Tiểu luận về thực trạng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gỗ của công ty SADACO - Pdf 30

1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
EU European Union Liên Minh Châu Âu
FLEGT
Forest Law Enforcement,
Governance and Trade
Tăng cường Luật pháp,
Quản lý và Thương mại
Lâm sản
FSC
Forest Stewardship
Council
Hội đồng quản trị rừng
quốc tế
L/C Letter of Cedit Tín dụng thư
TTR
Telegraphic Transfer
Reimbursement
Chuyển tiền bằng điện
D/P
Document against
Payment
Thanh toán nhận chứng từ
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế
giới
ASEAN

4
LỜI MỞ ĐẦU
Từ xưa, con người đã biết dùng gỗ để dựng nhà, sống hòa quyện với thiên nhiên.
Ngày nay, những tòa nhà cao tầng mọc lên với màu sắc đô thị hóa. Xu thế tất yếu của con
người lại muốn quay về với tự nhiên, vì vậy, những sản phẩm gỗ ra đời như đưa con
người trở về với những kí ức xưa, đồng thời cũng tạo nên những phong cách nghệ thuật
độc đáo. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay, các quốc gia đã và đang chịu ảnh hưởng
bởi tác động của sự toàn cầu hóa, mối quan hệ mua bán quốc tế đang được đẩy mạnh và
ngoại thương ngày càng phát triển. Hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta những năm
gần đây cũng đang diễn ra ngày càng sôi động và phức tạp, đặc biệt trong năm 2013 với
kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 115 tỷ USD tăng hơn 18% so với năm 2012 và đưa
nước ta trở thành nước xuất siêu. Trong giai đoạn 2011-2020, thương mại thế giới sẽ
không ngừng mở ra những cơ hội và thách thức mới cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Trong đó, sản phẩm gỗ là một trong những mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu và được
quan tâm nhất ở nước ta, đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm của
đất nước cũng như xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc gia sánh vai với các cường
quốc năm châu.
Công ty Cổ phẩn Phát triển Sản xuất Thương mại Sài Gòn (SADACO), thành viên
của Tập đoàn SATRA, một trong những tập đoàn thương mại lớn nhất Việt Nam, đóng
góp một phần không nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Với đề tài: “Tình hình
hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của Công ty Cổ phần Phát triển Sản xuất Thương mại
Sài Gòn (SADACO)”, bài báo cáo này đưa ra một cái nhìn tổng quát về tình hình xuất
khẩu sản phẩm gỗ của Công ty cũng như rút ra những nhận xét, đánh giá về những thuận
lợi và khó khăn mà Công ty gặp phải trong giai đoạn 2011 – 2013. Từ đó cũng đề xuất
một số kiến nghị góp phần giúp cho Công ty tháo gỡ những khó khăn trước mắt, đồng
thời phát huy thế mạnh sẵn có của mình để ngày càng khẳng định hương hiệu SADACO
trên thị trường thế giới. Kết cấu của bài báo cáo gồm có ba chương như sau:
- Chương 1: Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần phát triển sản xuất thương mại
Sài Gòn SADACO
5

