Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng một lần nữa lại khẳng
định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với sự phát triển của sáu thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế
này bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh
tranh lành mạnh trong đó thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ
đạo. Một trong những bộ phận quan trọng cấu thành kinh tế Nhà nước
chính là doanh nghiệp nhà nước. Để kinh tế Nhà nước thực sự đóng vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế thì bộ phận doanh nghiệp nhà nước phải không
ngừng được hoàn thiện về tổ chức quản lý và chỉ đạo sản xuất.
Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước không phải thể hiện ở số lượng
doanh nghiệp nhà nước nhiều hay ít mà chủ đạo ở chỗ là lực lượng vật chất
quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi
trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Do đó
những doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn chỉ nên đầu tư vào
các lĩnh vực, địa bàn kinh doanh phức tạp và góp phần giải quyết các vấn
đề xã hội. Ở những lĩnh vực còn lại thì phải có sự cạnh tranh bình đẳng
giữa những doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Muốn
tạo được lợi thế trong cạnh tranh thì doanh nghiệp nhà nước phải nâng cao
hiệu quả hoạt động của mình thông qua việc thực hiện chuyển đổi sở hữu.
Quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được
tiến hành bắt đầu từ năm 1992. Hơn 12 năm thực hiện đã tạo ra những
doanh nghiệp năng động, nhạy bén, thích nghi với điều kiện kinh tế thị
trường. Mặc dù vậy, kế hoạch thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp
nhà nước trong thời gian qua đã không hoàn thành mục tiêu đề ra. Kết quả
là số lượng doanh nghiệp nhà nước cần phải thực hiện chuyển đổi sở hữu
còn nhiều, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục thực hiện và hoàn thành cơ bản kế
hoạch chuyển đổi sở hữu trong giai đoạn 2006 – 2010. Để có thể thực hiện
mục tiêu này thì trong kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 1
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kết cấu của bài viết gồm 3 chương
Chương I: Sự cần thiết phải tiếp tục thực hiện chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Chương II: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
Chương III: Giải pháp thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾP TỤC
THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI SỞ HỮU DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ỏ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
I. Tổng quan về doanh nghiệp nhà nước
Khái niệm DNNN được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cách
tiếp cận và mục đích nghiên cứu đối tượng này. Đối với Việt Nam, khái
niệm về DNNN thay đổi qua nhiều thời kỳ, tương ứng với sự thay đổi quan
niệm về sở hữu Nhà nước và sự thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế.
1. Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung (1960 – 1986)
Trong thời kỳ Kế hoạch hoá tập trung (1960 – 1986), tổ chức kinh tế
Nhà nước tồn tại dưới dạng các xí nghiệp (trong lĩnh vực công nghiệp),
nông trường quốc doanh (trong lĩnh vực nông nghiệp) và các công ty (trong
lĩnh vực thương mại). Khái niệm DNNN lúc này chưa xuất hiện mà chỉ có
khái niệm về xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và xí nghiệp thương mại
quốc doanh. Đặc trưng của những xí nghiệp này là: các xí nghiệp có tư
cách pháp nhân tức là những chủ thể pháp luật, chủ thể kinh tế độc lập;
toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước; các xí nghiệp phải thực hiện
Đến Luật DNNN năm 2003, khái niệm DNNN được hiểu sâu hơn.
Điều 1 Luật DNNN năm 2003 định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do
Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,
được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn”. Như vậy, về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng
và Chính phủ Việt Nam có những mặt nới lỏng và năng động hơn. Bên
cạnh những doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, còn tồn tại những doanh
nghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then
chốt và địa bàn quan trọng. Khái niệm DNNN trong Luật DNNN năm 2003
chứa đựng một số điểm mới cơ bản sau:
- Việc xác định DNNN không hoàn toàn dựa vào tiêu chí sở hữu như
trước đây. Trước đây, chỉ những doanh nghiệp được Nhà nước thành lập và
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đầu tư vốn, hoàn toàn do Nhà nước quản lý thì mới được coi là DNNN.
Trong số đó, tiêu chí sở hữu là tiêu chí cơ bản nhất để quyết định doanh
nghiệp là DNNN.
- Thừa nhận sự tồn tại bình đẳng của các hình thức sở hữu trong một
DNNN. Điều này có nghĩa là có những DNNN trong đó các hình thức sở
hữu khác nhau hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật.
- Pháp luật hiện hành thừa nhận khả năng chuyển đổi DNNN thành
doanh nghiệp thông thường thông qua cơ chế chuyển nhượng, mua bán cổ phần.
Theo Luật DNNN năm 2003, tiêu chí xác định DNNN là quyền kiểm
soát và quyền chi phối chứ không dựa vào tiêu chuẩn sở hữu và quản lý
như một điều kiện cần và đủ. Nếu không sở hữu một lượng cổ phần cần
thiết thì không thể nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tiêu chí sở hữu để
xác định DNNN hoàn toàn mang tính định tính. Còn tiêu chí quyền chi
phối được áp dụng trong Luật DNNN năm 2003 là tiêu chí mang tính chất
định lượng. Tính định lượng thể hiện ở tỷ lệ phần vốn góp của Nhà nước
trong toàn bộ vốn của doanh nghiệp. Như vậy, quyền kiểm soát được coi là
1.1.2 Yêu cầu
Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục
tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát
triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
1.2. Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa
Các công ty nhà nước không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ thực hiện CPH bao gồm: các Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngân
hàng thương mại nhà nước và các tổ chức tài chính nhà nước); công ty nhà
nước độc lập; công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty do
Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc của
công ty nhà nước.
Những công ty nêu trên được tiến hành CPH khi còn vốn Nhà nước
(chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi giảm trừ giá trị tài sản
không cần dùng, tài sản chờ thanh lý; các khoản tổn thất do lỗ, giảm giá tài
sản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí CPH.
Việc CPH đơn vị hạch toán phụ thuộc của các công ty nhà nước chỉ
được tiến hành khi:
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp có đủ điều kiện hạch
toán độc lập
- Không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp
1.3. Hình thức CPH công ty nhà nước
Có ba hình thức CPH như sau:
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ
phiếu thu hút thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp CPH có nhu
cầu tăng thêm vốn điều lệ. Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô
và nhu cầu vốn của công ty cổ phần. Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ
phần được phản ánh trong phương án CPH.
đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Tự nguyện đăng ký nhận giao công ty
- Cam kết đầu tư thêm để phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc
làm tối thiểu từ 3 năm trở lên, đóng đầy đủ bảo hiểm cho người lao động
trong công ty theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp tự nguyện chấm
dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động và chính
sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước).
- Kế thừa phần công nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty sau khi xử lý.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ đối với người lao động theo Bộ luật Lao động.
- Không được cho thuê, chuyển nhượng, tự giải thể công ty trong thời
gian tối thiểu 3 năm sau khi giao.
3. Hình thức bán công ty nhà nước
Bán công ty hoặc bộ phận của công ty là việc chuyển đổi sở hữu có
thu tiền toàn bộ công ty, bộ phận công ty sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc
pháp nhân khác.
3.1. Mục tiêu của việc bán công ty nhà nước
Việc thực hiện bán công ty nhà nước nhằm cơ cấu lại công ty, nâng
cao khả năng cạnh tranh của công ty trong điều kiện nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN. Thông qua đó, sử dụng có hiệu quả số vốn, tài sản của
Nhà nước và khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế khác cho
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khi tiến hành bán công ty nhà nước, người lao động sẽ được bảo đảm
việc làm, ổn định thu nhập và phát huy quyền làm chủ của người lao động.
Lúc này, Nhà nước sẽ không sở hữu hoàn toàn DNNN đã thực hiện bán nên
giảm bớt chi phí và trách nhiệm kinh doanh của Nhà nước. Do đó bảo đảm
được lợi ích của cả Nhà nước và người lao động.
3.2. Các phương thức tiến hành bán công ty nhà nước
Việc bán DNNN được tiến hành theo ba phương thức: đấu thầu, đấu
động. Nếu thái độ và nhận thức của họ thông suốt, sẵn sàng tiến hành
chuyển đổi doanh nghiệp thì sẽ đẩy nhanh tiến trình chuyển sở hữu.
Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp, vẫn còn tồn tại trong họ tâm lý
bất di bất dịch “chủ nghĩa xã hội gắn liền với sở hữu nhà nước”. Nếu những
tâm lý tiểu nông ấy không được gạt bỏ thì khó có thể thực hiện chuyển đổi
sở hữu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ còn lo sợ bị mất lợi ích, lo sợ
chuyển đổi sẽ làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là rào cản của
quá trình chuyển đổi sở hữu.
Đối với người lao động, nếu họ thông suốt được vai trò và ưu thế của
việc chuyển đổi, hiểu được vì sao phải tiến hành chuyển đổi thì chắc chắn
họ sẽ là lực lượng nòng cốt của quá trình chuyển đổi. Nhận thức và tâm lý
được giải toả, người lao động sẽ sẵn sàng và quyết tâm thực hiện chuyển
đổi sở hữu DNNN.
