ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o
PHẠM MAI ANH
BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ SỨC CHỨA LAC
(LIMITS OF ACCEPTABLECHANGE –GIỚI HẠN CỦA NHỮNG
THAY ĐỔI CÓ THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC) TRONG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TẠI VQG CÚC PHƯƠNG – NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o PHẠM MAI ANH
BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ SỨC CHỨA LAC
(LIMITS OF ACCEPTABLECHANGE –GIỚI HẠN CỦA NHỮNG
1.2 Phương pháp quản lý du lịch thông qua mô hình quản lý sức chứa du lịch
20
1.2.1 Khái niệm phương pháp mô hình du lịch sức chứa du lịch 20
1.2.2 Mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC 22
1.3 Hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia và vấn đề quản lý sức chứa du
lịch tại Vườn Quốc Gia 33
1.3.1 Khái niệm Vườn Quốc Gia 33
1.3.2 Khoanh vùng sử dụng du lịch đối với Vườn quốc gia 34
1.3.3 Tác động của du lịch tới Vườn Quốc Gia 37
1.4 Kinh nghiệm áp dụng mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC tại Hoa
Kỳ 41
CHƯƠNG 2: CÁC ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ SỨC
CHỨA DU LỊCH VÀ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ
SỨC CHỨA DU LỊCH LAC TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG- 45
2.1
Các điều kiện và hiện trạng du lịch ở Vườn quốc gia Cúc Phương
ảnh hưởng đến quản lý sức chứa du lịch. 45
2.1.1 Khái quát về Vườn quốc gia Cúc Phương 45
Định hướng ứng dụng mô hình LAC cho việc quản lý sức chứa du
lịch tại Vườn quốc gia Cúc Phương. 84
3.2
Một số kiến nghị. 88
KẾT LUẬN 923
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DLST:
Du lịch sinh thái
HDV:
Hướng dẫn viên
LAC
Limits of acceptable change
Giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được.
VQG:
Vườn quốc gia 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Stt Nội dung Trang
Bảng 2.1
Hình 2.1 Tỉ lệ khách thăm quan trung bình các tháng từ năm
2008 đến năm 2013
65
Hình 2.2 Cơ cấu doanh thu của Trung tâm DLST VQG Cúc
Phương từ năm 2008 đến năm 2014**
66
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, đi cùng với sự phát triển của kinh tế văn hóa xã hội, ngành
kinh doanh du lịch lữ hành được mở rộng và đạt được những kết quả ấn
tượng. Dường như, cuộc sống càng phát triển thì sự quan tâm của từng cá
nhân và cộng đồng dành cho du lịch càng được đề cao và trở thành một nhu
cầu thường xuyên hơn. Tuy nhiên sự phát triển của du lịch cũng đi cùng với
những tác động đa chiều không thể phủ nhận, từ đó dẫn đến việc cần phải đề
xuất ra những cách thức quản lý, điều phối hiệu quả nhằm hạn chế tác động
tiêu cực và hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Việc quản lý sức
chứa du lịch có ý nghĩa quan trọng trong cuộc này. Du lịch là ngành mang
định hướng tài nguyên rõ rệt, khai thác các ưu thế của tài nguyên để đưa vào
sản phẩm của mình. Bản thân các loại tài nguyên này thì lại mang những giới
hạn tự nhiên và tính nhạy cảm nên ảnh hưởng khá nhiều tới mức độ khai thác
du lịch. Nếu như việc khai thác du lịch vượt quá những giới hạn tự nhiên đó
thì sẽ gây ra những ảnh hưởng đôi khi là không thể khắc phục được.
Trong nhiều nghiên cứu đã từng được thực hiện, việc xác định sức chứa
thường là việc tìm ra một con số xác định duy nhất - dựa trên những tính toán
vật lý - để tạo ra một giới hạn trong đón tiếp khách du lịch. Việc tính toán xác
định ra con số này dựa trên những giả thuyết, những số liệu cố định và ít
nhiều thiếu mất sự thích ứng linh hoạt với sự thay đổi liên tục của điều kiện
thấy rằng những vấn đề của việc sử dụng tài nguyên cho hoạt động du lịch
không liên quan quá nhiều về số lượng người, mà về hành vi của họ. Trong
khí đó, phương pháp LAC giải quyết những câu hỏi khác nhau đáng kể: “Điều
kiện tài nguyên và điều kiện xã hội nào phù hợp (hoặc có thể chấp nhận
được), và làm thế nào để chúng ta đạt được những điều kiện đấy?. Câu hỏi
8
này thể hiện một cách tiếp cận căn bản khác đến tư duy về các vấn đề sử dụng
cho hoạt động du lịch, nhưng đã thực sự liên kết chặt chẽ với công việc chính
của các nhà quản lý hoạt động du lịch – đó là bảo vệ các giá trị mà vì đó một
khu vực được thành lập - hơn so với mô hình năng lực chịu tải.
