LIÊN QUAN NỒNG độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE với một số đặc điểm và TRIỆU CHỨNG lâm SÀNG BỆNH NHÂN đợt cấp SUY TIM mạn TÍNH - Pdf 30

Y học thực hành (857) - số 1/2013

136LIÊN QUAN NồNG Độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE VớI MộT Số ĐặC ĐIểM
Và TRIệU CHứNG LÂM SàNG BệNH NHÂN ĐợT CấP SUY TIM MạN TíNH

Lê Đức Quyền - Bệnh viện 175
Trần Quốc Việt - Trung tâm huấn luyện và nghiên cứu Y học quân sự phía Nam
Phạm Ngọc Huy Tuấn - Bệnh viện cấp cứu Trng vơng- Hồ Chí Minh
Lê Việt Thắng - Bệnh viện 103

TóM TắT
Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ peptide lợi
niệu (Brain Natriuretic Peptide-BNP) huyết thanh với
một số đặc điểm bệnh nhân và một số triệu chứng lâm
sàng của 114 bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt cấp suy
tim mạn tính, kết quả cho thấy: số bệnh nhân tăng
BNP huyết thanh là 100%, nồng độ BNP huyết thanh
tơng quan thuận với nồng độ cholesterol máu, r=
0,31, p < 0,05. Có mối liên quan thuận khá chặt giữa
tăng BNP huyết thanh với mức độ nặng của suy tim với
p < 0,001.
Từ khóa: BNP huyết thanh, đợt cấp suy tim mạn
tính, khó thở

SUMMARY

Có nhiều nghiên cứu về BNP ở bệnh nhân suy tim, các
nghiên cứu đều khẳng định bệnh nhân suy tim có nồng
độ BNP tăng cao trong máu. Nghiên cứu về liên quan
nồng độ BNP huyết thanh và các biểu hiện lâm sàng
của bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt cấp của suy tim
mạn tính còn cha nhiều. Chúng tôi đã thực hiện
nghiên cứu này với hai mục tiêu:
1. Khảo sát liên quan nồng độ BNP huyết thanh với
một số đặc điểm bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt cấp
suy tim mạn tính.
2. Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ BNP huyết
thanh và một số triệu chứng lâm sàng bệnh nhân đợc
chẩn đoán đợt cấp suy tim mạn tính.
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1. Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu gồm 114 bệnh nhân đợc
chẩn đoán đợt cấp của suy tim mạn tính đợc khám và
theo dõi điều trị tại Viện Tim mạch- Thành phố Hồ Chí
Minh.
+ Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân đợc chẩn đoán xác định suy tim do
các nguyên nhân khác nhau theo tiêu chuẩn
Framingham.
- Bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt cấp suy tim mạn
tính.
- Bệnh nhân suy tim độ 2, 3, 4 do nhiều nguyên
nhân khác nhau nh: bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh
tim thiếu máu cục bộ, tăng huyết áp
- Các bệnh nhân đợc làm đầy đủ các xét nghiệm
theo mẫu nghiên cứu.

thể có các kiểu thở bất thờng kèm rối loạn tri giác, tím
tái, vã mồ hôi.
- Khó thở kịch phát về đêm xảy ra khi bệnh nhân
đang ngủ và nằm đầu thấp một thời gian.
- Khó thở khi gắng sức xảy ra khi hoạt động gắng
sức.
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn theo
Framingham (1993).
* Tiêu chuẩn chính:
Khó thở kịch phát về đêm
Tĩnh mạch cổ nổi
Ran nổ ở 2 nền phổi
Tim to trên x-quang
Phù phổi cấp
Nhịp ngựa phi
Tăng áp tĩnh nạch trung ơng (> 16cmH
2
O)
Phản hồi gan tĩnh mạch cảnh dơng tính
* Tiêu chuẩn phụ:
Phù ngoại vi
Ho về đêm
Khó thở khi hoạt động thể lực
Gan to
Tràn dịch màng phổi
Dung tích sống giảm 1/3 so với ngời bình thờng
Nhịp tim nhanh (>120 lần/phút)
Chẩn đoán suy tim mạn tính phải có 3 tiêu chuẩn
trở lên: ít nhất 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ,
hoặc 2 tiêu chuẩn chính.

