Luận văn thạc sĩ người việt nam di cư trái phép sang anh hồi hương và nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN MINH HOÀNG

NGƢỜI VIỆT NAM DI CƢ TRÁI PHÉP SANG ANH HỒI HƢƠNG
VÀ NHU CẦU VỀ DỊCH VỤ HỖ TRỢ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG

Chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 31 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Kham Hà Nội – 2015

LỜI CẢM ƠN
Luận văn này của tôi được hoàn thành với sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tổ
chức.
Trước hết, tôi muốn được cảm ơn TS. Trần Văn Kham – người hướng dẫn

LỜI CAM KẾT

Luận văn này sử dụng một phần số liệu từ khảo sát Thực trạng người Việt
nhập cư bất hợp pháp vào Vương quốc Anh
1
trở về Việt Nam do Trung tâm Đào tạo
phát triển cộng đồng (CTD) thực hiện vào năm 2014 với sự tài trợ của Đại sứ quán
Anh
2
tại Việt Nam. Tác giả của luận văn cũng đồng thời là thành viên của cuộc
khảo sát.
Ý tưởng của khảo sát này bắt nguồn từ việc các cơ quan hữu quan của
Vương quốc Anh muốn tìm các biện pháp để giảm thiểu tình trạng người Việt Nam
di cư trái phép sang Anh và hỗ trợ người hồi hương tái hòa nhập. CTD đã đề xuất ý
tưởng này khi được các cơ quan hữu quan của Vương quốc Anh tham vấn. Tác giả
của luận văn là người đại diện cho CTD tham dự cuộc họp tham vấn và trực tiếp đề
xuất ý tưởng.
Tác giả luận văn đã đề xuất việc sử dụng một phần dữ liệu từ cuộc khảo sát
để viết luận văn tốt nghiệp và đã được giám đốc của CTD đồng ý.
Ngoài số liệu từ cuộc khảo sát nêu trên, tác giả cũng sử dụng số liệu từ các
nguồn khác để bổ sung thông tin và làm căn cứ cho các phân tích trong luận văn.
Hà Nội, 3/2015
5
7. Phương pháp nghiên cứu
5
NỘI DUNG CHÍNH
7
Chƣơng 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
7
1.1. Cơ sở lý luận
7
1.1.1. Hệ thống khái niệm
7
1.1.1.1. Di cư
7
1.1.1.2. Hồi hương
8
1.1.1.3. Buôn bán người
9
1.1.1.4. Tái hòa nhập
10
1.1.1.5. Dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập
12
1.1.2. Hệ thống lý thuyết
13
1.1.2.1. Lý thuyết Nhu cầu
13
1.1.2.2. Lý thuyết Hệ thống
14

3.1.1. Áp lực trả nợ
61
3.1.2. Thiếu việc làm và thu nhập thấp
65
3.1.3. Các khó khăn về tâm lý
70
3.2. Các nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập
73
3.2.1. Vay vốn để sản xuất – kinh doanh
74
3.2.2. Giới thiệu việc làm
76
3.2.3. Học nghề
78

3.2.4. Khám sức khỏe, hỗ trợ pháp lý và tham vấn tâm lý
79
3.3. Đánh giá một số dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập hiện có và khả năng tiếp
cận
82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
90
KẾT LUẬN
90
KHUYẾN NGHỊ
94
TÀI LIỆU THAM KHẢO

35
2.3
Thời gian tham gia các công việc liên quan đến trồng cây cần sa
54
2.4
Tình trạng bị bắt giữ
59
2.5
So sánh nghề của người di cư trước khi đi và sau khi hồi hương
68
3.1
Những hỗ trợ mà người di cư trái phép hồi hương nhận được
82
Biểu đồ 2.1
Độ tuổi của người di cư trái phép hồi hương
33
2.2
Giới tính của người di cư trái phép hồi hương
33
2.3
Trình độ học vấn của người di cư trái phép hồi hương
34
2.4
Tình trạng hôn nhân của người di cư trái phép trước khi đi Anh
34
2.5
Thời điểm di cư sang Anh

56
2.14
Tình trạng hoàn trả nợ số tiền đã vay để đi Anh
62
2.15
Tình trạng việc làm
66
2.16
Loại hình công việc trong 3 tháng đầu sau khi hồi hương
66
3.1
Nhu cầu hỗ trợ tái hòa nhập
74
3.2
Mong muốn nhận được sự hỗ trợ về giới thiệu việc làm giữa các
nhóm tuổi
78
3.3
Mong muốn nhận được sự hỗ trợ học nghề giữa các nhóm tuổi
79
Hình 1.1
Thang (tháp) nhu cầu của Maslow
13
3.1
Nhu cầu thực tế của người hồi hương theo thang nhu cầu của
Maslow
81

2.10
Công việc trồng cần sa cũng bấp bênh
58

2.11
Bán nhà trả nợ
62
2.12
Tình trạng nợ nần sau khi hồi hương
63
2.13
Gia đình đổ vỡ vì có người đi Anh
71
3.1
Nhu cầu vay vốn
75
3.2
Mong muốn được giới thiệu việc làm
76
3.3
Mong muốn được giới thiệu việc làm
76
3.4
Về cách tiếp cận “từ trên xuống (top down)” trong phát triển
cộng đồng
87


CTXH
Công tác xã hội
ĐHQG
Đại học quốc gia
IOM
International Organization of Migration
Tổ chức Di cư quốc tế
ILO
International Labor Organization
Tổ chức Lao động quốc tế
KHXH
Khoa học xã hội
ISDS
Institute for Social Development Studies
Viện Nghiên cứu phát triển xã hội
LĐ-TB&XH
Lao động - Thương binh và Xã hội
LHPN
Liên hiệp Phụ nữ
LHQ
Liên Hợp Quốc

PCTNXH
Phòng chống tệ nạn xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
UNDP
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa góp phần làm cho lượng người di cư, cả hợp pháp và bất
hợp pháp, ngày một gia tăng giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Bên cạnh
nguyên nhân chiến tranh và tị nạn chính trị thì di cư vì lý do kinh tế là nguyên nhân cơ
bản của hoạt động di cư. Việc đi lại thuận tiện hơn cùng với sự chuyên nghiệp và tinh vi
của các đường dây đưa người xuyên quốc gia cũng góp phần làm gia tăng hoạt động di cư
trái phép. Người ta di cư từ các vùng có điều kiện sống thấp kém hơn tới các vùng có điều
kiện sống tốt hơn, dễ kiếm được việc làm hơn và phúc lợi xã hội tốt hơn.
Di cư trái phép đặt ra một loạt những thách thức cần phải can thiệp cho bản thân
người di cư, nước xuất phát và nước đến. Theo một báo cáo của Bộ Ngoại giao và Tổ
chức Di cư quốc tế (IOM), “trong những năm gần đây, hoạt động đưa người ra nước
ngoài bất hợp pháp và mua bán người có chiều hướng gia tăng ở Việt Nam. Trong thực tế,
các đường dây tội phạm quốc tế này không chỉ tổ chức đưa người di cư trái phép trong
những điều kiện thiếu an toàn, phi nhân đạo mà còn lợi dụng vị thế bấp bênh của họ để
đẩy một bộ phận người di cư này vào con đường bị mua bán, bóc lột tình dục và lao động
cưỡng bức” [9, tr. 48].
Trong số các nước là điểm đến của dòng người di cư trái phép thì Vương quốc Anh
là một trong những địa điểm phổ biến. Thống kê cho thấy hiện có khoảng từ 30.000 –
35.000 người Việt nhập cảnh và cư trú trái phép tại Anh [75]. Việt Nam đứng thứ 5 trong
số các nước có nhiều người nhập cư bất hợp pháp vào Anh [9, tr. 48] và đứng đầu trong
số các quốc gia đưa lậu người vào Anh để làm các việc làm phi pháp [72] . Chỉ riêng hai
năm 2008 – 2009, gần 12.000 trang trại trồng cần sa tại Anh do người Việt vận hành đã
bị cảnh sát phát hiện. Tuy nhiên trên thực tế số lượng các trang trại chưa bị phát hiện có
thể còn nhiều hơn.
Theo báo cáo năm 2011 của Cơ quan phòng chống tội phạm nghiêm trọng có tổ

qua các chương trình hợp tác xuất khẩu lao động chính thức thì nhiều người vẫn tìm cách
di cư trái phép sang Anh. Những người này phải đối mặt với nhiều rủi ro về sức khỏe, an
toàn tính mạng, phạm pháp, bị bóc lột, và hạng loạt khó khăn trong quá trình tái hòa nhập
sau khi hồi hương về Việt Nam do không có việc làm, nợ nần và túng thiếu, v.v. [9, tr.
48]. Thực tế này đặt ra vấn đề cần phải tiến hành một nghiên cứu để tìm hiểu những lý do
khiến người dân di cư trái phép sang Anh, quá trình di chuyển và cuộc sống bất hợp pháp
tại Anh. Bên cạnh đó là những khó khăn mà người di cư hồi hương phải đối mặt và các
nhu cầu của họ để tái hòa nhập. Việc đánh giá các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập để chỉ ra
mức độ sẵn có – tính phù hợp và khả năng tiếp cận cũng là việc làm cần thiết. Trên cơ sở
đó cần xây dựng các mô hình trợ giúp phù hợp để hỗ trợ tái hòa nhập và phòng chống
(tái) di cư bất hợp pháp, đặc biệt là các giải pháp về hỗ trợ vốn vay tạo sinh kế và cung
cấp thông tin về di cư an toàn hướng đến cuộc sống phát triển bền vững. 3

Với những lý do nêu trên, tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu mang tên:
“Ngƣời Việt Nam di cƣ trái phép sang Anh hồi hƣơng và nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ
tái hòa nhập cộng đồng”. Nghiên cứu này sẽ hướng đến làm giảm khoảng cách trong
định hướng chính sách, nghiên cứu và dịch vụ hỗ trợ hiện nay về nhóm đối tượng này.
Trên cơ sở kết quả khảo sát thực tế, nghiên cứu sẽ đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp các
nhà hoạch định chính sách, các cơ quan chức năng, các tổ chức trong nước và quốc tế
đang làm trong lĩnh vực di cư và phòng chống mua bán người đưa ra những chính sách và
chương trình can thiệp hiệu quả hơn.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận cho các nghiên
cứu (và can thiệp) liên quan đến vấn đề người di cư ra nước ngoài trái phép, hồi hương và
tái hòa nhập; đồng thời đóng góp vào việc tạo ra định hướng nghiên cứu về người di cư,
thúc đẩy các nghiên cứu về các mô hình trợ giúp cho người di cư, phòng chống di cư trái
phép/không an toàn và tăng cường di cư an toàn nói chung.

- Đâu là những nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng và giảm
thiểu nguy cơ tái di cư không an toàn của người di cư hồi hương?
- Khả năng tiếp cận và mức độ hiệu quả của các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập
và chính sách phòng chống di cư không an toàn hiện có là gì?
5. Giả thuyết nghiên cứu
Do có những khó khăn về kinh tế và nhận thấy cơ hội sang Anh làm việc với thu
nhập rất cao trong thời gian ngắn nên nhiều người Việt Nam đã bất chấp các quy định về
xuất – nhập cảnh, rủi ro về tài chính và an toàn tính mạng để di cư trái phép sang Anh.
Trên thực tế, nhiều người trong số họ đã đối mặt với nhiều gian khổ và nguy hiểm để đến
được Anh. Khi tới được Anh, nhiều người đã bị đường dây đưa người và tổ chức tội phạm
cưỡng bức lao động hoặc bị cảnh sát bị bắt giữ, tù giam và buộc hồi hương về Việt Nam
vì vi phạm pháp luật nước sở tại, đặc biệt là tội trồng cây cần sa trái phép. Hồi hương về
nước, nhiều người rơi vào cảnh nợ nần, túng quẫn do trước đó đã phải vay tiền để đi Anh
và đối mặt với nhiều khó khăn khác để hòa nhập trở lại cuộc sống. Tuy nhiên, các chính 5

sách và dịch vụ để hỗ trợ những người như họ để tái hòa nhập cuộc sống vẫn còn thiếu,
bất cập và cần phải được bổ sung và hoàn thiện.
6. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng người Việt Nam di cư trái
phép sang Anh hồi hương và nhu cầu về dịch vụ vụ hỗ trợ tái hòa nhập.
- Khách thể nghiên cứu: Những người Việt Nam di cư trái phép sang Anh đã
hồi hương về Việt Nam; và những người làm việc trong các cơ quan/tổ chức liên quan
đến quản lý người di cư, phòng chống di cư không an toàn và dịch vụ hỗ trợ cho người di
cư và các tài liệu liên quan.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 8 tháng, từ
tháng 1/2014 đến tháng 8/2014 tại 5 tỉnh/thành: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà
Tĩnh và Quảng Bình.
7

NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Hệ thống khái niệm
1.1.1.1. Di cƣ
Trong nghiên cứu này tôi sử dụng các thuật ngữ liên quan hiện đang được IOM áp
dụng trên phạm vi toàn cầu trong các nghiên cứu và can thiệp của tổ chức này. Những
thuật ngữ này được thể hiện trong tài liệu Giải thích thuật ngữ về di cư do IOM biên soạn
và phát hành [18].
Di cư là sự di chuyển của một người hoặc một nhóm người, kể cả qua một biên
giới quốc tế hay trong một quốc gia. Là một sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di

cảnh hoặc nước chủ nhà. Định nghĩa này bao gồm cả những người nhập cảnh bất hợp
pháp vào một quốc gia quá cảnh hay nước chủ nhà nhưng ở lại quá thời hạn cho phép
hoặc làm việc không được phép. Thuật ngữ “trái phép” được sử dụng nhiều hơn “bất hợp
pháp” vì bất hợp pháp mang một ý nghĩa phạm tội và được xem như bác bỏ quyền của
người di cư.
1.1.1.2. Hồi hƣơng
Hồi hương là quyền cá nhân của người tị nạn, tù nhân chiến tranh hoặc người bị
giam giữ dân sự được hồi hương nước mà họ mang quốc tịch theo các điều kiện cụ thể
được quy định trong nhiều văn kiện quốc tế như: Công ước Geveva năm 1949 và Nghị
định thư năm 1997, Quy tắc về luật pháp và tập quán chiến tranh trên bộ, Phụ trương
Công ước La Hay IV năm 1907, và các văn kiện về quyền con người cũng như luật pháp
và tập quán quốc tế. Việc lựa chọn hồi hương là quyền dành riêng cho cá nhân và không
phải là quyền của bên giam giữ. Trong luật quốc tế về xung đột vũ trang, việc hồi hương
đồng thời đòi hỏi nghĩa vụ của bên giam giữ phải thả những người thích hợp (quân nhân
và dân thường) và trách nhiệm của quốc gia gốc trong việc nhận lại công dân mình sau
khi chiến tranh chấm dứt. Ngay cả khi luật, điều ước không chứa đựng một nguyên tắc
chung về vấn đề này, ngày nay, việc hồi hương tù nhân chiến tranh và người bị giam giữ
dân sự là vấn đề được các bên liên quan mặc nhiên thừa nhận. Hồi hương cũng là thuật 9

ngữ được áp dụng với các đặc phái viên ngoại giao, quan chức quốc tế trong bối cảnh có
khủng hoảng quốc tế, đồng thời cũng áp dụng với người xa xứ và người di cư.
Sự trở về: Với nghĩa chung nhất, là hành động hay quá trình quay trở lại điểm xuất
phát. Sự trở về có thể diễn ra trong phạm vi biên giới lãnh thổ của một quốc gia, ví như
việc trở về của những người lánh nạn trong nước và những người lính xuất ngũ; hoặc giữa
nước chủ nhà (nước quá cảnh hoặc nước đến) và nước gốc trong trường hợp đối với người
di cư lao động, người tị nạn, người xin tị nạn, và công dân có trình độ. Có nhiều loại hình
trở về và có thể miêu tả qua cách thức thực hiện: tự nguyện, cưỡng bức, được hỗ trợ hay

nhóm hoặc một quá trình, ví dụ: sự tham gia của người di cư vào cộng đồng xã hội nước
gốc hoặc nơi cư trú thường xuyên. Tái hòa nhập bao gồm các khía cạnh về kinh tế, xã hội
và văn hóa. Cụ thể:
Tái hòa nhập về kinh tế là quá trình người di cư tái gắn kết vào hệ thống kinh tế
nước gốc và tự kiếm sống cho bản thân họ. Trong thuật ngữ phát triển, tái hòa nhập về
kinh tế còn là việc sử dụng các bí quyết mà người di cư tiếp thu được từ nước ngoài để để
thúc đấy phát triển kinh tế và xã hội của nước gốc.
Tái hòa nhập về xã hội là việc tái gắn kết người di cư vào cấu trúc xã hội của nước
gốc. Nó bao gồm việc tạo các mối liên kết cá nhân (với bạn bè, người thân, hàng xóm)
cũng như sự phát triển các cấu trúc xã hội (các hiệp hội, các nhóm tự lực và các tổ chức
khác).
Tái hòa nhập về văn hóa là sự tái thích nghi của người di cư đối với những giá trị,
lối sống, ngôn ngữ, quy tắc đạo đức, tư tưởng và truyền thống xã hội của nước gốc.
Theo quyết định số 17/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 29/01/2007
về Ban bành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị
buôn bán từ nước ngoài trở về thì hỗ trợ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng bao gồm: hỗ trợ về
tâm lý, hỗ trợ về thủ tục pháp lý, hỗ trợ học văn hóa – học nghề, và trợ cấp khó khăn ban
đầu và vay vốn.
Theo Thông tư số 35/2013/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2013 hướng dẫn thi hành
một số điều của Nghị định 09/2013/NĐ-CP ngày 11/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ

3
Điểm a, khoản 1, Điều 5 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày 13/8/2012 của Chính phủ quy định căn cứ
xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ. 11

(quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người) thì “Hòa
nhập cộng đồng là giai đoạn đưa nạn nhân trở về cộng đồng sau khi đã được hỗ trợ phục

quả này cần được tiếp diễn trong một thời gian dài, nghĩa là tái hòa nhập thành công một
cách bền vững [17]. 12

Tài liệu Hậu bị buôn bán: Trải nghiệm và thách thức trong quá trình (tái) hoà
nhập của người bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông, định nghĩa tái hòa
nhập là quá trình hồi phục và phát triển kinh tế và xã hội sau khi thoát ra khỏi tình trạng
bị buôn bán. Quá trình này bao hàm việc thiết lập một môi trường an toàn và an ninh, tiếp
cận một mức sống hợp lý, ổn định sức khỏe thể chất và tinh thần, các cơ hội phát triển cá
nhân, xã hội và kinh tế cũng như tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ xã hội và cảm xúc. Trọng tâm
của tái hòa nhập thành công là tăng cường năng lực cho nạn nhân, hỗ trợ họ để phát triển
các kỹ năng hướng đến sự độc lập, tự chủ và chủ động tham gia vào quá trình hồi phục và
tái hòa nhập của họ [46, tr. 6].
Từ các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này tôi thống nhất cách hiểu về tái hòa
nhập như sau: Tái hòa nhập là sự tham gia trở lại một cách tích cực và chủ động của một
người (nhóm người) vào mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của một cộng
đồng để có thể làm chủ cuộc sống. Tái hòa nhập là quá trình hai chiều bao gồm cả những
nỗ lực của người cần tái hòa nhập và hệ thống các dịch vụ hỗ trợ.
1.1.1.5. Dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập
Thông tư số 35/2013/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2013 (đã đề cập ở trên), Điều 11
(nói ca
́
c di
̣
ch vu
̣

̃

̣
xa
̃

̣
i , cơ sơ
̉

̃
trơ
̣
na
̣
n nhân co
́
tra
́
ch nhiê
̣
m tô
̉
chư
́
c thư
̣
c
hiê
̣
n ca
́

- Hô
̃
trơ
̣
y tế, tư vấn tâm ly
́
, trơ
̣
giu
́
p pha
́
p ly
́
.
- Hô
̃
trơ
̣
ho
̣
c văn ho
́
a , học nghề, xây dư
̣
ng kế hoa
̣
ch hô
̃
trơ

1.1.2. Hệ thống lý thuyết
1.1.2.1. Lý thuyết nhu cầu
Thuyết Nhu cầu được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra năm 1943. Theo
Maslow, là con người, để tồn tại và phát triển, ai cũng có nhu cầu. Maslow chia các nhu
cầu của con người thành năm bậc, từ bậc thấp nhất là i) các nhu cầu sinh lý (nhu cầu căn
bản) cho đến ii) nhu cầu về an toàn của cá nhân, iii) nhu cầu được chấp nhận (được là
thành viên) – nhu cầu xã hội, iv) nhu cầu được tôn trọng (địa vị xã hội) và v) nhu cầu cao
nhất là hiện thực hóa bản thân (tự thể hiện).

Hình 1.1: Thang (tháp) nhu cầu của Maslow
Tự thể hiện
Được tôn trọng
Được chấp nhận
Được an toàn
Nhu cầu sinh lý14 Maslow gọi đây là thang (tháp) nhu cầu và cho rằng con người chúng ta tùy vào
hoàn cảnh khác nhau mà có những nhu cầu khác nhau, nhưng nguyên tắc chung là các
nhu cầu được đặt ra từ thấp lên đến cao. Có nghĩa là các nhu cầu thấp hơn phải được đáp
ứng trước thì chúng ta mới nghĩ đến việc đáp ứng nhu cầu cao hơn [39].
Đối với người di cư trái phép từ Anh hồi hương – những người cần tái hòa nhập xã
hội để ổn định cuộc sống và không tái di cư trái phép – đâu là động cơ chính khiến họ
quyết định di cư trái phép sang Anh bất chấp các rủi ro có thể gặp phải? Sau khi hồi
hương về Việt Nam, những nhu cầu căn bản của họ là gì, đâu là những nhu cầu cao hơn?
Và để đáp ứng những nhu cầu đó, dịch vụ xã hội sẵn có nào có thể làm được, và dịch vụ
xã hội nào cần được xây dựng thêm? Những kết quả thực tế từ nghiên cứu này sẽ đưa ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status