HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Khoa Ngân hàng
Đề tài Nghiên cứu khoa học:
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THÔNG TIN
BẤT CÂN XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: NGÔ THỊ HẢI AN
Giảng viên hướng dân: TS. ĐỖ THỊ KIM HẢO
Hà Nội, tháng 3 - 2012
Danh mục từ viết tắt
Từ viết tắt
NHTM
NHNN
TCTD
TNHH
TM DV
TBH
KH
Từ nguyên văn
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng Nhà nước
Tổ chức tín dụng
Trách nhiệm hữu hạn
Thương mại dịch vụ
Tổng bách hóa
Khách hàng
Danh mục bảng, biểu đồ và đồ thị
Stt Tên bảng Trang
Đồ thị 1.1 Thông tin không đối xứng về phía người mua làm thị trường
cung ứng dưới mức hiệu quả
10
1.2.
2
Bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của NHTM 12
1.2.
3
Hậu quả của bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng 15
1.3 Các biện pháp hiện có nhằm hạn chế bất cân xứng xứng thông
tin trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng hiện nay
17
1.3.
1
Thu thập thông tin 17
1.3.
2
Phân tích tín dụng 17
1.3.
3
Bảo đảm tiền vay 19
1.3.
4
Giám sát tín dụng 19
Chương II Thực trạng bất cân xứng thông tin trong hoạt động
tín dụng của Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam
2.1 Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam hiện
nay
20
2.2 Thực trạng thông tin bất cân xứng và ảnh hưởng của nó đến 21
hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam
2.2.
1
1.1.2.2Rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng của NHTM
1.2Các biện pháp hiện có nhằm hạn chế bất cân xứng xứng thông tin trong
hoạt động tín dụng của các ngân hàng hiện nay
1.2.1 Thu thập thông tin
1.2.2 Phân tích tín dụng
1.2.3 Bảo đảm tiền vay
1.2.4 Giám sát tín dụng
Chương II Thực trạng bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng của
Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam
2.1Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam hiện nay
2.2Thực trạng thông tin bất cân xứng và ảnh hưởng của nó đến hoạt động tín
dụng của các NHTM Việt Nam
2.2.1 Tình hình thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các NHTM
Việt Nam
2.2.2 Tình hình nợ xấu của các NHTM Việt Nam hiện nay
2.3Đánh giá thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của
NHTM
2.3.1 Những mặt được
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân
Chương III Giải pháp xử lí thông tin bất cân xứng
3.1Định hướng trong việc xử lý tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động
tín dụng của NHTM Việt Nam
3.2Giải pháp xử lý thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của NHTM
Việt Nam
3.2.1 Các giải pháp chung
3.2.1.1Cơ chế phát tín hiệu
3.2.1.2Cơ chế sàng lọc
3.2.1.3Cơ chế giám sát
3.2.2 Các giải pháp cụ thể
3.2.2.1Sử dụng hệ thống thông tin tín dụng
cân xứng để hạn chế lựa chọn sai lệch và rủi ro đạo đức nhằm cho vay đúng người
đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng vay vốn có hành vi đúng đắn
nhằm đảm bảo việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín dụng đã cấp ra.
Nhận thức được sự cần thiết trong vấn đề xử lí thông tin bất cân xứng, cùng
với những kiến thức đã được trang bị ở HVNH nhóm tác giả mạnh dạn lựa chọn
vấn đề “Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt
động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu khoa học.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Những vẫn đề lý luận cơ bản về thông tin bất cân xứng trong hoạt động
kinh doanh của NHTM
- Thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các NHTM
Việt Nam
- Đề xuất giải pháp xử lý tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động
tín dụng cua các NHTM Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu hiện tượng thông tin bất cân xứng trong
hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam giai đoạn hiện nay.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Trước hết tác giả đề tài vận dụng các phương pháp tư duy duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử để xem xét vấn đề nghiên cứu một cách khách
quan, logic
- Tác giả đề tài cũng sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh.
Đặc biệt tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích đặc thù của kinh tế
học là phân tích thực chứng và phân tích chuẩn tắc
4. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận đề tài được bố cục làm 3 chương:
Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về thông tin bất cân xứng trong
hoạt động tín dụng của NHTM
người mua
Giả định nếu thị trường đầy đủ thông tin (thông tin hoàn hảo) thì bên mua
và bên bán sẽ trao đổi tại mức sản lượng Q
0
với giá cả là P
0
(hình 1.1).
Vì người mua thiếu thông tin về sản phẩm nên đường cầu về sản phẩm dịch
chuyển sang trái (xuống dưới) từ D
0
đến D
1
. Giả định rằng cung hàng hóa chưa
thay đổi mức sản lượng được trao đổi trên thị trường bây giờ là Q
1.
Mức giá giảm
từ P
0
xuống P
1
.
So với trường hợp khi thị trường có đầy đủ thông tin toàn xã hội
mất đi một lượng sản phẩm là = Q
0
– Q
1
,và tổn thất phúc lợi xã hội được xác
định bằng diện tích tam giác ABC. Tức là vẫn với nguồn lực ban đầu, nhưng vì
vấn đề thông tin bất cân xứng nên thị trường đã tạo nên một mức sản lượng nhỏ
1
CBQ
0
).
Như vậy trong mọi trường hợp thông tin bất cân xứng đều làm thị trường
hoạt động phi hiệu quả.
P
C
D
S
0
S
1
Thông tin không đối xứng về phía người bán
làm thị trường cung ứng trên mức hiệu quả
Hình 1.2
1.1.3 Các dạng của thông tin bất cân xứng
1.1.3.1 Lựa chọn sai lệch
Lựa chọn sai lệch là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi
thực hiện giao dịch hay nói cách khác là trước khi kí hợp đồng.
Khi trên thị trường người mua có thông tin về cá nhân mình và che đậy
thông tin. Mức giá là đồng nhất với tất cả những người mua. Người bán không có
đủ thông tin về người mua. Thị trường bảo hiểm là ví dụ điển hình về trường hợp
này: những người hay ốm đau, người già yếu sẽ tích cực mua bảo hiểm y tế;
những người có nguy cơ gặp rủi ro khi điều khiển phương tiện cơ giới sẽ tích cực
mua bảo hiểm ôtô… Trong những trường hợp này người bán bảo hiểm lại không
có thông tin về những người mua bảo hiểm nên sẽ gặp rủi ro. Trường hợp này, chi
phí lựa chọn sai lệch sẽ do người bán gánh chịu.
Một ví dụ điển hình khác về vấn đề này cũng được đưa ra trong một nghiên
cứu của Geogre A. Akerloft với tựa đề “The Market for Lemons” – nghiên cứu đã
hàng có độ rủi ro thấp có thể sẽ giữ tiền ở nơi khác, trong khi những khách hàng
có độ rủi ro cao hơn sẽ ngay lập tức đồng ý đề nghị của ngân hàng.
Khi vấn đề lựa chọn sai lệch trở nên đặc biệt nghiêm trọng thì thị trường có
thể sẽ sụp đổ.
1.1.3.2 Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là hình thức cơ hội chủ nghĩa sau hợp đồng, phát sinh do
các hành động có tác động đến hiệu quả nhưng lại không dễ dàng quan sát được và
vì thế những người thực hiện các hành dộng này có thể chọn theo đuổi những lợi
ích cá nhân của mình trên cơ sở gây tổn hại cho người khác.
Để có sự tồn tại của rủi ro đạo đức, ba điều kiện sau phải được thỏa mãn:
- Thứ nhất, phải có sự khác biệt về quyền lợi giữa các bên.
- Thứ hai, phải có một cơ sở nào đó để tạo ra trao đổi có lợi hay một hình
thức hợp tác khác nhau giữa các cá nhân (tức là có lí do để dồng ý giao
dịch) từ đó làm lộ ra mâu thuân về quyền lợi.
- Thứ ba, phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem các điều
kiện thỏa thuận có đúng là được tuân thủ và thực hiện hay không.
Một trong những vụ lừa đảo lớn từng bị phanh phui phải kể đến vụ lừa gạt
giới đầu tư của Bernard Madoff. Bernard Madoff là một doanh nhân Mĩ và là
nguyên chủ tịch sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ. Ông đã sáng lập công ty
Bernard L. Madoff Investment Sercurity LLC ở phố Wall vào năm 1960 và là chủ
tịch công ty này đến ngày 11 tháng 12 năm 2008, khi ông bị bắt vì tội gian lận tài
chính. Bernard L. Madoff Investment Sercurity từng là một hang thương mại hàng
đầu phố Wall, thường có nhiệm vụ như một nhà cung cấp “thị trường thứ ba”, tức
là không thông qua các hãng “chuyên biệt” mà thực hiện trực tiếp các đơn đặt
hàng mua bán thẳng từ các nhà môi giới bán lẻ. Nhiều thập niên trôi qua, Madoff
đã nổi tiếng trong giới đầu tư, nhiều người xem ông ta là người một thành đạt
trong lĩnh vực đầu tư đáng tin cậy. Danh sách đầu tư vào Madoff lên đến hàng
trăm hàng ngàn người, thậm chí có cả những người rất giàu có và thế lực ở Mĩ. Họ
không biết rằng số tiền mà họ kiếm được hay rút ra sau khi đầu tư vào đây thực tế
là tiền bỏ ra của các nhà đầu tư mới. Madoff thực tế đã không sử dụng tiền theo
làm… Vậy tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng quan trọng trong nền
kinh tế thị trường cũng là hoạt động mang về lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM.
Tuy nhiên đây cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất cũng như gây thiệt hại
nhiều nhất trong hệ thống ngân hàng.
Hiện nay hoạt động cho vay trong ngân hàng vẫn là chủ yếu, chiếm từ 70%
đến 90% tài sản có và một tỉ lệ tương đương trong tống thu nhập của hệ thống
ngân hàng. Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu đã được cải thiện nhưng vẫn ở mức cao và
đang có xu hướng tăng lên. Sở dĩ có tình trạng này là do các nguyên nhân:
Một là, việc cho vay vẫn chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong khi thị
trường bất độn sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và có nhiều biến động
phức tạp.
Hai là, do sức ép cạnh tranh và cơ chế khoán trong kinh doanh dẫn tới
nhiều trường hợp nới lỏng điều kiện vay vốn để giành giật khách hàng. Công tác
thẩm định dự án đầu tư cho vay không tốt, qua loa hoặc có nhiều hành vi gian lận,
móc ngoặc.
Bà là, nhiều nợ xấu phát sinh do chậm việc chậm cấp Ngân sách nhà nước
để giải ngân, đặc biệt là các dự án xây dựng cơ bản dẫn tới nợ động vốn ở các
ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyển
biến cho nhau, mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi. Khi nghiên
cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro như
lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có
khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thưuờng được xem
xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học.
Xét về nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM có thể
kể đến:
- Nguyên nhân từ phía khách hàng
+ Khách hàng gian lận, cố ý lừa ngân hàng: gian lận về số liệu, giấy tờ,
quyền sở hữu tài sản, báo cáo tài chính không chính xác, thế chấp một tài
sản ở nhiều ngân hàng,…
bất ngờ như khung hoảng kinh tế, thiên tai,… nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấu
nhiều nhất là do ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mình
mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định.
Như vậy, thông tin bất cân xứng là một trong những nguyễn nhân cơ bản ảnh
hưởng đến rủi ro trong các hoạt động tin dụng của các ngân hàng thương mại. Việc
nghiên cứu tác động của thông tin bất cân xứng sẽ được làm rõ thông qua nghiên
cứu về hai biểu hiện của nó là lựa chọn sai lệch và rủi ro đạo đức.
1.2.2.1 Lựa chọn sai lệch trong hoạt động tín dụng của NHTM
Lựa chọn sai lệch xảy ra trước cho vay, khi ngân hàng bị khách hàng che
giấu một số thông tin dẫn tới việc lựa chọn khách hàng không tốt và cấp tín dụng
không hiệu quả. Khách hàng có độ rủi ro cao thường là những khách hàng tích cực
nhất trong việc xin vay. Hậu quả của của lựa chọn sai lệch có thể dẫn đến việc cấp
tín dụng cho khách hàng có độ rủi ro cao nên trong trường hợp này các ngân hàng
có thể sẽ cắt giảm cho vay hoặc không tiếp tục cho vay mặc dù trên thị trường còn
rất nhiều khách hàng tốt.
Cụ thể, trong hoạt động tài chính ngân hàng, lựa chọn sai lệch sẽ xuất hiện
khi nguồn vốn khan hiếm và lãi suất cho vay bị đẩy lên cao.
Theo nguyên tắc “rủi ro cao – lợi nhuận cao” và nguyên tắc loại trừ, khi
nguồn cung tín dụng dồi dào, mức lãi suất cho vay thấp thì cả dự án có suất sinh
lợi thấp, rủi ro thấp, đảm bảo khả năng trả nợ một cách chắc chắn và những dự án
có suất sinh lợi cao, rủi ro cao với đảm bảo khả năng trả nợ ít chắc chắn hơn đều
được cấp tín dụng để thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi nguồn vốn khan
hiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao. Để ngân hàng có lợi nhuận, các dự án an
toàn sẽ dễ bị bỏ qua bởi suất sinh lợi thấp và các dự án có độ rủi ro cao với suất
sinh lợi cao sẽ được cấp vốn để thực hiện. Đây chính là vấn đề lựa chọn sai lệch
trong hoạt động tài chính ngân hàng. Khi mà chỉ các dự án có độ rủi ro cao được
thực hiện thì nguy cơ vỡ nợ của các tổ chức tín dụng là rất cao.
Có hai kiểu sai lệch thông tin chính:
- Khách hàng chỉ cung cấp thông tin tốt và che dấu những thông tin xấu
- Khách hàng cố tình cung cấp thông tin sai, cố ý lừa đảo ngân hàng
vay, khi khách hàng có động cơ đầu tư vào những dự án có mức độ rủi ro cao. Nếu
dự án đó thành công thì khách hàng sẽ thu được lợi rất lớn, ngược lại nếu dự án
thất bại thì ngân hàng sẽ phải gánh chịu hậu quả do khách hàng thua lỗ.
Rủi ro đạo đức xảy ra khi khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục
đích, đầu tư vào dự án kém hiệu quả, lừa đảo ngân hàng,… Những khách hàng này
thường là những chủ của những doanh nghiệp có tỉ lệ vốn tự có thấp hay chủ của
khoản vay được cấp mà không phải thế chấp tài sản. Xung đột về lợi ích giữa
người vay và ngân hàng từ vấn đề rủi ro đạo đức dẫn đến tình trạng một số ngân
hàng giảm cho vay, ảnh hưởng đến cả nền kinh tế.
Ngoài ra, còn có rủi ro đạo đức của các tổ chức tín dụng sau khi cho vay.
Đó là thiếu sót trong quá trình kiểm tra sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay
không.
1.2.3 Hậu quả của bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng
Thông tin bất cân xứng và hậu quả của nó được hình thành bởi sự không đồng
nhất trong thông tin giữa các bên tham gia một thỏa thuận tài chính. Vấn đề chính
thường xảy ra ở đây là người đi vay hay khách hàng có thể nhận thức được nhiều hơn
so với ngân hàng về rủi ro liên quan đến dự án mà họ đang xin vay.
Như trong chứng minh của Stiglitz và Weiss (1981), khách hàng có dự án với
mức độ rủi ro càng cao sẽ càng nỗ lực xin vay thậm chí với lãi suất cao, bởi nếu dự án
thành công họ sẽ thu lợi nhuận lớn, còn khi dự án thất bại ngân hàng mới là người
phải gánh chịu hậu quả. Điều này khiến cho phía ngân hàng sẽ cắt giảm cung cho vay,
số lượng các khoản vay giảm tác động làm lãi suất tăng ngày một cao hơn so với mức
cân bằng. Thực tế cho thấy quá trình thường này làm tăng khả năng dẫn tới các cuộc
khủng hoảng kinh tế và mức độ lạm phát nằm ngoài dự đoán.
Thực trạng hiện nay cho thấy, trên thị trường luôn có sự xuất hiện của hiện
tượng bất cân xứng thông tin tác động trực tiếp vào mức lãi suất của ngân hàng.
Bằng chứng là giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay thông qua hệ thống ngân
hàng luôn có một sự chênh lệch lớn để bù đắp chi phí tăng thêm do bất cân xứng
thông tin gây ra.
Ảnh hưởng của lãi suất tới cung và cầu về đầu tư
Q
2
i
Q
B
D
A
C
E
Nếu bất cân xứng thông tin diễn ra ngày càng thường xuyên hơn, ngân hàng
buộc phải nâng lãi suất cho vay đến i
đv2
và hạ lãi suất tiền gửi đến i
gt2
. Tức là
khoảng chênh lệch giữa hai mức lãi suất này trở nên cao hơn vì ngân hàng phải Bù
đắp nhiều hơn. Lượng người đi vay cũng như người cho vay sẽ giảm từ Q
1
xuống
còn Q
2
bởi không phải nhà đầu tư nào cũng có thể chấp nhận mức lãi suất mới này.
Tổn thất của nền kinh tế lúc này sẽ bằng S
CDE
lớn hơn diện tích S
ABE
, hay lớn hơn
tổn thất của nền kinh tế hiện tại.
Bất cân xứng thông tin không chỉ gây ra vấn đề về lựa chọn sai lệch mà còn
làm xuất hiện rủi ro đạo đức. Việc xác định một cách đầy đủ về chất lượng của khoản
khá cao. Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số
đa yếu tố MDA
Chỉ số Zeta: Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z. Zeta làm
việc tốt với dữ liệu tài chính của các công ty sản xuất và công ty bán lẻ với độ
chính xác hơn 90% trước khi công ty phá sản 1 năm và chính xác trên 70% từ năm
thứ 5 trở lên trước khi phá sản.
Một số tổ chức xếp hạng tín dụng có uy tín trên thế giới hay còn gọi là
phương pháp chuyên gia có thể kể đến:
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Fitch: Fitch xếp hạng
doanh nghiệp dựa trên phân tích định tính và phân tích định lượng. Phân tích định
tính gồm phân tích rủi ro ngành, môi trường kinh doanh, vị thế của doanh nghiệp
trong ngành, năng lực của ban quản trị, phân tích kế toán. Trong phân tích định
lượng, Fitch nhấn mạnh đến thước đo dòng tiền của thu nhập, các khoản đảm bảo
và đòn bẩy.
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của S&P: Cũng như Fitch,
phương pháp xếp hạng của S&P bao gồm cả phân tích định tính và định lượng.
S&P cũng tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán trong
quá khứ. Trong quy trình xếp hạng, S&P không phân loịa theo tính chất của dữ
liệu mà pohân loại theo rủi ro (rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính).
Phương pháp xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s: Moody’s thiết lập 11 tỷ
số chung nhất để sử dụng trong phân tích so sánh. Các tỷ số nàyđược Moody’s
ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác nhau, nhiều ngành khác nhau. Tuy nhiên,
trong quy trình cụ thể, Moody’s có thể xem xét bớt hoặc thêm các chỉ tiêu cho phù
hợp với từng ngành riêng.
Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng hiện đang sử dụng thông tin doanh nghiệp
từ CIC, nhưng tính cập nhật thực sự vẫn chưa cao và chưa đi vào hệ thống hoàn
chỉnh.
1.3.3 Bảo đảm tiền vay
Hiện nay hầu hết các ngân hàng đều có những điều khoản bắt buộc về tài
sản thế chấp. Điều này sẽ hạn chế nguy cơ rủi ro do bất cân xứng thông tin. Bởi