ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
================
VŨ MINH PHƯƠNG
NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ TRẺ EM
KHỎI BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CỘNG ĐỒNG
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI QUẬN HOÀN KIẾM,
QUẬN THANH XUÂN VÀ QUẬN BẮC TỪ LIÊM – HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nâng cao hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực
gia đình tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại Quận Hoàn Kiếm, Quận Thanh
Xuân và Quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội)” là kết quả nghiên cứu của Học viên, không
sao chép của ai và kết quả được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Nội
dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các
tác phẩm, tạp chí, các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2014
Học viên Vũ Minh Phương (CH - CTXH 4)
2 BLGĐ Bạo lực gia đình
3 BVCSTE Bảo vệ, chăm sóc trẻ em
4 BVCSGDTE Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
5 BVTE Bảo vệ trẻ em
6 CĐ Cộng đồng
7 CQ Chính quyền
8 CSSK Chăm sóc sức khỏe
9 CTXH Công tác xã hội
10 DVCTXH Dịch vụ công tác xã hội
11 ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn
12 ĐTN Đoàn Thanh Niên
13 GD Giáo dục
14 GĐ Gia đình
15 GĐBL Gia đình bạo lực
16 GĐMR Gia đình mở rộng
17 HCĐBKK Hoàn Cảnh Đặc Biệt Khó Khăn
18 HK Hoàn Kiếm
19 HPN Hội Phụ Nữ
20 HVBL Hành vi bạo lực
21 LĐTBXH Lao Động Thương Binh Xã Hội
22 LHPN Liên Hiệp Phụ Nữ
23 LHQ Liên Hợp Quốc
24 NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
25 PVS Phỏng vấn sâu
26 TCXH Tổ chức xã hội
27 TE Trẻ em
28 TL Từ Liêm
29 TNCS Thanh Niên Cộng Sản
30 TNTP Thiếu niên tiền phong
31 TNXH Tệ nạn xã hội
2.1. Một số nét về thực trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em trên địa
bàn một số phường ở Hà Nội 38
2.1.1. Thực trạng bạo lực gia đình 38
2.1.2. Thực trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em 43
2.2. Hậu quả của bạo lực gia đình đối với trẻ em 51
2.2.1. Hậu quả về tâm lý tình cảm 52
2
2.2.2. Gây nên lo âu trầm cảm, suy giảm sức khỏe tâm thần 53
2.2.3. Hậu quả về hành vi 54
2.3. Thực trạng hoạt động của cộng đồng bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực
gia đình 57
2.3.1. Nhu cầu, nguyện vọng của trẻ và gia đình trong môi trường bạo lực gia đình 57
2.3.2. Mức độ hoạt động can thiệp của cộng đồng với trẻ khi bị bạo lực gia
đình 62
2.3.3. Mô hình hoạt động của cộng đồng bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình 71
2.3.4. Những yếu tố tác động đến hiệu quả của hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình
tại cộng đồng 74
Tiểu kết chương 2 78
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ TRẺ EM
KHỎI BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CỘNG ĐỒNG 79
3.1. Những hoạt động từ nhân viên công tác xã hội nhằm hỗ trợ và bảo vệ trẻ em khỏi bạo
lực gia đình tại cộng đồng 79
3.2. Một số giải pháp từ thành viên trong cộng đồng góp phần làm giảm thiểu bạo lực gia
đình đối với trẻ em 85
3.2.1. Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền – giáo dục 85
3.2.2. Tăng cường hoạt động xóa đói giảm nghèo cho gia đình bạo lực 86
3.2.3. Chính quyền và các tổ chức xã hội tăng cường sâu sát các gia đình tại khu dân cư 88
3.2.4. Tăng cường liên kết giữa nhà trường và gia đình 89
3.2.5. Tăng cường các hình thức và biện pháp cứng rắn đối với bạo lực gia đình với trẻ em .89
3.2.6. Tăng cường tổ chức các hoạt động và dịch vụ xã hội cho trẻ em 90
Biểu đồ 2.6: Những nguyên nhân khác quan gây ra BLGĐ (Theo quan điểm của cha mẹ) 50
Biểu đồ 2.7: Những nguyên nhân chủ quan gây ra BLGĐ đối với TE ( Theo quan
điểm cha mẹ) 50
Biểu đồ 2.8: Trạng Thái lo âu, trầm cảm 53
Biểu đồ: 2.9: Hành vi gây hấn ở thiếu niên 56
Biểu đồ 2.10: Những người đến giúp đỡ trẻ khi bị BLGĐ 64
4
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bạo lực gia đình là một hiện tượng xã hội tồn tại dai dẳng từ xưa đến nay, ở
mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi vùng miền [4]. Hành vi bạo lực gia đình rất phong
phú, đa dạng và gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội.
Bạo lực gia đình không những để lại hậu quả nghiêm trọng cho các cá nhân nói
chung, mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ đối với trẻ em. Theo các số liệu khảo sát
xã hội học: Bạo lực gia đình ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ chiếm
91,0%; gây tổn hại về sức khỏe, thể chất: 87,5%; gây tổn thương về tâm lý, tinh
thần: 89,4%; gây tan vỡ gia đình: 89,7% và làm rối loạn trật tự, an toàn xã hội:
89%. Với trẻ em hậu quả nguy hại nhất là làm cho các em mất niềm tin vào các
thành viên gia đình, từ đó chán học, sa ngã vào các tệ nạn xã hội hoặc có hành vi
phạm pháp. [28] Bởi vậy can thiệp hợp lý và kịp thời đối với bạo lực gia đình sẽ
giúp đỡ rất nhiều cho trẻ em, tránh gây nên những hậu quả suốt đời đối với trẻ, giúp
trẻ có một không gian an toàn lành mạnh để sống học tập, thúc đẩy sự phát triển hài
hòa và toàn diện đối với trẻ.
Dulamdary Enkhtor và cộng sự (2007), nghiên cứu về trừng phạt thân thể và
tinh thần trẻ em đã chỉ ra rằng khi bị bố mẹ trừng phạt, trẻ cảm thấy buồn, ân hận,
hối lỗi, đau khổ [4]. 10/11 phân tích của Gershoff cho thấy sự trừng phạt của cha
mẹ (hoặc BLGĐ) có liên quan đến những hành vi không mong muốn đối với trẻ sau
đây: giảm tính cách đạo đức, tăng gây hấn ở trẻ em, tăng phạm tội trẻ em và hành vi
chống đối xã hội, giảm chất của mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ em, giảm sức khỏe
nghiên cứu này đã chỉ ra những tổn thương tâm lý của trẻ em phải chịu do bạo lực
gia đình, chỉ ra phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em. Những nghiên
cứu cũng đã đưa ra những phương pháp tiếp cận để trị liệu tâm lý, tâm thần một
cách cá nhân cho trẻ em khi phải chứng kiến bạo lực gia đình.Tuy vậy, chưa có
nghiên cứu nào phân tích và giải quyết dưới góc độ công tác xã hội nhằm phục vụ
việc bảo vệ trẻ em trực tiếp khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng được tốt hơn.
6
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi hình thành tính cách và nhân cách
cho trẻ. Xây dựng các thiết chế gia đình bền vững được xem là giải pháp nội lực để
phòng tránh bạo lực gia đình. Vì vậy đòi hỏi các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt
trận đoàn thể xây dựng được quy chế, quy ước nhằm hạn chế mâu thuẫn có thể bùng
nổ thành xung đột, tạo dựng hình ảnh gia đình chuẩn mực: no ấm, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững [29].
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, đồng thời, là một trung tâm kinh tế - chính
trị - văn hóa của cả nước. Nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội đã phát triển và thành
công tại Hà Nội. Nền dân trí và sự hiểu biết của người Hà Nội cao hơn so với các
vùng khác trong cả nước. Tuy vậy, tình trạng BLGĐ ở Hà Nội vẫn tồn tại và diễn
biến phức tạp, trẻ em trong một số gia đình tại Hà Nội vẫn phải chịu những sự trừng
phạt nặng nề của tệ nạn BLGĐ. Những trẻ em này là đối tượng quan trọng cần được
bảo vệ của công tác xã hội. Là một ngành khoa học ứng dụng và là một nghề trợ
giúp xã hội nên công tác xã hội không thể không chú ý tới nhóm trẻ em bị BLGĐ.