Nhận thấy đây là một hướng mới, hữu ích trong việc giải quyết vấn đề
quản lý phát triển du lịch bền vững ở các vùng hoang dã, đề tài đã mạnh dạn
tiếp cận nội hàm của mô hình LAC và bước đầu áp dụng những kiến thức đã
tìm hiểu được để nghiên cứu áp dụng tại một địa điểm tại Việt Nam đó là
VQG Cúc Phương. Ở Việt Nam nói chung và tại VQG Cúc Phương nói riêng,
đã có nhiều công trình nghiên cứu, định hướng về phát triển du lịch sinh thái
– du lịch bền vững, thể hiện sâu sắc mối quan tâm của chính phủ và các nhà
khoa học tới vấn đề này. Với mức độ phát triển ngày càng mạnh mẽ của hoạt
động du lịch, càng cần có thêm những công cụ tối ưu để quản lý việc phát
triển sao cho đạt được hiệu quả cao nhưng vẫn mang tính bền vững. Và LAC
được kì vọng sẽ đóng góp hữu hiệu vào công cuộc này.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vào tháng 1/1985, “Hệ thống giới hạn những thay đổi có thể chấp nhận
được (LAC) dành cho việc quy hoạch các vùng hoang dã” được Cục Kiểm
lâm xuất bản [19]. Vào tháng 4/1985, ứng dụng đầu tiên của Phương pháp
LAC – cho Khu tổ hợp Hoang dã Bob Marshall – đã được chứng minh bằng
tài liệu trong 1 bản chỉnh sửa quy hoạch rừng. Báo cáo và quy hoạch này là
đỉnh cao của một nỗ lực, khởi nguồn từ đầu những năm 1980, để xây dựng và
thực hiện một phương pháp nhằm giải quyết vấn đề năng lực chịu tải các hoạt
được nghiên cứu và áp dụng một cách hoàn chỉnh như ở Hoa Kỳ.
Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu có nhắc tới phương pháp
LAC như một khả năng áp dụng bổ sung cho quản lý du lịch sinh thái tại
10
VQG [7,tr.120], tuy nhiên trong phạm vi tìm hiểu của tác giả luận văn, chưa
có công trình nào nghiên cứu riêng về vấn đề này.
Đối với VQG Cúc Phương là một điểm đến thu hút nhiều nhà khoa học trong
nhiều lĩnh vực như sinh học, địa lý, khảo cổ, du lịch, văn hóa Tuy nhiên các
nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực du lịch được thực hiện tại Vườn chủ yếu
tập trung vào nghiên cứu về du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Chưa có
nghiên cứu cụ thể nào về việc quản lý sức chứa thông qua mô hình LAC tại
Cúc Phương nói riêng và tại Việt Nam nói chung mà tác giả luận văn được
tham khảo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của công trình nghiên cứu là bước đầu tìm hiểu và áp
dụng mô hình quản lý sức LAC tại VQG Cúc Phương nhằm hỗ trợ nâng cao
năng lực quản lý sức chứa du lịch đây.
Để đạt tới mục đích nghiên cứu trên, luận văn đã thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu bao gồm: Thứ nhất, luận văn đã giới thiệu về mô hình quản lý
sức chứa LAC, bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn. Thứ hai, luận văn
tiến hành đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại VQG Cúc Phương và nêu
ra những vấn đề tồn tại cần giải quyết. Thứ ba, luận văn thực hiện một số
khảo sát xã hội học đối tượng du khách thăm quan tại VQG Cúc Phương để
đánh giá nhận thức du khách về các vấn đề tồn tại ở đây, Thứ tư, . Luận văn
cũng đưa ra những khuyến nghị hợp lý cho việc khai thác du lịch bền vững tại
nơi đây. Xa hơn nữa luận văn đưa ra đề xuất xây dựng một lộ trình áp dụng
LAC trong quản lý sức chứa du lịch tại VQG Cúc Phương vào thời gian tiếp
theo. Theo thống kê trong nhiều năm, VQG Cúc Phương luôn là một trong
những VQG thu hút lượng khách đến thăm quan đông nhất trong cả nước.
