VAI TRÒ CỦA VỐN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP - Pdf 67

VAI TRÒ CỦA VỐN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn nhân lực của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vốn nhân lực của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực của một quốc gia là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định
có khả năng tham gia lao động. Như vậy số lượng nguồn nhân lực vừa phụ
thuộc vào khả năng tham gia lao động của từng cá nhân, vừa phụ thuộc quy
định “độ tuổi lao động” của từng quốc gia. Việc quy định “độ tuổi lao động”
của mỗi quốc gia phải xuất phát từ nhiều căn cứ, nhiều mối quan hệ. Độ tuổi lao
động tối thiểu được quy định nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng lao động trẻ
em. Theo quy định của ILO (Tổ chức lao động quốc tế) hiện nay độ tuổi lao
động tối thiểu được quy định là 15 tuổi. Độ tuổi lao động tối đa được quy định
tuỳ theo từng quốc gia và liên quan tới vấn đề nghỉ hưu của người lao động.
Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà
doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những
nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp
còn gần nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngũ
người lao động, sức mạnh của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức của doanh
nghiệp. Sức mạnh đó là sức mạnh hợp thành từ sức mạnh của người lao động,
sức mạnh hợp thành từ khả năng lao động của từng người lao động. Khả năng
lao động của một con người là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công
việc bao gồm những nhóm yếu tố: sức khoẻ (sức dẻo dai, sức bền …), trình độ (
kiến thức và kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, mức độ cố gắng …. Trong nền kinh
tế thị trường không cần có biên chế, nhân lực của doanh nghiệp là sức mạnh
hợp thành các loại khả năng lao động, của những người giao kết, hợp đồng làm
việc với doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp là đầu vào độc lập của bất
kỳ quá trình nào trong hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần và có
nhiều loại nhân lực (khả năng lao động) như: Lực lượng lãnh đạo, quản lý, lực
lượng chuyên môn, nghiệp vụ, lực lượng công nhân viên… Mỗi một nhóm nhân
lực đó đáp ứng một nhu cầu riêng như: Đảm bảo việc làm ổn định, lo đảm bảo
tài chính cho doanh nghiệp, đảm bảo công nghệ, lo đảm bảo vật tư cho quá trình

nghiệp cũng được hình thành từ nguồn nhân lực.
Vốn nhân lực được xem xét và đánh giá trên phương diện số lượng, chất
lượng, cơ cấu và tính năng lao động, phản ánh thông qua số lượng lao động,
trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức làm việc, kết quả công việc,
tuổi tác, giới tính, sự biến động, sự thay đổi về các phương diện trên sao cho
phù hợp với các yêu cầu của từng doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ.
Cũng như các nguồn lực khác, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cũng bị
hao phí và hao mòn trong quá trình khai thác và sử dụng. Sự khôi phục, củng cố
và phát triển nguồn lực này được coi là yếu tố sống còn của doanh nghiệp.
Sức mạnh vật chất và tinh thần của nguồn lực có nguồn gốc từ cá nhân
người lao động. Nó phát sinh từ động cơ, động lực thúc đẩy cá nhân. Nói cách
khác, chỉ có thể phát huy và sử dụng nguồn lực này trên cơ sở khai thác động cơ
cá nhân, kết hợp các động cơ này để tạo nên động lực thúc đẩy chính cho các
doanh nghiệp. Không giống như các nguồn lực khác, nguồn nhân lực bị chi phối
bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
như quan hệ sản xuất và phương thức sản xuất xã hội, các thể chế, các quan hệ
xã hội, trình độ tổ chức và quản lí nhân sự trong doanh nghiệp, đặc điểm tâm
sinh lí, nhu cầu và động cơ cá nhân, hoàn cảnh và môi trường làm việc… Việc
khai thác và sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải được xem xét trên
hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Nghĩa là việc sử dụng nguồn lực
này phải đem lại lợi ích kinh tế- xã hội cho doanh nghiệp. Vấn đề khai thác sử
dụng,đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không phải chỉ là vấn đề riêng của
mỗi doanh nghiệp mà còn là vấn đề của toàn xã hội.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không phải tự nhiên mà có, cũng
không phải tự thân nó đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của hoạt động sản xuất mà
phải trải qua một quá trình tuyển chọn, đào tạo và phát triển.
1.1.3. Vai trò vốn nhân lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Theo giai đoạn của quá trình hoạt động của doanh nghiệp được tách lập
phân định thành ba nhóm chính trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

doanh thu cho doanh nghiệp, nguồn nhân lực còn là những người tiêu thụ sản
phẩm phục vụ nhu cầu của mình thông qua thu nhập của mình. Đối với nguồn
nhân lực có thu nhập cao thì khả năng mua sắm cao hơn các nguồn lực khác với
thu nhập thấp hơn. Vì vậy ta thấy được rằng nguồn nhân lực thông qua quá trình
tiêu thụ sản phẩm của mình sẽ kích thích quá trình sản xuất của doanh nghiệp và
tăng thêm nguồn thu cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hiện đại, các nhân tố công nghệ phát triển mạnh mẽ, con
người không trực tiếp tham gia các quá trình sản xuất nhưng với sự gia tăng của
hàm lượng chất xám trong từng sản phẩm, dịch vụ, vai trò của nhân tố con
người ngày càng tăng lên. Trước đây, hàm lượng chất xám của lao động trong
các sản phẩm thấp, sản xuất không đòi hỏi lao động phải có trình độ cao, kỹ
năng tốt, do vậy mà lực lượng lao động không cần thiết phải qua các chương
trình đào tạo chuyên sâu mà đơn giản chỉ là các khoá học ngắn hạn trang bị kiến
thức cư bản. Trình độ của lực lượng lao động thấp chỉ thích hợp với trình độ
phát triển thấp của công nghệ, thiết bị và tất yếu là với sản xuất như vậy không
thể có sản xuất với năng suất cao, chất lượng tốt. Vì vậy, ta thấy được rằng
nhằm đáp ứng được các yêu cầu của doanh nghiệp không chỉ đáp ứng về số
lượng mà còn phải đảm bảo về chất lượng của lực lượng lao động trong doanh
nghiệp.
Nhân lực là yếu tố cơ bản không thể thiếu quyết định tới thành công trong
kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu thiếu đi
yếu tố nguồn nhân lực thì việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể
thực hiện được. Nguồn nhân lực tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp, cũng
như cho toàn bộ xã hội. Nếu như không có yếu tố nguồn nhân lực thì không có
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Dù cho các nguồn lực khác như đất
đai, tài nuyên, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ sẽ không được
sử dụng và khai thác có mục đích vì con người là yếu tố quyết định tới các yếu
tố khác do con người có thể sử dụng các yếu tố khoa học vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, chính con người sẽ sử dụng nguồn tào nguyên, nguồn vốn một cách
có hiệu quả nhất phục vụ cho nhu cầu con người và tạo ra của cải vật chất cho

Nâng cao chất lượng nhân lực của một doanh nghiệp là việc thực hiện các biện
pháp, chính sách nhằm nâng cao về mặt thể lực (sức khoẻ, điều kiện chăm sóc
sức khoẻ), trí lực (trình độ, văn hoá, chuyên môn - kỹ thuật) và phẩm chất, tư
tưởng, tác phong làm việc và sinh hoạt của người lao động cùng với việc tạo ra
cơ cấu hợp lý cần thiết cho yêu cầu của sự phát triển doanh nghiệp.
Nâng cao chất lượng nhân lực là một lĩnh vực của sự phát triển nguồn nhân
lực. Ngày nay, khi nói đến phát triển nhân lực người ra thường quan tâm nhiều
đến việc phát triển về mặt chất lượng hơn là số lượng nhân lực vì chất lượng
nhân lực mới chính là nguồn gốc tạo ra giá trị của sức lao động, cũng chính là
nguồn gốc tạo ra hiệu quả kinh doanh, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, đặc biệt khi khoa học và công nghệ đã trở thành phương tiện chủ
chốt cho sự phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status