• Mã số thuế: 0300699170
• Vốn điều lệ: 14.900.000.000 VNĐ
• Số cổ đông: 450
• Hình thức sở hữu: Công ty Cổ Phần
• Quy mô hoạt động:
Qua hơn hai mươi năm hoạt động, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty đã nỗ
lực phấn đấu không ngừng tạo nên sự phát triển lớn mạnh của Công ty. Với những nỗ lực
này, đến nay Công ty đã hình thành 17 đơn vị trực thuộc trong đó có 6 nhà máy sản xuất
chế biến lâm sản trên địa bàn TP.HCM và tỉnh Bình Dương, 4 Chi nhánh tại Hà Nội,
Nghệ An, DakNông, Bình Thuận, 1 nhà hàng khách sạn, 6 Trung tâm và Trạm dịch vụ.
Thương hiệu SADACO ngày càng được biết đến rộng rãi và đã đạt được các danh hiệu
cao quý như Huy chương “Sao vàng Đất Việt” (Viet Nam Gold Star), “Doanh nghiệp uy
7
tín và chất lượng” (Trusted Business), Cúp Vàng “Top ten thương hiệu Việt” (Topten
Vietnam Trademark)
1.2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức hành chính và công tác quản trị nhân sự
1.2.1. Chức năng
SADACO là một Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp, chức
năng hoạt động kinh doanh của Công ty rất phong phú và đa dạng, bên cạnh việc khai
thác, chế biến, sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm sản, hàng tiểu thủ công
nghiệp, vật liệu xây dựng, Công ty còn thực hiện dịch vụ xuất nhập khẩu ủy thác cho các
đối tượng trong và ngoài nước. Công ty cũng nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, thiết bị, hàng
hóa khác phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Ngoài ra, hình thức kinh doanh nhà hàng, khách
sạn, kinh doanh lữ hành nội địa, quốc tế cũng là một trong những chức năng khá quan
trọng của Công ty.
1.2.2. Nhiệm vụ
SADACO có nhiệm vụ kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký và mục đích
thành lập. Việc bảo toàn, sử dụng hiệu quả và phát huy nguồn vốn giúp đảm bảo kế hoạch
sản xuất kinh doanh mà Công ty đề ra, làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước. Công
ty cũng tuân thủ các chính sách kinh tế do Bộ Thương mại ban hành. Ngoài thị trường

hội đồng quản trị, là cơ quan sẽ thông qua về kết quả cũng như kế hoạch phát triển của
công ty. Tiếp đến là hội đồng quản trị, là cơ quan quản lý của công ty do đại hội cổ đông
bầu rat thay mặt đại hội cổ đông giữa hai kì đại hội. Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên
(1 chủ tịch và 4 ủy viên) với nhiệm kì là 5 năm. Bên cạnh hội đồng quản trị còn có 2
thành viên kiểm soát do đại hội cổ đông bầu ra, thực hiện việc thanh tra, kiểm soát. Dưới
9
đó là ban giám đốc (ban điều hành), được hội đồng quản trị bầu chọn, điều hành tất cả
các lĩnh vực hoạt động của công ty.
Dưới ban điều hành có 6 phòng ban nhỏ khác chuyên về các lĩnh vực và nghiệp vụ
khác nhau của công ty, đứng đầu là các giám đốc bộ phận, bao gồm: phòng tổ chức hành
chính, phòng kế hoạch, phòng kế toán tài vụ, phòng marketing, phòng kinh doanh (xuất
nhập khẩu) và phòng quản lý dự án. Ngoài ra, công ty còn có các xí nghiệp, các khách
sạn, các trung tâm và các trạm sản xuất khác.
- Ưu điểm: Loại hình tổ chức này thuộc mô hình kiểu mẫu, đơn giản, mang tính
chuyên môn hóa cao, tạo ra một bộ máy linh hoạt, dễ quản lý
- Nhược điểm: Chế độ trách nhiệm không rõ ràng nên Tổng Giám đốc Công ty khó
có thể phối hợp được tất cả hoạt động của những người lãnh đạo chức năng.
* Chức năng, nhiệm vụ của một số phòng ban tiêu biểu:
- Phòng nhân sự: Lập và lưu giữ hồ sơ nhân viên công ty, tiếp nhận nhu cầu tuyển
dụng từ các bộ phận, bố trí nhân sự vào vị trí thích hợp ở các phòng ban. Theo dõi tình
hình làm việc và thời gian làm việc nhân viên công ty, theo dõi nhân viên thử việc và kí
hợp đồng, xác định nhu cầu đào tạo và kế hoạch đào tạo, chấm công lên bảng lương kí
hợp đồng lao động, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
- Phòng Kế hoạch - Đầu tư: Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển
công ty dài hạn. Hướng dẫn và kiểm tra việc xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch
kế hoạch phát triển của đơn vị trong công ty . Tổ chức thực hiện việc giao kế hoạch vốn
đầu tư cho các đơn vị, các ban quản lý dự án thuộc công ty. Kiểm tra và tổng hợp tình
hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư, lập ra những phương thức thực hiện công tác kinh
doanh và phối hợp với phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu để triển khai kế hoạch sản xuất
kinh doanh của Công ty.