các phương pháp nghiên cứu sau đây:
12
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở đưa ra những lý luận chung về mối quan hệ
giữa du lịch và du lịch cộng đồng và các tác động của du lịch về mặt kinh tế,
văn hóa, xã hội lên cộng đồng người Mường trong phát triển du lịch ở đây.
- Phương pháp khảo cứu tài liệu
Tiến hành thu thập thông tin và các tài liệu thứ cấp thông qua việc sưu tầm,
tham khảo và xử lý các tài liệu sẵn có như: các công trình nghiên cứu khoa
học, sách, tạp chí khoa học, văn bản pháp luật, một số báo in và báo điện tử
liên quan tới các vấn đề ….đặc biệt là nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên
ngành bằng tiếng Anh. Bên cạnh đó còn có các số liệu tổng kết hoạt động
kinh doanh du lịch tại VQG Cúc Phương do Trung tâm DLST và giáo dục
môi trường cung cấp.
- Phương pháp nghiên cứu điền dã
Đây là một trong những phương pháp quan trọng trong nghiên cứu du lịch vì
nó cho kết quả mang tính xác thực. Đồng thời do đặc thù của đề tài, đây được
coi là phương pháp then chốt để thực hiện đề tài. Quá trình khảo sát thực địa
và điều tra xã hội học diễn ra từ ngày 19/09/2014 đến ngày 22/09/2014 tại
VQG Cúc Phương. Bảng hỏi được xây dựng gồm 21 câu, sử dụng để điều tra
đối tượng là khách du lịch đang thực hiện hoạt động thăm quan tại đây. Số
lượng phiếu điều tra phát ra là 170 phiếu, số phiếu thu về là 169 phiếu.
6. Kết cấu luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch và sức chứa du lịch
Chương 2: Các điều kiện ảnh hưởng tới quản lý sức chứa du lịch và bước đầu
ứng dụng mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC tại Vườn quốc gia Cúc
Phương
13
Bách khoa toàn thư DLST định nghĩa sức chứa du lịch là “Số lượng các
hoạt động liên quan tới du lịch mà một khu vực hoặc một điểm đến có thể đủ
15
sức cung cấp; thường được ước lượng theo dạng số lượt khách hoặc số đêm
khách lưu trú trong một khoảng thời gian, hoặc bằng số lượng phòng trống” [22, pg 178]
Các định nghĩa trên đều có một điểm chung đó là coi sức chứa là một
điểm thể hiện số lượng du khách mà nếu vượt qua điểm đó thì sẽ dẫn tới
những tác động có hại tới điểm thăm quan.Theo đó, sức chứa du lịch bao gồm
ba nội dung: Sức chứa sinh thái, sức chứa xã hội và sức chứa kinh tế.
* Sức chứa sinh thái: là số lượng du khách có thể thực hiện hoạt động
trong một khu vực du lịch mà không gây suy giảm chất lượng môi trường tự
nhiên xuống dưới mức cho phép. Trong trường hợp tính toán sức chứa sinh
thái, giới hạn an toàn của hệ thống sinh thái thường được sử dụng thông qua
các dấu hiệu chỉ thị của tự nhiên, mức độ ô nhiễm môi trường, mức độ đa
dạng sinh học…
* Sức chứa xã hội: bao gồm hai khía cạnh: Một là, mức độ chấp nhận
của cộng đồng địa phương được phản ảnh bằng số lượng tối đa du khách đến
thăm quan mà không gây sự khó chịu cho du khách địa phương.
* Sức chứa kinh tế: là khả năng của khu du lịch có thể đáp ứng các nhu
cầu về kinh tế của du khách tại địa phương.
Tuy nhiên mối quan hệ giữa mức độ sử dụng và tác động xã hội, tác
động lý sinh tương đối phức tạp và không phải là một đường thẳng tuyến tính
do nó chịu sự tác động can thiệp của nhiều biến số thay đổi [21, pg69]. Đồ thị
Hình 1.1 dưới đây chỉ ra khả năng của mối quan hệ giữa mức độ sử dụng và
mức độ tác động lên tự nhiên và xã hội.
