ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HUY
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO TẠI XÃ XUÂN DƢƠNG, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo
:
Chính quy
Chuyên ngành
:
Phát triển nông thôn
Khoa
:
Kinh tế & PTNT
Khóa học
:
2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn
:
PGS. TS. Đinh Ngọc Lan
Thái Nguyên - 2015i
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình thực tập tại trường và sau hơn 4 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ
sở em đã hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp. Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ
Nhiệm khoa Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn, các phòng ban cùng các thầy giáo,
cô giáo đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản làm nền tảng để đi thực tập tốt
nghiệp và phục vụ cho công việc sau này.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với cô giáo PGS.TS.Đinh Ngọc
Lan đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
tập và hoàn thành bài khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn tới các các bộ lãnh đạo và người dân xã Xuân
Dương, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện để em được thực tập nâng cao
hiểu biết.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, em đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để
hoàn thành bài khóa luận. Tuy nhiên với thời gian ngắn và hạn chế về kiến thức nên
chuyên đề của em khó tránh khỏi những thiếu sót. Vậy kính mong các thầy cô và
giáo viên hướng dẫn giúp đỡ, góp ý để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2015.
Sinh viên
Bảng 4.15: Nguồn vay phân theo nhóm hộ năm 2014. 45
iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
WTO
WB
TKVN
LĐTBXH
HDI
TP
TB
HTX
PRA
SWOT
CNH - HĐH
UBND
XĐGN
THCS
iv
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất. 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở lí luận 4
2.1.1. Một số quan điểm về nghèo và giảm nghèo 4
2.1.2. Cơ sở phân định hộ nghèo, cận nghèo tại xã giai đoạn 2010 - 2015 7
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
2.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay 8
2.2.2. Thực trạng nghèo tại Việt Nam 11
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 17
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3. 3. Nội dung nghiên cứu 17
3.2 Phương pháp nghiên cứu. 17
3.2.1. Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp 17
3.2.2. Thu thập thông tin, số liệu sơ cấp 17
3.3. Phương pháp xử lí số liệu 19
4.5.2. Định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 54
4.5.3. Định hướng phát triển các ngành thương mại, dịch vụ 54
4.5.5. Định hướng trong văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao 55 vi
4.5.6. Bảo vệ môi trường 56
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
5.1. Kết luận 57
5.2. Kiến nghị 58
5.2.1. Đối với Đảng và Nhà nước 58
5.2.2. Đối với cấp tỉnh, huyện 58
5.2.3. Đối với xã, các đoàn thể, các tổ chức cộng đồng 59
5.2.4. Đối với hộ nông dân nghèo 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay đói nghèo luôn là vấn đề được tất cả các nước trên thế giới quan tâm.
Ở các nước phát triển dù có mức sống cao nhưng vẫn luôn tồn tại tình trạng phân
hóa giàu – nghèo. Những nước đang phát triển với thu nhập trung bình và thấp,
trong đó bao gồm có Việt Nam thì một bộ phận không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức
nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn phải
chịu tình trạng không đủ ăn trong khi đây là những nhu cầu thiết yếu của con người.
Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền trong
cả nước do có các đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Trong
nhiên - xã hội địa phương đó một cách khách quan và kĩ lưỡng từ đó đề ra những
giải pháp phát triển kinh tế cho phù hợp.
Là một người con trong xã và cũng là một sinh viên sắp ra trường. Trải qua quá
trình tìm tòi và nghiên cứu em đã thấy được tính cấp thiết của của việc giảm nghèo, cho
nên em đã quyết định chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình đó là:
“Thực trạng và một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo tại xã Xuân Dương,
huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” đi vào nghiên cứu thực trạng nghèo đói ở xã Xuân
Dương, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn thuộc khu vực miền núi phía Bắc nước ta trong
những năm gần đây như một ví dụ điển hình cho đói nghèo ở vùng núi nói chung từ
đó đưa ra giải pháp XĐGN cho vùng.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng nghèo đói tại địa bàn xã Xuân Dương, huyện Na Rì tỉnh
Bắc Kạn, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm XĐGN giúp xã từng bước thoát
nghèo và phát triển bền vững.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu được hiện trạng nghèo đói của xã Xuân Dương.
- Phân tích được các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo của người dân
trong xã Xuân Dương.
- Đưa ra được các giải pháp nhằm XĐGN giúp xã từng bước thoát nghèo, nâng
cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
3
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Bổ sung thêm các kiến thức về đói nghèo đã được học về lý thuyết trong
nhà trường.
- Bổ sung thêm kiến thức về thực trạng và xác định nguyên nhân nghèo đói.
năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và
những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [15].
• Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen,
Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau:
“Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi
người, số tiền coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”[15].
Vậy tiêu chí để xác định nghèo ở nước ta là:
• Xác định giàu nghèo là một việc khó vì nó gắn với từng thời điểm, từng
quốcgia, và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau .Ở nước ta, từ khi có chủtrương
xoá đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa ra nhữngchuẩn mực
để xác định tình hình đói nghèo. Đó là: chuẩn mực của bộ lao độngthương binh xã
hội, chuẩn mực của TCTK, chuẩn mực đánh giá của WB để có cơ sở xây dựng
chương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với tập quán và mức sống ở nước ta hiện
nay. Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận
5
dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và nhu cầu cần thiết khác
bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời
điểm nhất định” (Nguyễn Hữu Hồng, 2008) [7].
Thực chất, hai vấn đề đói và nghèo là khác nhau:
+ Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống dưới mức
tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
+ Nghèo: Là tình trạng của một bộ phân dân cư chỉ có các điều kiện vật chất
và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện
chung của cộng đồng. Mức tối thiểu được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và các
nhu cầu khác như: Văn hoá, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp Chỉ đạt mức duy trì
cuộc sống rất bình thường và dưới đó là đói khổ.
quan. Bên cạnh thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên
phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hoá - xã hội,
thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà
xã hội học xem như là thách thức nghiêm trọng[15].
2.1.1.2. Khái niệm giảm nghèo và quan điểm về giảm nghèo
Giảm nghèo hiểu đơn giản là làm cho kinh tế của những hộ nghèo khá lên,
thoát khỏi ngưỡng nghèo. XĐGN phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh,
hiệu quả và bền vững, đồng thời chủ động tạo các nguồn lực cho các hoạt động trợ
giúp người nghèo đói.
Quan điểm này dựa trên lô-gic biện chứng là muốn giúp đỡ, hỗ trợ có hiệu
quả người nghèo đói thì Nhà nước phải có đủ nguồn lực vật chất trong tay, bởi vì
chính bản thân nhà nước là chủ thể có đầy đủ các khả năng điều hoà thu nhập
giữa các nhóm dân cư. Hơn nữa, các nguồn lực vật chất để thực hiện sự điều hoà
thu nhập ấy lại chỉ có thể có được khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả và
bền vững. Thực tế cho thấy, nhờ kinh tế phát triển mà Nhà nước đã có đủ tài
chính để mở rộng các dự án, các chương trình xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ cho
hàng ngàn xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, trên cơ sở đó
những người nghèo ở những vùng sâu, vùng xa có thêm cơ hội để vươn lên thoát
nghèo đói. Nhìn chung, ở đâu kinh tế phát triển, ngành nghề và hoạt động kinh tế
đa dạng, việc làm đầy đủ, thì ở đó số hộ nghèo đói giảm nhanh, số hộ giàu tăng
lên và bộ mặt xã hội của cộng đồng thay đổi nhanh chóng.
7
XĐGN không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của toàn xã hội, mà trước
hết là bổn phận của chính người nghèo, phụ thuộc vào sự vận động tự giác của
bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo.
XĐGN phải được coi là sự nghiệp của bản thân người nghèo, cộng đồng
nghèo, bởi vì sự nỗ lực tự vươn lên để thoát nghèo chính là động lực, là điều
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay
Theo báo cáo năm 2014 được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) công bố tại Tokyo ngày 24/7, số người nghèo và cận nghèo trên thế giới
lên tới hơn 2,2 tỷ người. Các cuộc khủng hoảng tài chính, thiên tai, giá lương thực
tăng và các cuộc xung đột có thể làm tình hình trở nên trầm trọng hơn[9].
Báo cáo cho biết, trong khi tình trạng nghèo đói đang có chiều hướng giảm trên
toàn thế giới thì sự bất bình đẳng và "những tổn thương mang tính cơ cấu" vẫn là một
mối đe dọa nghiêm trọng. Gần 1,5 tỷ người tại 91 quốc gia đang phát triển sống trong
tình trạng nghèo đói, trong khi 800 triệu người đang ngấp nghé “bờ vực” nghèo.
Nghèo đói tập trung chủ yếu vào hai khu vực đó là Châu Phi và Châu Á:
Với Châu Á là nơi có nhiều người bị đói nhất, khoảng 526 triệu. Ở Haiti, số người
đói ăn chiếm 4,4% dân số trong giai đoạn 1990-1992 nhưng nay tăng lên thành
5,35% trong giai đoạn 2012-2014.
Với Châu Phi,theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, châu Phi là châu lục có tỉ lệ
thanh niên thất nghiệp cao nhất thế giới (25,6% ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi).