Số lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
11
Lao động phổ
thông
501 69,5 638 85 624 86
Đại học, trên đại
học
112 15.5 75 10 76 11
Cao đẳng, trung
cấp
107 14.8 38 5 25 3
Toàn công ty 721 100 751 100 725 100
Nguồn: Tổng hợp cơ cấu nhân sự công ty - Phòng Tổ chức – Hành chính
Biểu đồ 1.1. Cơ cấu nhân sự Công ty SADACO 2011-2013
Đơn vị tính: %
Nguồn: Tổng hợp cơ cấu nhân sự công ty - Phòng Tổ chức – Hành chính
Nhóm lao động cao đẳng trung cấp không giữ vai trò quan trọng trong Công ty,
nên tỷ trọng ngày càng giảm, năm 2011 chỉ chiếm 14,8% đến năm 2012 chỉ còn 5%, và
3% ở năm 2013.
Nhìn chung cơ cấu nhân sự thời gian qua đã đáp ứng khá tốt nhu cầu và tình hình

thu
197.142,74
8
196.267,82
5
257.542,279 (874,92) 99,56 61.274,45 131,22
Tổng
chi phí
193.301,61
9
192.857,22
8
254.744,119 (444,39) 99,77 61.886,89 132,09
Lợi
nhuận
sau
thuế
3.084,21 2.661,93 1.886,04 (442,28) 86,31 (775,89) 70,85
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh - Phòng Kinh doanh Xuất nhập khẩu
Trước những khó khăn do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế, năm 2011 và
2012, chi phí của Công ty khá cao, dao động ở con số 193.301,619 và 192.857,228 triệu
13
đồng, nhưng với những nỗ lực nhằm cố gắng khắc phục tình trạng doanh thu giảm sút,
Công ty đã chủ trương thắt chặt chi phí, giảm các khoản chi phí điện, nước, đi lại, tiếp
khách nên chi phí năm 2012 có phần giảm nhẹ so với năm 2011, giảm 0,23%, tức
444,39 triệu đồng. Nhưng đến năm 2013, chi phí lại tăng lên, thể hiện qua con số
132.09% so với năm 2012, mức tăng đáng kể là 61.886,89 triệu đồng. Theo Hiệp hội gỗ
và lâm sản Việt Nam (Viforest), bước sang năm 2013, nguồn cung gỗ nguyên liệu đang
diễn biến bất lợi cho các doanh nghiệp nhập khẩu bởi nguồn gỗ từ Lào và Campuchia
đang cạn kiệt, giá gỗ nguyên liệu trên thị trường Malaysia (thị trường nhập khẩu gỗ

So sánh
2012/2011
So sánh
2013/2012
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Tuyệt
đối
Tương
đối
(%)
Tuyệt
đối
Tương
đối
(%)
Đồ gỗ 3,476 54,13 4,838 51,91 5,623 63,9 1,362 138,18 0,785 116,23