Đường đồ thị C đại diện cho trường hợp mà ở đó các tác động đến môi
trường tăng lên không đáng kể khi mức độ sử dụng tăng dần. Tuy nhiên, tới
một “ngưỡng” nhất định của mức độ sử dụng thì sự ổn định của môi trường bị
phá vỡ và do đó các mức độ tác động lên môi trường tăng nhanh một cách đột
Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa mức độ sử dụng và tác động
môi trường [21, pg69]
17
Chính sự phức tạp trong mối quan hệ giữa mức độ sử dụng và tác động
thực tế dẫn tới việc khó khăn trong kiểm soát và cân bằng hai yếu tố trên. Từ
đó tạo tiền đề cho những phương pháp
1.1.2 Một số công thức tính sức chứa du lịch
Hai nhà nghiên cứu A.M.Cifuentes và H. Ceballos-Lascurain đã đưa ra các
công thức tính toán về khả năng tải vật lý, khả năng tải thực tế như sau:
Khả năng chịu tải vật lý (PCC- Physical carrying capacity) là giới hạn
tối đa cho phép về số lượng khách đến tham quan du lịch tại một khu,
điểm du lịch tham quan trong một giới hạn thời gian được xác định
trước.
PCC = A .D.Rf (1)
- Trong đó A là diện tích của khu vực, điểm tham quan dự kiến.
- D là diện tích cần thiết để đáp ứng nhu cầu khách đến tham quan hay
nói cách khác là mật độ khách được đáp ứng trên một mét vuông
- Rf là số lượng khách tham quan tối đa cho 01 ngày.
Thường Rf (Rotation factor) được tính bằng số thời gian được phép lưu
lại điểm, khu vực tham quan/ số thời gian khách lưu lại tham quan tại
điểm đó.
Rf = T cp/ Ttq (2)
- Trong đó Tcp là thời gian cho phép tham quan.
- Ttq là thời gian khách lưu lại tham quan.
Đối với diện tích thường được xem xét trong một phạm vi nhất định được giới
hạn bởi đối tượng tài nguyên mà khách du lịch tham quan du lịch như một
khu vườn, một nơi nuôi động vật hoặc khu vực sinh sống của thực vật, có thể
là một khu vực để tổ chức các cuộc vui chơi giải trí.
Các khu du lịch sinh thái ở những khu vực rừng núi hoang dã, là nơi thường
xuyên xảy ra mưa, bão lụt và thời tiết bất thường và khắc nghiệt, điều kiện đi
đến lại khó khăn do hệ thống cơ sở hạ tầng và công tác đầu tư, quản lý của
Nhà nước còn hạn chế. Do đó không phải lúc nào điều kiện cơ bản để tính
toán sức chứa cũng là điều kiện hoàn toàn thuận lợi. Những hệ số giới hạn
trong tính toán sức chứa thường bao gồm:
- Hệ số giới hạn về thời tiết:
+ Hệ số giới hạn về mưa bão trong năm thường xẩy ra tại các khu vực làm
cản trở hoạt động đến khách du lịch tham quan, ví dụ khu vực miền trung
thường có 2 tháng có yếu tố này nên M về thời tiết là: 30 ngày x 2 tháng = 60
ngày.
+ Hệ số giới hạn về độ dài rét, mưa phùn và gió bắc. Ảnh hưởng đến độ quan
sát, ẩm ướt gây khó chịu ở miền Bắc thường ra Tết kéo dài 2-3 tháng.
+ Hệ số giới hạn về giờ nắng trong năm gây ra khó chịu cho khách như mùa
gió Lào của khu vực miền Trung kéo dài 3 tháng hè
- Hệ số giới hạn về môi trường:
+ Hệ số giới hạn về mức độ ô nhiễm từ chất thải, rác thải, nước thải trong thời
gian nhất định nào đó tác động ức chế đối với khách.
+ Hệ số giới hạn về tiếng ồn từ các động cơ ô tô, xe máy, động cơ thuyền hay
đám đông gây ảnh hưởng đến nhu cầu khách, yếu tố hệ số này thường được
xác định thông qua điều tra xã hội học để tính tỷ lệ phần trăm người không
tán thành được hỏi so với số người được điều tra.
