ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ MAI HƢƠNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM
BẰNG TÀI SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƢƠNG LAI
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Mục
Nội dung
TrangTrang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt LỜI MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ
HẠN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
6
1.1.
1.1.7.
Biện pháp xử lý nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của Ngân
hàng thương mại
27
1.2.
Khái quát pháp luật về xử lý nợ quá hạn
30
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ
HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
34
2.1.
Căn cứ xác định nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại ở Việt Nam
34
2.2.
Quản lý và hạn chế nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại ở Việt Nam
38
2.3.
Biện pháp xử lý nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại
44
2.4.
Trình tự, thủ tục xử lý nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại
46
2.4.1.
Xử lý nợ quá hạn trong một số trường hợp
động cho vay của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam
84
3.3.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý
nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại Việt Nam
85
3.3.1.
Thực hiện đúng quy trình tín dụng khi cho vay
86
3.3.2.
Kiểm tra giám sát khách hàng vay vốn, theo dõi rủi ro có thể xảy ra
đối với các khoản cho vay
86
3.3.3.
Sửa đổi các quy định về phân loại nợ
86
3.3.4.
Lãi suất nợ quá hạn
87
3.3.5.
Về thời gian gia hạn nợ vay
88
3.3.6.
Về thời hiệu khởi kiện
88
3.3.7.
Sửa đổi các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay
89
3.3.8.
CIC
Trung tâm thông tin tín dụng
DATC
Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn
đọng doanh nghiệp
DN
Doanh nghiệp
NH
Ngân hàng
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTƯ
Ngân hàng trung ương
NQH
Nợ quá hạn
TCTD
Tổ chức tín dụng 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Pháp luật về NH có vị trí quan trọng trong lĩnh vực pháp luật kinh tế và
là bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường. Luật các TCTD
2010 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII
kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16-6-2010, có hiệu lực từ ngày 01-01-2010.
Việc ban hành Luật các TCTD 2010 là kết quả của tập thể những người có trí
tuệ, tiếp thu từ những bài học thực tiễn, từ những kinh nghiệm hay của các
mạnh và hiệu quả hơn, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế trong điều
kiện kinh tế hội nhập hiện nay.
Tác giả chọn đề tài này nghiên cứu với mong muốn nghiên cứu môt cách
có hệ thống các quy định của pháp luật NH, đặc biệt là về thực tiễn xử lý
NQH tại các NHTM Việt Nam, từ đó rút ra những mặt tích cực cũng như
những hạn chế đồng thời có thể đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn
thiện các quy định pháp luật hiện hành. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế
đất nước và song song với việc hội nhập nền kinh tế quốc tế, nhất là khi
chúng ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì vấn đề tiếp tục
hoàn thiện môi trường kinh doanh, các quy định pháp lý là một vấn đề hết sức
quan trọng. Nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần thực hiện mục tiêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Hiện nay ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu như các đề tài cấp
bộ, cấp sở và các cơ quan chức năng đã tổ chức những hội thảo đề cập hoặc
nghiên cứu một số khía cạnh của pháp luật về giải quyết NQH cũng như tình
hình xử lý giải quyết đối với các khoản nợ trên, mỗi nhà khoa học có cách
tiếp cận đề tài này ở nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ như bài “Trao đổi về giải
pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam” của TS. Lê Quốc Lý, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư. “Giải quyết nợ xấu và ngăn chặn nợ xấu phát sinh” của
Trần Đình Định, phó Tổng giám đốc NH Nông nghiệp và phát triển nông
3
nghiệp nông thôn Việt Nam; “Cần gắn việc xử lý nợ tồn đọng trong quá trình
tái cơ cấu NHTM Việt Nam với tổng thể xử lý công nợ dây dưa của nền kinh
tế quốc dân” của TS. Nguyễn Viết Hồng, Giám đốc công ty AMC-NH Đầu tư
và Phát triển Việt Nam. Tuy nhiên công trình nghiên cứu đó chỉ khảo sát,
bình luận, nghiên cứu về mặt lý luận chứ chưa có công trình nào về đi sâu về
các khía cạnh luật pháp giúp nâng cao hiệu quả giải quyết NQH ở NHTM, do
đó đề tài này phần nào đáp ứng tính cần thiết của việc nghiên cứu trong tình
hình hiện nay, khi mà các quy định về giải quyết NQH đang bộc lộ nhiều bất
cập, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung ở góc độ luật pháp. Việc nghiên cứu một
của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật,
đồng thời vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong
sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng Xã hội chủ nghĩa.