trường Mỹ, EU tăng giá trở lại, giá nhiều mặt hàng tăng 3 - 7% so với năm 2011. Đối với
Việt Nam và đặc biệt là Công ty SADACO, thị trường châu Á và EU luôn được xem là
thị trường lớn. Năm 2012 là cơ hội tốt đối với ngành gỗ xuất khẩu Việt Nam bởi tiêu
dùng của người dân ở hai thị trường này bắt đầu phục hồi. Bên cạnh đó, chính sách trợ
giúp doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay cũng đã cởi mở và thông thoáng hơn.
Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng, đạt 5,6 triệu USD, nhưng chỉ
tăng 16,23% so với năm 2012 (tăng chậm đi so với tốc độ 39,17% trong giai đoạn 2011 –
2012) do giá xuất khẩu gỗ tại các thị trường Châu Á, EU tăng không đáng kể, thêm vào
đó, tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại cộng với khủng hoảng nợ công của một số quốc
gia châu Âu như Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha,… cũng khiến cho nhu cầu tiêu dùng các
17
loại hàng hóa sụt giảm trong đó có gỗ và các sản phẩm gỗ. Ngoài ra, trong thời gian này,
thị trường nhập khẩu đồ gỗ lớn của Công ty là Mỹ và EU đã áp dụng nhiều tiêu chuẩn
mới đối với mặt hàng gỗ xuất khẩu vào các nước này, nhất là các quy định về nguồn gốc
xuất xứ nguyên liệu (Đạo luật Lacey của Mỹ) nên những sản phẩm của Công ty muốn
xuất khẩu vào các thị trường này phải đạt tiêu chuẩn nhất định. Năm 2013 cũng là giai
đoạn Trung Quốc, Indonesia tiến hành thu mua gỗ dưới dạng gỗ tròn và gỗ xẻ bán thành
phẩm để sản xuất sản phẩm gỗ cho thị trường trong nước và quốc tế, đã khiến thị trường
xuất khẩu gỗ tinh chế của Công ty dần bị thu hẹp và gặp phải sự cạnh tranh.
2.1.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Tủ là sản phẩm khá quen thuộc trong đồ dùng gia đình, với tính năng bền và kiểu
dáng không ngừng cải thiện, nên nhu cầu không ngừng tăng cao qua các năm. Năm 2011,
kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 806.522 USD, tuy nhiên giảm nhẹ xuống 796.835 USD và
tăng mạnh ở năm 2013 với con số vượt trên 1,088 triệu USD, nguyên nhân là do tủ là mặt
hàng truyền thống của Công ty và uy tín về mặt hàng này ở thị trường nước ngoài cũng
đã được khẳng định. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm tủ lại giảm từ 23.2%
năm 2011 xuống còn 19.36% năm 2013, nguyên nhân là do tổng kim ngạch xuất khẩu
sản phẩm gỗ của Công ty tăng nhanh, cùng với nhu cầu đặc biệt tăng cao từ các khách
hàng nước ngoài về mặt hàng bàn ghế ngoài trời, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang
xuất khẩu mặt hàng tủ vì nhu cầu cao ở các thị trường lớn dẫn đến việc cạnh tranh khá

Tổng
cộng
3.476.517,63 100 4.383.101,97 100 5.623.512,9 100
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh - Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu
Giường có sức mua tăng nhưng không cao, kim ngạch xuất khẩu tăng nhẹ. Năm
2011, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 778 nghìn USD và tăng nhẹ lên trên 1,251 triệu USD
ở hai năm tiếp theo. Tỷ trọng của sản phẩm này trong ba năm trở lại đây cũng có xu
hướng giảm từ 22,4% năm 2011 xuống còn 21,52% năm 2012 và đến năm 2013 chỉ còn
22,26%. So với bàn ghế ngoài trời, sản phẩm giường xuất khẩu không phải là thế mạnh
của Công ty, do những hạn chế về thiết kế và chất lượng, cũng như mức độ ưu tiên Công
ty dành cho mặt hàng này.
Bàn và ghế là hai loại sản phẩm khá quan trọng trong những năm gần đây, kim
ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên từ năm 2011 - 2013, kim ngạch xuất khẩu tăng từ
651.499 USD năm 2011 lên đến hơn 1,221 triệu USD năm 2013 ở bàn và từ 782.564
USD lên 1,130 triệu USD ở ghế. Đây là hai sản phẩm mũi nhọn mà Công ty đang hướng
tới nhóm người tiêu dùng là các hộ gia đình và các quán ăn phục vụ ngoài trời tại các thị
trường Châu Âu và Bắc Mỹ. Trong thời gian này, Công ty cũng đã không ngừng nắm bắt
thị hiếu tiêu dùng của các nước để đẩy mạnh xuất khẩu bàn ghế ngoài trời sang những thị
19
trường mới như: Canada, Trung Đông, Nga Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu ghế có phần
giảm nhẹ vào cuối năm 2013 vì công ty đẩy mạnh chiến lược tập trung vào giường và bàn
với đa dạng mẫu mã hàng hoá cho việc xuất khẩu sang các nước.
Kệ tivi là sản phẩm chiếm tỉ trọng thấp nhất trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và
cũng là sản phẩm mới nhất được đưa vào danh mục mặt hàng xuất khẩu của công ty. Do
đó, kim ngạch tăng đáng kể ở giai đoạn 2011-2012, với con số tăng gần gấp đôi (từ
457.509 USD lên 916.820 USD). Tuy nhiên, sau khi đã ổn định thị trường thì lượng sản
phẩm này giao động trong khoảng dưới 930.000 USD. Dự kiến, đây là mặt hàng có thể
góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của công ty nhờ những kiểu thiết kế sáng tạo, mẫu
mã đa dạng và công dụng hữu ích.
2.1.3. Cơ cấu thị trường xuất khẩu

Châu
Âu
532.602,50 15,32 2.636.765,57 54,50 3.168.849,52 56,35
Châu
Mỹ
9.734,25 0,28 143.691,63 2,97 895.263,25 15,92
Châu
Úc
443.951,30 12,77 590.248,44 12,20 991.425,32 17,63
Tổng
cộng
3.476.517,63 100 4.838.101,97 100 5.623.512,90 100
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh - Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu
Đối với thị trường Châu Âu, giá trị xuất khẩu của Công ty tăng trưởng mạnh. Năm
2011, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt hơn 532 nghìn USD, nhưng đến năm 2011 lên đến hơn
2,6 triệu USD, tăng 338%. Và tiếp tục đạt hơn 3,1 triệu USD vào năm 2013, chiếm tỉ
trọng cao nhất ở giai đoạn 2012-2013. Tháng 10/2011 Nghị viện châu Âu (EC) và EU đã
thông qua văn bản pháp quy về Quy chế FLEGT quy định điều kiện doanh nghiệp phải
chấp hành khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu gỗ tại thị trường 27 nước thuộc EU. Tháng
8/2011, EU và Việt Nam tuyên bố cùng thành lập Đối tác tự nguyện về kiểm soát thương
mại gỗ giữa hai bên. Sự kiện này đã mang lại đôi chút khó khăn trong giai đoạn đầu cho
Công ty, vì các sản phẫm gỗ muốn xuất khẩu vào thị trường này phải tuân thủ theo một
tiêu chuẩn cao hơn, cộng thêm việc tăng đột biến tỷ trọng xuất khẩu vào thị trường châu
Mỹ, nên năm 2011, tỷ trọng xuất khẩu ở Châu Âu còn ở mức thấp. Nhưng đến năm 2012,
kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh cho thấy sản phẩm của Công ty đang ngày càng hoàn
thiện và đang được ưa chuộng ở thị trường này. Năm 2013, sau khi đã có thị trường và cơ
cấu xuất khẩu dần ổn định, việc xuất khẩu gỗ sang Châu Âu tiếp tục tăng và biến thành
thị trường mục tiêu của Công ty.
Sự tăng mạnh mạnh nhất có lẽ là ở thị trường Châu Mỹ, chỉ với gần 9,8 nghìn
USD vào năm 2011, kinh ngạch tăng lên đến hơn 143 nghìn vào năm 2012 (tăng 136%)

tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam. Những Công ty lớn của Việt Nam như Tập
đoàn Khải Vy với kim ngạch xuất khẩu của Công ty đã lên hơn 30 triệu USD mỗi năm
với năng lực sản xuất đạt 240 container (40 feet) đồ gỗ trên tháng. Đầu năm 2012, Khải
Vy còn nhận vốn đầu tư của Công ty tài chính quốc tế (IFC).
Tập đoàn kĩ nghệ gỗ Trường Thành (Bình Dương) có 7 nhà máy chế biến gỗ ở Gia
Lai, Bình Dương, TP. HCM và ở Lào với 5000 công nhân. Hiện nay Tập đoàn cũng đã
thực hiện trồng 40 ngàn hecta rừng. Nguyên liệu luôn ổn định và có đủ chứng chỉ (FSC).
Đối diện các Công ty mạnh như Khải Vy, Trường Thành, SADACO thực sự cần nỗ
lực nhiều hơn nữa để đứng vững trên thị trường khó khăn như hiện nay.
2.1.4.2. Đối thủ cạnh tranh nước ngoài
Hầu hết các sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự cạnh tranh
gay gắt từ các doanh nghiệp Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, các nước Đông
Âu và Mỹ La Tinh. Đối thủ mạnh nhất của Việt Nam nói chung cũng như Công ty
SADACO nói riêng là Trung Quốc, các doanh nghiệp đều có lợi thế giá thành rất rẻ và
quy mô sản xuất lớn. Chỉ tính riêng Trung Quốc đã có trên 50.000 cơ sở sản xuất với hơn
50 triệu nhân công và sản xuất với doanh số gần 20 tỷ USD.
Do vậy, SADACO cần chọn cho mình những chiến lược kinh doanh xuất khẩu
đúng đắn và khác biệt để có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh gay gắt trong nước
và nước ngoài, vươn lên trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong sản
xuất và xuất khẩu đồ gỗ.
2.1.5. Phương thức kinh doanh
Bảng 2.4. Phương thức kinh doanh xuất khẩu gỗ giai đoạn 2011 - 2013
Đơn vị tính: USD
Phương thức
kinh doanh
Năm 2011 Năm 2012
Kim ngạch Tỷ trọng (%) Kim ngạch Tỷ trọng (%)
23
Xuất khẩu 3.757.707,49 100 5.458.997,90 100
Kinh doanh 2.449.315,23 65,18 3.937.645,18 72,13

xuất khẩu
Tỷ trọng
%
Kim ngạch
xuất khẩu
Tỷ trọng
%
Kim ngạch
xuất khẩu
Tỷ trọng
%
L/C 2.150.457,15 62,23 2.137.245,72 44,18 2.320.105,80 41,26
TTR 1.297.618,78 37,55 2.694.908,73 55,7 3.303.407,10 58,74
D/P 7.691,70 0,22 5.947,52 0,12 0,00 0
Tổng
cộng
3.455.767,63 100 4.838.101,97 100 5.623.512,90 100
Theo bảng số liệu, ta thấy rằng các phương thức thanh toán có xu hướng thay đổi.
Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu theo phương thức L/C đạt 2,15 triệu USD, năm 2012,
kinh ngạch xuất khẩu đạt 2,13 triệu USD (chiếm 44,18% tổng kim ngạch), giảm 0,16%
so với năm 2011. Nhưng năm 2013, kim ngạch xuất khẩu theo phương thức này tăng nhẹ
và đạt 2,32 triệu USD (chiếm tỷ trọng 41,26%), tăng 8,56% so với năm 2012 vì trong
năm 2013, Công ty có rất nhiều đơn đặt hàng mới từ các đối tác Ấn Độ, Hàn Quốc nên
việc sử dụng hình thức L/C là cần thiết và tăng thêm. Nhìn chung, phương thức thanh
toán bằng L/C tương đối an toàn vì người bán đảm bảo nhận được tiền qua ngân hàng nếu
bộ chứng từ thanh toán hợp lệ. Theo phương thức này, công ty cần nhắc nhở người mua
mở L/C theo đúng yêu cầu như trong hợp đồng đã kí. Sau khi người mua đã mở L/C,
công ty sẽ kiểm tra nội dung của L/C thật kĩ lưỡng. Nếu như nội dung của L/C đúng với
sự thỏa thuận trong hợp đồng thì SADACO sẽ tiến hành việc giao hàng cho khách hàng.
Ngược lại, nếu nội dung của L/C chưa phù hợp với hợp đồng đã kí thì SADACO sẽ thông

đạt 7,7 nghìn USD, năm 2012 thì kim ngạch xuất khẩu còn 5,9 nghìn USD và đến năm
2013 thì chỉ bằng 0.

Trích đoạn Triển vọng phát triển đối với hoạt động xuất khẩu gỗ của Công ty SADACO 1 Cơ hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status