Thất nghiệp là một trong những vấn đề chủ chốt gây ra nạn đói nghèo của lục địa
Đen và ảnh hưởng tiêu cực đến các chương trình và các kế hoạch phát triển, với tỉ lệ
tăng 10% mỗi năm. 32 trong số 38 nước nghèo nhất thế giới là thuộc châu Phi. Số
tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỉ USD. Tuổi thọ trung bình ở châu Phi thấp nhất
thế giới, 45 tuổi. Chỉ có 58% số người dân châu Phi được dùng nước sạch.
Với Châu Âu, Ngày 4-11- 2014, Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) công
bố báo cáo về tình trạng nghèo đói và phân biệt đối xử trong xã hội tại Liên minh
châu Âu (EU) năm 2013 cho biết, hiện có khoảng 122,6 triệu người (tức 24,5% dân
số) các nước thành viên EU có nguy cơ rơi vào tình trạng nghèo đói và bị phân biệt
9
đối xử trong xã hội. Con số này dù đã giảm nhẹ so với năm 2012 (24,8%) nhưng
10
Khống chế tốc độ gia tăng dân số, khai thác và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường
sinh thái.
Ngoài những nỗ lực đó còn có các chính sách tín dụng cho hộ nghèo vay vốn
với lãi suất thấp thực hiện ưu đãi về thuế tín dụng. Nhà nước tăng các khoản đầu tư
vào các vùng khó khăn, động viên các lực lượng xã hội chi viện cho vùng nghèo
khó về vốn sản xuất; khoa học kỹ thuật (KHKT) và đã thu được những kết quả tốt.
Giúp đỡ xã nghèo, thôn nghèo và các hộ nghèo như phổ biến kinh nghiệm, hợp
tác kinh tế giúp đỡ lẫn nhau cùng có lợi để đưa xã nghèo, thôn nghèo, hộ nghèo
thoát khỏi khó khăn tiến tới giàu có (Phạm Văn Tĩnh, 2010)[13].
- Ấn Độ:
Trước đây Ấn Độ là một trong những nước có số người nghèo khổ nhiều
nhất thế giới. Theo tiêu chuẩn của liên hợp quốc, hiện nay Ấn Độ có khoảng 420
triệu người ở tình trạng nghèo đói chiếm 37,60% tổng số người nghèo khổ trên thế
giới, chiếm 55,00% dân số đất nước.
Từ những năm 1950 - 1970 chính phủ Ấn Độ đặt ra vấn đề phát triển toàn
diện khơi dậy tiềm năng sẵn có trong nông thôn. “Cuộc cách mạng xanh” với việc
đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất, phẩm chất tốt cùng với chương trình phát triển
nông nghiệp khác đã đưa Ấn Độ từ một nước phải nhập khẩu lương thực nay trở
thành một nước có khả năng tự túc lương thực. Chính phủ Ấn Độ đã có biện pháp
giúp đỡ từng nhóm hộ gia đình phát triển sản xuất nên đã có 15 triệu hộ gia đình với
khoảng 75 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo khổ. Hiện nay Ấn Độ có khoảng 12 -
15% số hộ nông dân khá, giàu. Đây là một kết quả cũng là thành tựu mà Ấn Độ có
được (Phạm Văn Tĩnh, 2010)[13].
- Nhật Bản:
Nhật Bản là quốc gia đất hẹp người đông, điều kiện phát triển kinh tế rất khó
khăn, nghèo tài nguyên lại thường hay động đất Nhưng đặc điểm của người Nhật
Bản là rất hay làm việc, biết tiết kiệm và căn cơ. Chỉ hơn 20 năm sau chiến tranh, từ
đống tro tàn đổ nát, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc về kinh tế, đời sống
nhân dân tăng cao, tình trạng đói nghèo đã giảm xuống thấp. Hiện nay 90% dân số
hội làm việc ở công trường, nhà máy cũng đóng góp tích cực cho công tác xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam[14].
12
Không chỉ Ngân hàng thế giới mà nhiều nước và tổ chức quốc tế khác cũng
đánh giá cao, coi Việt Nam là "một điểm sáng thành công" trong xóa đói giảm
nghèo. Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) cũng vinh danh công nhận
thành tích nổi bật trong xóa đói, giảm nghèo cho 38 quốc gia trên thế giới, trong đó
có Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam cũng nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao
bằng khen chứng nhận việc sớm đạt được Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 1,
hướng tới mục tiêu giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015. Điều này khẳng
định định hướng chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo ở Việt
Nam là đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới[14].
Còn theo Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải
Chuyền, mặc dù kinh tế đất nước còn không ít khó khăn nhưng Đảng, Nhà nước
luôn coi công tác giảm nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng. Vì thế, an
sinh xã hội và giảm nghèo luôn là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong
hoạt động của Chính phủ những năm qua. Với những nỗ lực liên tục của cả hệ
thống chính trị, mục tiêu giảm nghèo của Việt Nam đã thu được những kết quả quan
trọng, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 58% (năm 1993) xuống còn dưới 10%.