Sự quan tâm của gia đình đã giúp cho trẻ em được an toàn, tránh nhiều sự nguy
hiểm trong xã hội. Tuy nhiên tệ nạn BLGĐ đã gây ra nhiều tổn hại về sức khỏe và
tinh thần cho trẻ em. Hoạt động bảo vệ trẻ em cần phải được xuất phát từ chính các
gia đình mà đặc biệt từ những gia đình thường xuyên xảy ra bạo lực.
Công tác BVCSGDTE ở Việt Nam luôn được đặt trong mối quan hệ khăng
khít giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Vì vậy, vai trò của cộng đồng, của CTXH
nhằm ngăn chặn tác động xấu từ BLGĐ đến trẻ em luôn là vấn đề cần thiết và cấp
bách. Vấn đề này ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đã có sự quan tâm của
các cấp các ngành. Song để đạt được kết quả tốt hơn, cần có những nghiên cứu để
và 1990 hoạt động này tiếp tục được thay đổi theo mỗi tiểu bang của Mĩ. Hầu hết
các quốc gia chuyển sang "chuyên nghiệp hóa" ứng phó với tình trạng lạm dụng và
bỏ bê trẻ em. Điều này dẫn đến việc áp dụng rộng rãi các hoạt động chuyên nghiệp
ra quyết định hỗ trợ, hướng dẫn và kiểm tra, đánh giá rủi ro của việc ngược đãi trẻ
em (Holzer & Bromfield, 2008).
Vào cuối những năm 1990, dịch vụ bảo vệ trẻ em trong tất cả các tiểu bang
và vùng lãnh thổ Úc đã gặp khó khăn để đối phó với một số lượng lớn các báo cáo
nghi ngờ lạm dụng và bỏ bê trẻ em. Cách tiếp cận pháp luật/pháp y đã bị chỉ trích vì
gia đình có nguy cơ thấp phải chịu sự rủi ro để điều tra không cần thiết, trong khi
cùng một lúc để cho một số gia đình có nguy cơ cao gặp phải sự tan vỡ (Lonne et al
8
2009). Điều này khiến chính phủ các nước và các dịch vụ bảo vệ trẻ em phải tìm
kiếm các giải pháp thay thế trong thế kỷ 21. Mô hình mới của bảo vệ trẻ em và hỗ
trợ gia đình đã được thông qua ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Úc
(Bromfield & Holzer, 2008). Phương pháp bảo vệ trẻ em vào đầu thế kỷ 21 ghi
nhận sự đóng vai trò quan trọng của hệ thống gia đình, các thiết chế và tổ chức xã
hội khác và phúc lợi gia đình rộng lớn hơn trong việc hỗ trợ các gia đình và do đó
ngăn ngừa sự lạm dụng và bỏ bê trẻ em. Mô hình bảo vệ trẻ em mới tìm cách để đạt
được một sự cân bằng giữa các dịch vụ bảo vệ trẻ em theo luật định và các dịch vụ
hỗ trợ gia đình. Theo mô hình này, các dịch vụ bảo vệ trẻ em theo luật định, trở
thành một khía cạnh trong một hệ thống phúc lợi xã hội tổng thể cho trẻ em và gia
đình của họ (Bromfield & Holzer, 2008). Điều này đã dẫn đến các dịch vụ bảo vệ
trẻ em và dịch vụ hỗ trợ gia đình làm việc cộng tác nhiều hơn để đánh giá nhu cầu
của gia đình. Trong khi làm việc cộng tác nhiều hơn với các dịch vụ phúc lợi xã hội
khác trong gia đình, người bảo vệ trẻ em đã có nhiều lựa chọn hơn khi trả lời một
báo cáo nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê trẻ em. Điều này đã giúp cho họ đáp ứng tốt
hơn nhu cầu nhận thức của gia đình chứ không phải là qua đánh giá hội đồng quản
trị các rủi ro về lạm dụng trẻ em và bỏ bê thực tế (Tomison, 2001).
Các phong trào chống bạo lực trên thế giới
Phong trào biện hộ cho quyền trẻ em
Ở Autralia hệ thống luật pháp, chính sách quy định rất cụ thể về bảo vệ chăm
sóc, giáo dục trẻ em đó là tư pháp thân thiện với trẻ em, ví dụ như khi trẻ em vi
Công ước của LHQ về quyền trẻ em được Đại Hội đồng Liên hợp quốc chính
thức thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989, theo Nghị định 44/25. Công ước có hiệu
lực và trở thành Luật quốc tế từ ngày 2 tháng 9 năm 1990, khi đã có 20 nước phê
chuẩn. Nước đầu tiên trên thế giới phê chuẩn Công ước là Gana. Tính đến năm 2002 đã
có 191 nước ký và phê chuẩn, tham gia. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là
nước đầu tiên ở châu Á đã ký cam kết thực hiện. Ngay sau ký cam kết, Nhà nước ta đã
ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật cũng như xây dựng hệ thống tổ chức bộ
máy từ trung ương đến cơ sở bảo đảm cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em được thực hiện ngày càng có hiệu quả.
Công ước gồm 54 điều khoản với nội dung quy định các quyền dân sự, chính
trị, kinh tế, văn hóa, nêu rõ các nguyên tắc, các quyền khác nhau, các cơ chế theo dõi
và thực hiện. Trong đó, 41 điều khoản đề ra các quyền của tất cả trẻ em, các quyền đó
là không thể chia tách. Các điều khoản bao gồm cả những nội dung các quyền về tự do
dân sự, môi trường gia đình và các biện pháp thay thế trong chăm sóc sức khỏe, giáo
dục, các hoạt động văn hóa giải trí, các biện pháp bảo vệ đặc biệt [25]
Công ước này đã
Nhắc lại rằng, trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, LHQ đã công bố
công tác xã hội trẻ em nhất, riêng thành phố Stockhol của Thuỵ Điển, từ năm 2006,
đã có tới 27 trung tâm CTXH với trẻ em, các trung tâm này được ngân sách của các
quận cung cấp và đặt dưới sự điều hành của các quận. Đây là nơi các em và cha mẹ,
người chăm sóc trẻ thường xuyên lui tới, nhất là trẻ em có vấn đề về tâm lý xã hội,
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bị sao nhãng, bị xâm hại, bị bạo lực. Ngoài giờ đi học
các em có thể đến trung tâm để được tư vấn, trị liệu tâm lí xã hội, được tham gia các
hoạt động vui chơi giải trí, thậm chí tạm lánh một vài ngày nếu môi trường gia đình
có nguy cơ không an toàn. Cán bộ CTXH thực hành tư vấn, tham vấn, trị liệu tâm lí
xã hội cho cả trẻ em và cả cha mẹ, người chăm sóc trẻ tại trung tâm; ngoài ra họ còn
thực hành các chuyến thăm các gia đình để trợ giúp các gia đình đang có vấn
11
đề. Trong trường hợp các chuyến đến thăm không thành công và ít nhất là 3 lần liên
tục trong khoảng thời gian một tháng mà cha mẹ, người chăm sóc trẻ vẫn không
chuyển biến về nhận thức và hành động, trẻ vẫn bị sao nhãng, có nguy cơ bị bạo
lực, bị xâm hại thì cán bộ xã hội có thể báo cáo với cấp chính quyền địa phương ra
văn bản triệu tập những người này đến ở trung tâm công tác xã hội dành riêng cho
các gia đình có vấn đề xã hội, thời gian ít nhất là 3 ngày, một tuần, dài hơn có thể
đến một tháng. Trong quá trình ở trung tâm CTXH các gia đình còn được tham gia
các buổi học tập, toạ đàm dành cho người lớn về tâm lý của trẻ em, kỹ năng chăm
sóc trẻ, đặc biệt là kỹ năng ứng xử, chăm sóc trẻ em cá biệt…
Cộng hoà liên bang Nga cũng là một trong số những quốc gia phát triển
mạnh mẽ mạng lưới tổ chức bảo vệ trẻ em, điển hình là Bang Costonia, trong năm
2009, toàn bang chỉ có khoảng 1,1 triệu dân nhưng có tới 26 trung tâm CTXH trẻ
em và có tới 700 cán bộ công tác xã hội, bình quân 1500 dân có một cán
bộ CTXH và khoảng 500 trẻ em có một cán bộ CTXH. Họ thuộc biên chế và do các
trung tâm CTXH trả lương nhưng vừa làm việc ở trung tâm vừa thực hành trực tiếp
tại cộng đồng. Đặc biệt, nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ bị tổn hại
được quản lý và cập nhật thông tin quản lý hàng tháng, toàn bộ thông tin được kết
nối mạng để phục vụ cho việc chỉ đạo điều hành từ cơ quan bảo vệ chăm sóc trẻ em
cấp tỉnh. Nói chủ quan, việc áp dụng công nghệ thông tin quản lý trẻ em ở bang
khỏi BLGĐ chỉ nhắm tới đối tượng trẻ em và nạn nhân, mà chưa quan tâm đến làm
việc với người gây bạo lực
“The Safe Child Book: A Commonsense Approach to Protecting Children
and Teaching Children to Protect Themselves – Gavin de Becker”. Đây là cuốn
sách khẳng định vai trò và tầm quan trọng của gia đình đối với việc giáo dục và bảo
vệ trẻ. Cuốn sách hướng dẫn cha mẹ cách bảo vệ và giáo dục trẻ một cách tốt nhất
nhằm đạt hiệu quả và an toàn. Đây là gợi ý cho việc xây dựng hoạt động và dịch vụ
bảo vệ trẻ em tập trung gia đình.
“Safeguarding and Protecting Children in the Early Years - James Reid”.”
đề cập đến khái niệm lạm dụng thể chất và tinh thần. Cuốn sách đề cập đến vai trò
của cha mẹ trong việc bảo vệ trẻ. Do cha mẹ là những người tiếp xúc trực tiếp và
thường xuyên với trẻ em. Đồng thời, cha mẹ là những người có tiếng nói quan trọng
13
nhất đối với trẻ. Do đó, những giải pháp hướng tới đối tượng là cha mẹ như tập
huấn về quyền trẻ em, tập huấn về các nội dung của pháp luật, phương pháp giáo
dục trẻ em cho cha mẹ là những nội dung quan trọng nhằm giúp giảm thiểu bạo lực
gia đình đối với trẻ.
Cuốn sách “Social Work – a profession of many faces” (tác giả: Armando
T. Morales, Bradford W. Sheafor và Malcolm E. Scott) nêu bật những khía cạnh
chuyên môn cần can thiệp của một ca trong công tác xã hội. Việc thực hành phải
dựa trên nhiều chiều cạnh tồng hợp và toàn diện. Ở chương 17, cuốn sách đề cập
đến thực hành công tác xã hội riêng đối với trẻ em và thanh thiếu niên. Tác giả cuốn
sách đã đưa đến cho người đọc cách thức để thực hành can thiệp đối với trẻ em gặp
phải những tổn thương về thể chất và tinh thần. Cuốn sách cũng nêu lên mô hình
sinh thái phân tích các rối nhiễu chức năng xã hội của trẻ em. Từ cơ sở đó, tác giả
luận văn đã xây dựng những hoạt động phủ hợp và hiệu quả nhất cho trẻ em nhằm
bảo vệ trẻ em khỏi những rối nhiễu tâm lý và hành vi trong bối cảnh bạo lực gia
Phát hiện đáng chú ý nhất của nghiên cứu là tình trạng đánh trẻ em nhằm
“giáo dục”, hay kỷ luật là khá phổ biến, trong khi các bậc cha mẹ đều ý thức
được rằng phương pháp dạy dỗ này là đã lạc hậu và khó chấp nhận, nhưng trên
thực tế phương pháp này vẫn được áp dụng rộng rãi. Tình trạng lạm dụng tình
dục hay chứng kiến bạo lực cũng là những vấn đề mà trẻ em Việt Nam phải đối
mặt ngày càng nhiều. [16]
Nghiên cứu về “thực trạng xâm hại trẻ em qua một khảo sát nhanh tại Hà Nội”
trong chương trình phòng chống xâm hại tình dục trẻ em Hà Nội của tổ chức SCAP
đã tìm hiểu các hình thức xâm hại trẻ em tại một số trường trong nội thành. Khảo
sát được tiến hành với 674 em trong độ tuổi từ tiểu học đến trung học cơ sở. Mặc dù
nghiên cứu được tiến hành tại trường học với mục đích tìm hiểu các hình thức xâm
hại trẻ em nói chung, nhưng kết quả đã chỉ ra một số hình thức xâm hại trẻ em tại
gia đình. Cụ thể, các em bị người nhà đánh đập là 11%, bị sao nhãng 4.2%. Nghiên
cứu đã đưa ra kết luận rằng, tất cả các hình thức xâm hại đều xảy ra tại các địa bàn được
nghiên cứu, ngay cả hình thức sao nhãng, bỏ mặc. Trẻ em nhỏ lại phải gánh chịu các
hình thức xâm hại nhiều hơn, đặc biệt là bạo lực gia đình và xâm hại tình dục [16].
15
Đỗ Thị Ngọc Phương (2012) “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt
ra đối với việc phát triển dịch vụ CTXH trong công tác bảo vệ trẻ em” đề cập đến
những điều cần biết để bảo vệ trẻ em và cơ sở CTXH để phát triển các dịch vụ.
Hoàng Bá Thịnh (2007) cũng đề cập đến “BLGĐ đối với trẻ em và một số giải
pháp phòng ngừa” ở tạp chí Tâm Lý Học tháng 6 năm 2007. Trong bài viết, tác giả
đã khẳng định chưa có một nghiên cứu cụ thể qui mô và toàn diện về thực trạng
BLGĐ đối với TE và những hậu quả của BLGĐ. Tác giả cũng có đề cập đến vấn đề
BLGĐ đối với TE thông qua một số nghiên cứu nhanh của các tổ chức trong nước
và phi chính phủ. Kết quả khảo sát 514 TE (6 – 18 tuổi) và 571 người lớn đã thống
kê một vài con số về thực trạng BLGĐ đối với TE quan trọng như có 30,7% TE bị
đánh đòn ngay sau khi mắc lỗi, 46,1% TE bị đánh bằng các vật dụng như roi vọt,
gậy, 46,8% TE bị tát, đánh vào mông, 18,2% bị đấm đá vào người và 37,7% TE bị
cấu, véo tai. Ở đây, tác giả cũng thống kê được 2 hình thức bạo lực đối với trẻ em
bạo hành. Nhứng giải pháp trên nhằm đảm bảo can thiệp và giúp đỡ hiệu quả và
toàn diện đối với những trường hợp TE bị bạo lực. Kết thúc bài báo, tác giả cũng
khẳng định cần có những nghiên cứu và đề tài khoa học chuyên sâu nhằm tìm hiểu
và đánh giá thực trạng và những giải pháp giúp đỡ TE khỏi BLGĐ, là vấn đề được
đề cập trong luận văn. Điều này thể hiện phần nào tính cấp thiết của luận văn.
Tác giả Hoàng Bá Thịnh cũng có bài viết “Biến đổi chức năng gia đình và vấn
đề giáo dục TE hiện nay” được đăng trên tạp chí GĐ và TE vào tháng 10 năm 2006.
Giáo dục trẻ em thời hiện đại là một vấn đề phức tạp, và được nhiều sự quan tâm
của giới chuyên môn cũng như toàn thể cộng đồng. Bài báo cũng đã khẳng định
“Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, TE cần được trưởng thành
trong môi trường GĐ”. Do đó, sự thay đổi về mặt kinh tế, chức năng tình cảm ảnh
hưởng rất lớn đối với việc giáo dục trẻ. Bài báo khẳng định vai trò quan trọng của
GĐ trong việc giáo dục trẻ và những biến đổi của GĐ có thể liên quan mật thiết đối
với việc hình thành nhân cách ở trẻ. Từ đó, là cơ sở để hình thành giải pháp giáo dục
trẻ em từ GĐ trong thời đại mới. Chỉ khi GĐ có nhận thức tích cực và đúng đắn việc
giáo dục trẻ em mới có hiệu quả và tránh được những hình thức bạo lực đối với trẻ.