Nam (n = 47) 2416,03 1627,07 GIớI
Nữ (n = 67) 1842,63 1648,21
>0,05
BMI 23 (n = 24)
1893,03 1427,26 BMI
BMI < 23 (n = 90) 2235,04 1824,06
> 0,05
Nhận xét:
+ Nồng độ BNP huyết thanh trung bình nhóm bệnh
nhân nam cao hơn nhóm nữ, tuy nhiên cha thấy sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
+ Nồng độ BNP huyết thanh trung bình nhóm
bệnh nhân có BMI 23 cao hơn nhóm bệnh nhân có
BMI < 23, tuy nhiên cha thấy sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê.
Bảng 2: Khảo sát nồng độ BNP liên quan dến
nghiên rợu và nghiện thuốc lá
Yếu tố n (%) BNP (pg/ml) p
Có 29 (25,43)
2118,16
1731,59 Nghiện
thuốc lá
Không 85 (74,57)
1964,35
1499,85
>0,05
Có 15 (13,15)
2269,53
1692,43
Nghiện rợu

Giảm
78
(68,4)
1059,85
927,48
HDL-C
Không giảm
36
(31,6)
2306,26
1589,50
>0,05

Có tăng 10 (8,8)

2139,14
1678,96
LDL-C
Không tăng
104
(91,2)
1853,96
1313,43
>0,05

Có tăng
23
(20,2)
2265,51
1666,68

4000
5000
6000
7000
0 2 4 6 8

Biểu đồ 1: Tơng quan nồng độ BNP và cholesterol máu. Nhận xét: Có mối tơng quan thuận mức độ vừa
giữa biến đổi nồng độ BNP và Cholesterol máu ở
nhóm bệnh nhân suy tim với hệ số tơng quan r =
0,31, p < 0,05.
2. Liên quan nồng độ BNP huyết thanh với một
số đặc điểm lâm sàng bệnh nhân đợc chẩn đoán
đợt cấp suy tim mạn tính:
Bảng 4: Mối liên quan nồng độ BNP với một số
triệu chứng cơ năng suy tim

Triệu chứng suy tim BNP (pg/ml) pANOVA
Gắng sức nặng
(n = 13)
282,70
151,76
Gắng sức nhẹ
(n = 76)
237,68
1511,42
Kịch phát về đêm
(n= 8)

nghĩa thống kê p< 0,05.
+ Nhóm bệnh nhân suy tim có đau ngực nồng độ
BNP huyết thanh tăng cao hơn nhóm suy tim không có
đau ngực cha có ý nghĩa thống kê.
+ Nhóm bệnh nhân suy tim có ho về đêm có nồng
độ BNP huyết thanh tăng cao hơn nhóm không có ho
về đêm, tuy nhiên cha thấy sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê.
Bảng 5: Sự biến đổi giữa nồng độ BNP theo mức
độ suy tim
Mức độ suy tim Nồng độ BNP trung bình (pg/ml)
Độ II (n = 27) 453,00 313,00
Độ III (n = 74) 2415,03 1489,30
Độ IV (n = 13) 3543,60 1781,15
Tổng (n = 114) 2079,04 1656,73
p (ANOVA) < 0,01
Nhận xét: Nồng độ BNP ở bệnh nhân suy tim mạn
tính tăng dần theo độ suy tim. Nhóm bệnh nhân suy
tim độ IV có nồng độ BNP trung bình cao nhất, cao
hơn nhóm suy tim độ III và độ II có ý nghĩa thống kê
với p < 0,01.
BàN LUậN
1. Liên quan nồng độ BNP với một số đặc điểm
bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính.
Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu này đều có
nồng độ BNP trên mức cho phép, điều này là hợp lý
bởi đối tợng chọn của chúng tôi là những bệnh nhân
có đợt cấp của suy tim mạn tính đã đợc chẩn đoán
xác định. Nồng độ BNP trong nghiên cứu tăng cao
2079,04 1656,73 pg/ml, biến thiên khoảng nồng độ