Đến cuối năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo cả nước ước còn 7,8%, giảm 1,8% so với năm
2012; riêng các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a giảm bình quân 5%, từ 48,39%
năm 2012 xuống còn 38,89% [14].
2.2.2.2 Những thách thức mới
Tuy đạt được những thành tích ấn tượng về giảm nghèo thời gian qua, nhưng
các nghiên cứu gần đây cho thấy Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn.
Đó là tốc độ giảm nghèo không đồng đều, chưa bền vững. Tỷ lệ nghèo đã giảm
nhanh ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, nhưng
Tin rằng, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị và người dân, công tác xóa
đói giảm nghèo năm 2014 sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu lớn hơn, góp phần
từng bước thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững từ nay đến năm 2020 [14].
2.2.3. Một số địa phương làm tốt công tác giảm nghèo ở nước ta
2.2.3.1 Giảm nghèo ở huyện Yên Thế - Bắc Giang.
Theo ông Vũ Quang Đa, Trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội,
Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo huyện, công tác
giảm nghèo đã được cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp và nhân dân trong
14
huyện tích cực thực hiện. Đa số hộ nghèo, cận nghèo đều quan tâm tìm tòi, học tập
kinh nghiệm, kỹ thuật để tăng hiệu quả sản xuất, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện
còn 12,5%, giảm gần 2% so với cùng kỳ năm trước .
Bên cạnh đó, các chính sách, dự án về giảm nghèo được thực hiện đồng bộ,
phủ rộng trên địa bàn huyện. Người nghèo ngày càng được tạo điều kiện tiếp cận tốt
hơn với các dịch vụ xã hội như: Y tế, giáo dục, văn hóa, tín dụng…
Năm 2014, hàng nghìn lượt hộ nghèo đã được tham gia các chương trình tập huấn
chuyển giao kỹ thuật, dự án khuyến nông- khuyến ngư, phát triển sản xuất, ngành
nghề; hơn 1.700 người nghèo, đối tượng chính sách được hỗ trợ học nghề; 100%
người nghèo được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế và được vay vốn để đầu tư cho
sản xuất kinh doanh nếu có nhu cầu, đủ điều kiện.
Đặc biệt, huyện còn tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao chất
lượng và hiệu suất sử dụng các công trình giao thông, thủy lợi… làm “đòn bẩy” về
phát triển kinh tế. Trong năm, toàn huyện đã đầu tư xây dựng 21 công trình thủy lợi,
nhà văn hóa, giao thông… với tổng vốn đầu tư hơn 5,6 tỷ đồng. Bên cạnh đó, nhiều
công trình, dự án quy mô lớn đã và đang được gấp rút hoàn thành như Dự án thủy
lợi sông Sỏi, đường huyện 268… nhằm phục vụ phát triển KT-XH, nâng cao đời
sống nhân dân.
chủ động cùng sự cố gắng, nỗ lực của chính quyền và bản thân người dân, công tác
giảm nghèo có nhiều chuyển biến tích cực.
Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-
2015 tại thành phố Bắc Ninh sau 3 năm thực hiện có tác động sâu sắc và huy động
được sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị. Thành phố xây được 46 nhà đại đoàn
kết với mức kinh phí hỗ trợ hơn 1,2 tỷ đồng. Hội Nông dân, Hội Phụ nữ các cấp
đứng ra tín chấp cho hơn 270 nghìn hộ nghèo; 900 lượt phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn
thân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được vay vốn phát triển kinh tế với tổng số
tiền hỗ trợ hơn 1,5 tỷ đồng. Thực hiện Đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn, thành phố tổ chức được 70 lớp học với hơn 2 nghìn lao động được đào
tạo nghề miễn phí.
16
Các chính sách an sinh xã hội cũng được thực hiện triệt để giúp người nghèo,
cận nghèo được tiếp cận, giải quyết những nhu cầu thiết yếu. Riêng trong năm
2014, đã có 161 lượt hộ nghèo và 685 lượt hộ cận nghèo thành phố được vay vốn
Ngân hàng Chính sách Xã hội giúp 195 hộ thoát nghèo, 998 lao động có viêc làm
ổn định. Thành phố cũng đã xây dựng, cải tạo, nâng cấp 564 công trình nước sạch
và vệ sinh môi trường với số vốn gần 7 tỷ đồng; 2.351 người nghèo, 3.587 hộ cận
nghèo và 4.292 đối tượng bảo trợ xã hội được cấp thẻ BHYT… Qua rà soát, năm
2014 số hộ nghèo của thành phố Bắc Ninh giảm từ 1.095 hộ (năm 2013) xuống còn
873 hộ, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống chỉ còn 1,98%.
17