Tác giả Hoàng Bá Thịnh cũng đề cập đến “BLGĐ, nhận thức và thực trạng”
trên tạp chí GĐ và TE (Kỳ 1 tháng 3 năm 2007). Bài viết đã nêu lên một vài con số
17
quan trọng về nhận thức của người dân về thực trạng BLGĐ, hình thức BLGĐ và
hậu quả của BLGĐ. Khi được hỏi “Ông/bà đã từng nghe nói về BLGĐ chưa?”, tỷ lệ
trả lời có ở nam cao hơn nữ (Nam – 63,4%, nữ - 47,6%). Kết quả khảo sát của bài
báo cũng cho thấy những người biết về BLGĐ có tỷ lệ thuận với trình độ học vấn.
Những hình thức BLGĐ được biết đến bao gồm bạo lực thể chất và bạo lực tinh
thần. Từ kết quả khảo sát, tác giả bài báo khẳng định nhận thức về BLGĐ của các
cán bộ chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội còn rất hạn chế. Đa số cán bộ
địa phương quan niệm BLGĐ là chuyện của từng gia đình hoặc nếu GĐ không yêu
cầu thì không cần can thiệp. Có những người cũng cho rằng BLGĐ chưa đến mức
can thiệp thì chưa can thiệp. Bài báo cũng đưa ra kết luận về hậu ủa nghiêm trong
nhất của BLGĐ là có thể gây tự sát đối với nạn nhân. Kết quả khảo sát của bài báo
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu vận dụng một số lý thuyết của xã hội học và công tác xã hội để
làm cơ sở cho kết quả thu được. Các lý thuyết này sẽ được dùng để kiểm chứng việc
trợ giúp, đáp ứng nhu cầu của xã hội đối với trẻ em bị xâm hại. Thực tế, nghiên cứu
sử dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu và lý thuyết trị liệu nhận thức – hành
vi làm cơ sở. Thông qua lý thuyết hệ thống, nghiên cứu xem xét việc hỗ trợ trẻ em
thông qua các hoạt động toàn diện ở phường. Thêm vào đó, xem xét hệ thống gia
đình với nhiều đối tượng có liên hệ mật thiết tới mô hình thực hành. Còn lý thuyết nhu
cầu cho biết trẻ em cần gì để có nội dung hoạt động hỗ trợ phong phú và hiệu quả hơn.
Lý thuyết nhu cầu còn sử dụng để đánh giá nhu cầu của gia đình để có sự đáp ứng kịp
thời. Lý thuyết trị liệu nhận thức – hành vi cung cấp các kỹ năng và nguyên tắc nhằm
tăng cường nhận thức cho TE và GĐ để họ có những hành vi cư xử đúng đắn. Các lý
thuyết này cũng được kiểm nghiệm trong quá trình thực hành thực tế tại cơ sở nghiên
cứu. Bởi vậy, nghiên cứu có ý nghĩa lý luận sâu sắc. Nó làm phong phú cho tri thức
ngành công tác xã hội về lĩnh vực bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đề tài có tác động toàn diện đến mọi
đối tượng trong cộng đồng về nhận thức, thái độ và hành động nhằm bảo vệ trẻ em
19
một cách tốt nhất. Nghiên cứu là cơ sở vững vàng cho các hoạt động bảo vệ trẻ em
khỏi BLGĐ tại các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội trong tương lai.
Đối với trẻ em được hưởng lợi
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, mặt trái của
nó là không ít trẻ em không được quan tâm, không được đối xử tốt trong các môi
trường làm việc căng thẳng. Không ít gia đình, bố mẹ bỏ bê và sao nhãng con cái.
Trong khi đó chưa có một mô hình bảo vệ trẻ em nào được thực hiện tại các phường
để trực tiếp hỗ trợ, giúp đỡ cuộc sống của các em. Do đó, xây dựng một mô hình
của cộng đồng bảo vệ trẻ em tại phường trên địa bàn các thành phố là một việc làm
cần thiết. Mục tiêu của mô hình hướng tới sự giúp đỡ phát triển toàn diện về thể