+ Hệ số giới hạn về tai biến và sự cố môi trường gây nguy hiểm cho khách
tham quan tại các điểm du lịch sinh thái thường được xác định số vụ xảy
trong thời gian nhất định tháng hoặc năm.
20
+ Hệ số chất lượng nguồn nước bao gồm nước sinh hoạt, nước biển hệ số
này được xác định thông qua số lượng thời gian quan trắc các thành phần đảm
Quản lý vùng đất công tự nhiên đó là việc phân bổ những dòng chảy lợi ích,
một cách lý tưởng nhất khi mà những lợi ích được tối ưu hóa. Nhưng những
lợi ích như vậy không đến nếu không có những sự trả giá về cả tài chính và xã
hội. Nên những nhóm hoặc những giá trị nào có thể được lợi từ một quyết
định cụ thể? Và ai sẽ phải trả những chi phí hoặc bị chế hoặc bị ảnh hưởng.
Một mô hình lập kế hoạch sẽ giúp đỡ người quản lý giải đáp câu trả lời này.
- Cuối cùng, một mô hình lập kế hoạch phải có hiệu quả kinh tế lẫn xã
hội. Đó là một tiêu chuẩn quan trọng vì mô hình giúp cho người ra quyết định
phân bổ những nguồn tài chính hạn hẹp và nguồn lực con người cho những
nhiệm vụ quan trọng và nổi bật.
Trên thế giới hiện tồn tại nhiều mô hình lập kế hoạch được sử dụng với
mục đích quản lý mức độ sử dụng và trải nghiệm của du khách đồng thời bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên tại điểm khai thác du lịch. Tùy theo mục đích và bối
cảnh quản trị mà các mô hình được phát triển và biến đổi. Một số mô hình lập
kế hoạch quản lý sức chứa được biết đến và ứng dụng nhiều trong thực tế gồm:
- ROS (Recreation Opportunity Spectum): Sự phân bổ cơ hội sử dụng du
lịch
- LAC (Limits of Acceptable Change): Những giới hạn của thay đổi có
thể chấp nhận được.
- VERP (Visitor Experiences and Resource Proctection): Sự bảo vệ
những trải nghiệm của du khách và tài nguyên.
LAC và VERP tương tự với ROS ở chỗ được xây dựng cho những
vùng đất công sử dụng cho du lịch như khu hoang dã hoặc VQG nhưng hai
22
mô hình này được mở rộng bao gồm các dấu hiệu chỉ thị, tiêu chuẩn và sự
giám sát. Cả ba mô hình đều dựa trên tiền đề của một hệ thống phân cấp nhu
cầu, mà ở đó mọi người tham gia trong những hoạt động với những sự sắp
xếp chắc chắn để đạt được những mục tiêu ở đầu ra. Thành công đạt được ở
đầu ra dẫn tới những lợi ích xác định. Mặc dù LAC và VERP được phát triển
được như là một hệ thống quy hoạch được xem như là một cách cho các nhà
quản lý đối mặt và giải quyết các vấn đề phức tạp về quản lý du khách không
chỉ cung cấp về những trải nghiệm mà họ đang tìm kiếm mà còn giải quyết
các vấn đề về tác động xã hội và sinh học.
1.2.1.1 Nội dung mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC
Hệ thống quy hoạch theo phương pháp giới hạn những những thay đổi
có thể chấp nhận được đã được xây dựng và phát triển trong những năm 80
với mục đích giải quyết các vấn đề về quản lý các hoạt động du lịch trong các
khu bảo tồn quốc gia và gồm 04 phần chính khớp nối với nhau:
(1) việc chỉ rõ các điều kiện xã hội và nguồn tài nguyên có thể đạt được và
chấp nhận được đã được xác định nghĩa bằng một loạt các tham số có thể đo
lường được;
(2) một sự phân tích về mối quan hệ giữa điều kiện hiện tại và những điều
được đánh giá là có thể chấp nhận được;
(3) việc xác định hành động quản lý là cần thiết để đạt được những điều kiện này;
(4) một chương trình giám sát và đánh giá tính hiệu quả của công tác quản
lý.[20,pg 19]
LAC được thực hiện thông qua 9 bước cụ thể như sau: