Nam. - Bản yêu sách đó đã
không được Hội nghi Véc-xai chấp nhận. Sự thật đó cho thấy những lời
tuyên bố của các nhà chính trị đế quốc về quyền tự do dân chủ và quyền
tự quyết của các dân tộc mà điển hình là chương trình 14 điểm của Tổng
thống Mĩ Uyn-xơn chỉ là trò bịp để lừa các dân tộc. Vì vậy, muốn được
giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân
mình.
Tháng 7-1920 : Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên
báo “Nhân đạo” của Đảng Xã hội Pháp. Người vô cùng phấn khởi và tin
tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ cho Người ỉhấy con đường đề giải phóng
Sau khi trở thành chiến sĩ cộng sản , cùng với việc thực hiện những
nhiệm vụ đó với với phong trào cộng sản và công nhân quôc tế, Nguyễn
Ái Quốc xúc tiến mạnh mẽ việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước
ta bằng việc tham gia vào các diễn đàn, viết báo…., từng bước chuẩn bị
về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng.
Cuối năm 1917, Người lao vào cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân Pháp, tham gia Đảng xã hội Pháp, lập ra Hội những Người Việt
Nam yêu nước với tờ báo “Việt Nam hồn” để tuyên truyền giáo dục Việt
Kiều ở Pháp.
Năm 1922, Người làm chủ nhiệm chủ bút cho báo “Người cùng khổ"
đề vạch trần chính sách đàn áp bọc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp
phần vào việc thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng.
Song song đó, viết nhiều bài đăng trên báo “Nhân đạo” của Đảng Cộng
sản Pháp, báo “Đời sống công nhân” của Tổng Liên đoàn Lao động
Pháp.
Đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đi Matxcova để tham dự
Hội nghị Quốc tế nông dân, đồng thời trực tiếp học tập nghiên cứu kinh
nghiệm Cách mạng tháng 10 Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin. Người có
nhiều bài cho các báo “Sự thật” (là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng
Sản Liên Xô) và tạp chí “Thư tín Quốc tế’ của Quốc tế Cộng sản.
Qua các bài báo, tạp chí, Nguyễn Ái Quốc đã góp phần quan trọng
vào việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa, đồng
thời tiến hành tuyên truyền tư tưởng Mác - Lênin, xây dựng mối quan hệ
gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động. Đây là thời gian
Người thu thập tư liệu cho tác phẩm “Bản án chế độ thực dẫn Pháp”.
Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản
ở Liên Xô và các đại hội của Quốc tế công hội, Quốc tế Phụ nữ, Quốc tế
Thanh niên, Và nhất là Đại hội lần V, đã có bản báo cáo rất quan trọng
về dân tộc và thuộc địa; làm sáng tỏ và phát triển một số luận điểm quan
trọng của Lênin về bản chất chủ nghĩa thực dân và nhiệm vụ của các
đời của Đảng Cộng sản VN chính là Hội Việt Nam cách mạng Thanh
niên.
Hội được Nguyễn Ái Quốc thành lập vào tháng 6-1925 với cơ quan
tuyên truyền của Hội là tờ báo Thanh niên. Sau khi thành lập, Hội đã mở
các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận giải
phóng dân tộc cho những người trong tổ chức nhằm thúc đầy sự phát
triển phong trào cách mạng Việt Nam. Chống lại những đường lối dân tộc
chủ nghĩa hẹp hòi tiểu tư sản.
Hội đã giáo dục và giác ngộ nhiều người yêu nước chân chính theo
con đường Hồ Chí Minh, đào tạo và rèn luyện họ thành những chiến sĩ
cách mạng trung thành, làm nòng cốt trong việc thành lập Đảng Cộng sản
sau này.
Truyền bá chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng cách mạng Hồ Chí
Minh vào trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước gắn liền
với xây dựng các tổ chức cơ sở của Hội ở nhiều trung tâm kinh tế, chính
trị quan trọng.
Từ năm 1925 - 1927, Người mở nhiều lớp huấn luyện chính trị tại
Quảng Châu, đào tạo nên đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam.
Những bài giảng ở đây của Người đã được tập hợp thành cuốn “Đường
cách mệnh”.
Năm 1928, Hội thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, đưa hội viên vào
nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để rèn luyện lập trường, quan điểm giai cấp
công nhân, để truyền bá Chủ nghĩa Mác- Lênin và lý luận giải phóng dân
tộc nhằm thúc đầy sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam.
Những ảnh hưởng của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và các
lớp huấn luyện của Nguyễn Ái Quốc đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển
các phong trào công nhân, phong trào yêu nước. Đưa lý luận Chủ nghĩa
Mác Lênin và tôn chỉ, mục đích đấu tranh của Hội vào các phong trào
này.
Chứng tỏ: “Lập trường cách mạng giải phóng dân tộc của vô sản đã
nhân và phong trào yêu nước Việt Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ. Sau
này, các quan điểm đợc phát triển thành những nội dung cơ bản trong
cương lĩnh chính trị của Đảng.
III. HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ CƯƠNG LĨNH
CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG
3.1 Hội nghị thành lập Đảng
3.1.1 Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
Đến năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam đã phát triển mạnh, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất của một
đảng cách mạng.
Tháng 6-1929, tại nhà số 213 Khâm Thiên - Hà Nội, đại biểu các tổ
chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc đại hội, quy ết định thành lập Đông
Dương Cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ, quyết định xuất
bản báo Búa Liềm và cử ra Ban chấp hành Trung ương lâm thời của
Đảng.
An Nam Cộng sản Đảng ra đời vào tháng 8 năm 1929, đại hội tại Sài
Gòn để thông qua đường lối chính trị, Điều lệ Đảng và lập Ban chấp hành
Trung ương Đảng.
Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản
Đảng đã tác động mạnh mẽ đến sự phân hoá trong Tân Việt. Những đảng
viên tiên tiến của Tân Việt đã tách ra thành lập các chi bộ cộng sản.
Tháng 9-1929, những người giác ngộ cộng sản chân chính trong Tân Việt
cách mệnh Đảng trịnh trọng tuyên bố chính thức lập ra Đông Dương
Cộng sản Liên đoàn.
Chỉ trong bốn tháng, ở Việt Nam có ba tổ chức cộng sản ra đời,
chứng tỏ xu thế thành lập Đảng cộng sản đã trở thành tất yếu của phong
trào dân tộc ở Việt Nam. Tuy nhiên, dù đều giương cao ngọn cờ chống đế
quốc, phong kiến, xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam nhưng 3 tổ
chức cộng sản trên hoạt động phân tán, ch ia rẽ ảnh hướng xấu đến phong
trào CM VN, do đó yêu cầu khẩn cấp lúc này là khắc phục nhược điểm
(Hội nghị hợp nhất Đảng, tại Hương Cảng, Trung Quốc tiến hành từ ngày 6/1
đến ngày 7/2 năm 1930)
3.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng CSVN
như: Chánh cương vắn tắt, Chương trình tóm tắt hợp thành Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng CSVN. Cương lĩnh xác định những vấn đề cơ
bản của CMVN như sau:
** Phương hướng chiến lược: “ làm tư sản dân quyền cách mạng
và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Xác định con đường phát triển cho cách mạng Việt Nam phải trải
qua hai giai đoạn: Giai đoạn hoàn thành cách mạng tư sản dân quyền
(cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân sau này và tiến thẳng lên cách
mạng xã hội chủ nghĩa (bỏ qua giai đoạn phát triển của chế độ TBCN).
** Nhiệm vụ cụ thể:
Về chính trị:
- Đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập dân tộc.
- Đánh đổ địa chủ phong kiến đem lại ruộng đất cho nông dân.
- Lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông
Về kinh tế:
Thủ tiêu hết các thứ quốc trái, tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của tư
bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông quản lý;
tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia
cho dân nghèo; bỏ sưu thuế, mở mang công nông nghiệp, thi hành luật
ngày làm 8 giờ…
Về văn hóa – xã hội:
Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền; phổ thông giáo
dục theo công nông hóa…
**Giai cấp lãnh đạo và lực lượng cách mạng:
- Giai cấp vô sản giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thông qua đôi tiên
phong của mình là Đảng CSVN.