4.2. Cơ chế chính sách liên quan đến việc chuyển đổi sở hữu
Sở hữu luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của mọi thời kỳ lịch
sử. Nó vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời nó cũng tác
động trở lại đến quá trình kinh tế xã hội. Chính vì vậy, vấn đề sở hữu luôn
là mối quan tâm của các nhà chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.
Việc tiến hành chuyển đổi sở hữu DNNN đồng nghĩa với việc giảm sở hữu
Nhà nước, đây là vấn đề không mới nhưng chúng ta vẫn phải vừa làm vừa
“dò dẫm” và học hỏi kinh nghiệm các nước bạn. Bởi vậy, để việc chuyển
đổi sở hữu được tiến hành thống nhất trên phạm vi cả nước, Đảng và Nhà
nước đã không ngừng ban hành các quyết định, nghị định phù hợp với điều
kiện thực tế khi tiến hành chuyển đổi. Cơ chế chính sách được ban hành có
phù hợp với thực tiễn, có phù hợp với yêu cầu đổi mới hay không phụ
thuộc vào sự nhanh nhẹn và nhạy bén của cơ quan thường trực sắp xếp và
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đổi mới DNNN. Chỉ khi nào những cơ chế chính sách không còn là rào cản
cho quá trình chuyển đổi thì quá trình đó mới diễn ra theo đúng mục tiêu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tạp và “đụng chạm” đến quyền lợi của nhiều người. Vì vậy, cần phải có sự
chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể thông qua Ban chỉ đạo chuyển đổi.
Ban chỉ đạo chuyển đổi bao gồm nhiều cá nhân được lựa chọn và cùng
nhau chuẩn bị các chương trình hành động, lên kế hoạch sắp xếp lại hay kế
hoạch chuyển đổi sở hữu DNNN. Ban chỉ đạo có trách nhiệm nghiên cứu
văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cũng như các Bộ, ngành có liên
quan, tham khảo ý kiến tư vấn trong trường hợp cần thiết. Ban chỉ đạo sẽ
thay mặt Đảng và Nhà nước tiến hành chuyển đổi sở hữu các DNNN cần
phải chuyển đổi. Đồng thời cũng thay mặt Nhà nước trực tiếp quản lý quá
trình chuyển đổi. Do đó, Ban chỉ đạo có tầm quan trọng rất lớn, có ảnh
hưởng không chỉ với tiến độ chuyển đổi mà còn ảnh hưởng đến khả năng
phát triển trong tương lai của doanh nghiệp sau chuyển đổi. Bởi vậy, việc
lựa chọn các thành viên trong Ban chỉ đạo chuyển đổi cũng vô cùng quan
trọng. Nếu các cá nhân trong Ban chỉ đạo chỉ đưa ra những ý kiến đánh giá
nhằm duy trì quyền lợi cá nhân hay các ý kiến mang tính chủ quan, duy ý
chí thì mục tiêu hoạt động của Ban chỉ đạo chuyển đổi sẽ không thể thực
hiện được. Chính vì vậy, các thành viên phải là những người quán triệt sâu
sắc chủ trương đổi mới DNNN của Đảng và Nhà nước, có trình độ, có kinh
nghiệm, có nhiệt huyết đối với công cuộc đổi mới để “thổi những luồng gió
mới” vào quá trình chuyển đổi sở hữu. Có như thế, quá trình chuyển đổi sở
hữu DNNN mới được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao.
4.4. Nhân tố xuất phát từ chính trong nội tại doanh nghiệp
Quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN có tiến hành thuận lợi khi bản
thân doanh nghiệp vẫn còn tồn tại những rào cản cản trở sự chuyển đổi?
Những rào cản phải kể đến là: quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, nợ
của DNNN và giá trị tài sản của doanh nghiệp trước khi chuyển đổi.
Một là, bất cập từ quá trình xác định giá trị doanh nghiệp. Giá trị
doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong giá trị cổ phần của người lao động
khi thực hiện giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động, có vai trò
Bốn là, tính chất kinh tế của sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho
thị trường. Những sản phẩm nào thích ứng với thị trường, đáp ứng yêu cầu
của người tiêu dùng, có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ sẽ hấp dẫn các
thành phần kinh tế khác nhảy vào. Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc thực
hiện chuyển đổi sở hữu nhanh hơn và hiệu quả hơn. Ngược lại, đối với
Kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 14