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh các quy định của pháp
luật NH và thực tiễn giải quyết NQH ở các NHTM hiện nay; kết hợp với khảo
sát thực tiễn, phỏng vấn, tổng hợp trên cơ sở đó rồi rút ra những bất cập trong
các quy định của pháp luật NH, thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra một số kiến
nghị về xử lý NQH đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả, phần nào giúp việc
thu hồi NQH.
5. Đóng góp của luận văn
Thời gian gần đây có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề xử
lý NQH nhưng chủ yếu nghiên cứu về nghiệp vụ của ngành, chưa đi sâu vào
nghiên cứu về các quy định của pháp luật. Luận văn “Pháp luật về xử lý NQH
trong hoạt động cho vay của NHTM ở Việt Nam” nghiên cứu vấn đề xử lý
NQH một cách toàn diện về lý luận cũng như về thực tiễn; Từ việc tìm hiểu,
nghiên cứu về NQH, xử lý NQH, các phương án cũng như kết quả xử lý
NQH. Từ đó đề ra một số giải pháp hoàn thiện để nâng cao chất lượng và hiệu
5
quả của hoạt động xử lý NQH ở NHTM nhà ở Việt Nam. Hơn nữa luận văn
còn góp phần nâng cao nhận thức của việc xử lý tốt các vấn đề liên quan đến
NQH đặc biệt trong giai đoạn hội nhấp kinh tế quốc tế.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Nội dung của luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về NQH và pháp luật về xử lý NQH trong
hoạt động cho vay ở NHTM
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý NQH trong hoạt động cho vay của
NHTM ở Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị về hạn chế và xử lý NQH trong hoạt động cho
doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự
trù, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại
và các chi phí rủi ro đầu tư khác.
7
Cho vay của NHTM, nói rộng ra là tín dụng NHTM là một lĩnh vực phức
tạp và thường xuyên bị ảnh hưởng theo những biến chuyển của môi trường
kinh tế. Cho vay khác với các hình thức cấp tín dụng khác của các TCTD
như: Chiết khấu các chứng từ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính. Trong
nghiệp vụ cho vay, TCTD giao một khoản tiền nhất định trong một thời hạn
nhất định cho bên đi vay, để dùng vào một mục đích nhất định và bên đi vay
phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Điều này có nghĩa là đối với hình thức
cho vay thì khoản tiền vay được chuyển giao trực tiếp hoặc nhập vào tài
khoản của bên đi vay.
Khác với cho vay, hoạt động cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu
các giấy tờ có giá của các TCTD là một hình thức tín dụng hợp đồng, dựa trên
thỏa thuận giữa TCTD và người thụ hưởng về việc TCTD sẽ mua hối phiếu
và các giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng, trước khi đến hạn thanh toán
(Điều 57 luật các TCTD 2010) [19, tr.8-9]. Có thể thấy nét đặc trưng của việc
chiết khấu là TCTD khấu trừ ngay lãi suất chiết khấu và chỉ cấp cho khách
hàng phần tiền còn lại, phần lãi suất chiết khấu và các khoản hoa hồng khác
có liên quan chính là phần lãi của các TCTD. Còn đối với hình thức cho thuê
tài chính thì khoản tiền vay chính là khoản tiền mà TCTD dùng để mua tài sản
để cho thuê, đây là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn của TCTD.
Trong trường hợp bảo lãnh NH, Điều 58 Luật các TCTD quy định “Bảo lãnh
NH là cam kết của NH dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ
tài chính thay cho khách hàng của NH khi khách hàng không thực hiện đúng
cam kết” [19,tr 8-9] khoản tiền vay mà bên đi vay nhận được chính, là khoản
tiền mà TCTD phải chi trả cho bên có quyền trong trường hợp bên được bảo
lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. NH có thể thực
hiện bảo lãnh dưới các hình thức cơ bản như: phát hành thư bảo hành, mở tín
bên đi vay có thể là cá nhân, pháp nhân Việt Nam hoặc cá nhân, pháp nhân
nước ngoài (sau đây gọi chung là khách hàng vay) có quan hệ tín dụng với
TCTD cũng phải thoả mãn điều kiện nhất định của TCTD như: phải có năng
9
lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, phải chịu trách nhiệm dân sự theo
quy định của pháp luật, mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp, có khả
năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; Có dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; Thực hiện
quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của chính phủ và NH nhà nước
Việt Nam, Luật các TCTD năm 2010 có quy định TCTD và khách hàng vay
phải thỏa mãn điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật thì mới trở
thành chủ thể cho vay và chủ thể được vay.
Ở nước ta, vấn đề rủi ro trong kinh doanh NH và vấn đề quản lý
không còn mới mẻ. Với sự non yếu về nghiệp vụ NH đồng thời hoạt động
trong môi trường đầy rủi ro, vấn đề nhận thức rủi ro đặc thù và quản lý nó
đang là vấn đề cấp bách trong hệ thống NH cả nước. Bộ máy quản lý NH
kém năng động, rủi ro càng dễ phát sinh khiến nó không thể hiện được hết
khả năng vốn có của mình gây thiệt hại cho nền kinh tế.
Rủi ro NH không những là nỗi ám ảnh của hệ thống NH một nước mà
còn là nỗi ám ảnh chung của hệ thống NH trên thế giới. Ngay cả đối với các
NH có đội ngũ nhân sự giỏi nhất, nhiều kinh nghiệm nhất cũng khó lường
trước được hết mọi rủi ro. Vì thế nhận thức được rủi ro trong cho vay là
những vấn đề "thời sự” cho hệ thống NH.
Trong số các rủi ro tín dụng thì rủi ro trong hoạt động cho vay của
NHTM luôn tiềm ẩn lớn nhất. Điều này xuất phát từ tâm lý của người đi vay,
việc trả nợ hay không trả nợ vay, hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của khách
hàng vay, các NH trong trường hợp này hoàn toàn lâm vào tình trạng bị động,
rủi ro xảy đến là rất lớn. Tuy nhiên, mặc dù nhận thấy được những rủi ro và
đã có nhiều biện pháp khắc phục, phòng ngừa nhưng nguy cơ NQH vẫn luôn
đe dọa các NHTM với các món nợ khổng lồ đang chờ họ giải quyết và đẩy họ
kết theo nội dung thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, mỗi khoản
vay đều ấn định thời hạn trả nợ, thời hạn trả nợ bao lâu, nhanh hay chậm là do
11
đặc điểm của vốn vay tham gia vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn
của DN. Về nguyên tắc, trong phạm vi thời hạn quy định đến hạn trả nợ, DN,
người vay vốn phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho NHTM. Nếu
thực hiện đúng nguyên tắc này thì cả phía đi vay và bên cho vay đều được coi
như là thực hiện đúng cam kết, vốn vay của NHTM được thu hồi để sử dụng
vòng luân chuyển khác. DN trả nợ NH và thực sự nguồn vốn mà NH cho vay
đã giúp họ hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nhìn chung là có lợi cho
các bên, cả NH, DN, người vay và cả nền kinh tế. Nhưng thực tế không diễn
ra suôn sẻ như vậy, có nhiều DN không trả được nợ và lãi cho NH khi đến
hạn trả, trong trường hợp này NH không thu hồi được vốn và lãi, đó chính là
NQH. Như vậy NQH được hiểu một cách tổng quát là một khoản nợ mà
người đi vay đến hạn phải trả cho NHTM cả vốn và lãi theo cam kết nhưng họ
lại không trả được cho NH và khoản NQH đó tác động xấu đến hoạt động
kinh doanh của NHTM cũng như hoạt động sản xuất của DN.
Như vậy, bản chất của NQH trong kinh doanh tín dụng là hiện tượng
đến thời hạn thanh toán khoản nợ, người đi vay không có khả năng thực hiện
ngay nghĩa vụ của mình đối với người cho vay. Hay nói cách khác thì NQH là
kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo.
Ta có:
Tỉ lệ NQH (%)
=
Tổng NQH
x
100
Tổng dư nợ
Ý nghĩa: Tỉ lệ NQH phản ánh: Cứ 100 đồng cho vay thì có bao nhiêu
đồng NQH. Trong đó:
còn lại.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại
Khoản 2 điều này.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản NQH từ 10- 90 ngày
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là
DN, tổ chức thì TCTD phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ
đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)
13
- Các khoản nợ đã được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản
3 điều này.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản NQH từ 91-180 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều
chỉnh kỳ hạn lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại điểm b khoản này.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả
năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3
điều này.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản NQH từ 181-360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3
điều này.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản NQH trên 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở
lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
cứ vào thời hạn và bản chất của khoản NQH để xác định khoản nợ đó là NQH
hay nợ xấu để có biện pháp xử lý phù hợp. Nợ xấu về cơ bản được xác định
dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ, cụ
thể: Nợ xấu: là các khoản NQH có thời gian cơ cấu lại hơn 90 ngày hoặc là
các khoản nợ vẫn còn trong thời hạn cam kết, nhưng khách hàng vay bị mất
khả năng thanh toán, hoặc NH có những bằng chứng xác thực chứng minh
được mức độ rủi ro tăng cao cho khoản tín dụng, hoặc các khoản phải thanh
15
toán đã quá hạn dưới 90 ngày, nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả
năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Dù vậy ta vẫn phải thừa nhận rằng
việc phân biệt rạch ròi giữa NQH và nợ xấu hay bản thân nợ xấu là bao nhiêu
cũng là không đơn giản.
1.1.3. Nguyên nhân nợ quá hạn
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến NQH đó có thể là những nguyên
nhân chủ quan hay nguyên nhân khách quan, hoặc các nguyên nhân khác.
Biết được nguyên nhân phát sinh NQH thì các NHTM mới có thể khắc phục
được từ đó hạn chế NQH nói chung và nợ khó đòi nói riêng
1.1.3.1. Nợ quá hạn do những nguyên nhân khách quan
Những nguyên nhân bất khả kháng dẫn đến không thanh toán được các
khoản NQH như thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, khủng bố… là những
nguyên nhân thường gặp nhưng lại vượt ngoài tầm kiểm soát của con người.
Bên cạnh đó các chính sách của nhà nước có nhiều thay đổi gây ra cho người
đi vay những gánh nặng không đáng có. Trong thực tế, các DN trong giai
đoạn hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với các DN nước
ngoài, dẫn đến mất thị trường tiêu thụ, biến động giá cả gây khó khăn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, tác động xấu đến thu hồi công nợ của NH.
Chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô của nhà nước đang trong quá trình
đổi mới và hoàn thiện, nên thường có sự điều chỉnh thay đổi, nhiều DN không
theo kịp, không dự báo chính xác được nhu cầu của thị trường, khiến cho việc
làm ăn thua lỗ, kế hoạch kinh doanh của DN vay vốn NH bị đảo lộn đã trực
của các NHTM mới chính là hiểm họa.
Các chương trình cho vay theo dự án, theo chỉ định của chính phủ, cho
vay theo dự án đầu tư và cho vay theo chỉ thị “ngầm” của các cấp chính quyền
diễn ra với mục đích bù lãi suất và tránh rủi ro pháp luật dẫn đến khoản tín
dụng có chất lượng thấp gây rủi ro lớn cho các NHTM. Thậm chí có chương
trình được xây dựng thiếu căn cứ khoa học dẫn đến sự bất cập cung cầu.
Trường hợp Chính phủ yêu cầu NH phải cho vay, Chính phủ sẽ chịu trách
17
nhiệm chuyển nguồn, hoặc bù lãi suất và chịu trách nhiệm với nợ không thu
hồi được. Tuy nhiên, cho vay theo chỉ thị “ngầm” lại không như vậy. Luật các
TCTD ghi rõ, không cá nhân hoặc tổ chức nào có quyền gây sức ép đối với
TCTD khi ra quyết định cấp tín dụng. Trên thực tế, sức ép này là hiện hữu, và
có khi được chính TCTD tận dụng. Tại nhiều địa phương, các cấp chính
quyền, đoàn thể thường phối hợp với NH trong việc thúc đẩy khách hàng trả
nợ đúng hạn. Chính quyền nhận thức rõ vai trò của NH trong phát triển kinh
tế địa phương, như tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập. Do đó họ đã
cùng với NH tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy người vay trả nợ NH. Quan hệ tích
cực này hình thành trên cơ sở nhận thức đúng đắn của cả cấp chính quyền,
Đảng, đoàn thể và NH về kỷ luật tín dụng. Một số cấp chính quyền, ngược
lại coi NH như kênh tài trợ quan trọng khi gặp khó khăn về ngân sách. Họ
gây áp lực cho NH bỏ qua kỷ luật tín dụng để tài trợ cho những dự án tài
chính yếu kém song kỳ vọng lại lớn.
Sự phân biệt người vay có tài sản hay không có tài sản bảo đảm của các
NH mà mặc nhiên bỏ qua các yếu tố khác như uy tín, hiệu quả sử dụng vốn
dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc lựa chọn khách hàng để cho vay và hệ quả là
các DN muốn vay phải thiếu trung thực, các NH sẽ khó khăn trong việc kiểm
soát tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.
Một nguyên nhân khác nữa dẫn đến NQH là do một số NHTM nhà
nước chưa có Ủy ban quản lý tài sản nợ, trong danh mục vay hiện nay đều
hiện diện hầu hết các nhóm hàng và dịch vụ, sự cạnh tranh giành thị phần ở
thiệp. Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM
dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống lẽ
ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử
lý sớm hơn.
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về
DN và NH. Đó cũng là thách thức cho hệ thống NH trong việc mở rộng và
kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông
19
tin tương xứng. Nếu các NH cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng
trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ
nợ xấu cho hệ thống NH.
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự
hiệu quả. Kinh doanh NH là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay
nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín
dụng là không thể tránh khỏi, các NH cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau
nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với
cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều NH. Trong quản
trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới
hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều NH
cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro
chia đều cho tất cả chứ không chừa một NH nào. Trong tình hình cạnh tranh
giữa các NH ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan
trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các NH có các
quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay NH dữ liệu của CIC chưa
đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời.
Chính sách cho vay là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của NH.
Chính sách đưa ra thống nhất, đầy đủ, đúng đắn, sẽ xác định phương hướng
đúng đắn cho cán bộ tín dụng khi thực hiện nhiệm vụ nâng cao hiệu quả kinh
tế - xã hội của hoạt động tín dụng. Khi cho vay NH phải xem xét kỹ điều kiện
cho vay, đặc biệt khi cho khách hàng vay vốn rồi NH phải chú trọng trong