BNP và chỉ số khối cơ thể: Các nghiên cứu trên thế
giới đều khẳng định tỷ lệ tử vong do mạch máu ở ngời
Cholesterol
(mmol/l)

BNP huyết thanh (pg/ml)

Y học thực hành (857) - số 1/2013
139

béo phì cao hơn nhóm bệnh nhân có BMI bình thờng,
tỷ lệ bệnh nhân có biến cố mạch vành nhóm ngời béo
phì cũng cao nhóm ngời có BMI bình thờng. Thực tế,
bệnh nhân béo phì thờng hay đi kèm với các yếu tố
nguy cơ bệnh mạch vành khác nh ĐTĐ, hút thuốc lá,
uống rợuKết quả một số công trình nghiên cứu của
nớc ngoài cho thấy nồng độ BNP thấp có ý nghĩa ở
ngời quá cân và béo phì. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, nồng độ BNP trung bình nhóm bệnh nhân
có BMI 23 là 1893,03 1427, nhóm bệnh nhân có
BMI < 23 là 2235,04 1824,06 pg/L, tuy nhiên sự
khác biệt này cha có ý nghĩa thống kê. Lý giải cho
điều này chúng tôi cho rằng, với cỡ mẫu trong nghiên
cứu của chúng tôi là 114 bệnh nhân đợt cấp của suy
tim mạn tính. Tỷ lệ nhóm bệnh nhân có BMI 23 là
khoảng 20%, nh vậy nhóm bệnh nhân này ít hơn
nhiều so với nhóm bệnh nhân có BMI < 23, do vậy

trung bình 2988,88 1681,98 pg/ml, nhóm không có
rối loạn chiếm 15,8%, nồng độ BNP trung bình là
1059,85 927,48 pg/ml, nồng độ cholesterol toàn
phần tăng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Chúng tôi
cũng đã tìm thấy mối tơng quan thuận mức độ vừa
giữa tăng cholesterone máu và tăng nồng độ BNP máu
với hệ số tơng quan r = 0,31, p < 0.05 (biểu đồ 1).
Điều cho thấy khi nồng độ cholesterol toàn phần trong
huyết thanh tăng cao thì nồng độ BNP cũng tăng theo.
Khi cholesterol trong máu tăng cao, thì nguy cơ bệnh
động mạch vành cũng tăng theo. Cholesterol sẽ làm
xơ vữa mạch máu, đặc biệt là động mạch, làm cản trở
lu thông của máu, hậu quả tim thiếu dinh dỡng, cuối
cùng có thể dẫn đến suy tim. Nhóm bệnh nhân có rối
loạn HDL-C, LDL-C và triglicerid có nồng độ BNP cao
hơn nhóm không có rối loạn, sự khác biệt này cha có
ý nghĩa thống kê. Chúng tôi cha tìm thấy sự khác biệt
về nồng độ BNP máu ở nhóm bệnh nhân có và không
có rối loạn các thành phần lipid máu còn lại trong
nghiên cứu này. Có thể cỡ mẫu và tỷ lệ bệnh nhân có
rối loạn cha đủ lớn gây ra các rối loạn này.
2. Liên quan giữa BNP và một số đặc điểm lâm
sàng bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính.
Liên quan nồng độ BNP với một số triệu chứng cơ
năng của suy tim: Suy tim là hội chứng lâm sàng phức
tạp do rối loạn chức năng hoặc tổn thơng thực thể cơ
tim dẫn đến suy giảm khả năng nhận máu hoặc bơm
máu của tâm thất. Biểu hiện lâm sàng chính của suy
tim là mệt, khó thở, khi tiến triển có thể dẫn đến phù
phổi, phù chi, triệu chứng này là những chìa khóa

2527,53 1947,83 và 2047,89 1641,04 pg/ml. Nồng
độ BNP ở nhóm bệnh nhân ho về đêm và nhóm không
ho về đêm: 2315,13 1722,16 và 1820,33 1556,08.
Nồng độ BNP ở nhóm bệnh nhân đau ngực và không
đau ngực: 2315,13 1722,16 và 1820,33 1556,08.
Mặc dù nhóm có triệu chứng trên thì nồng độ BNP tăng
hơn nhóm không có triệu chứng nhng tất cả đều
không có ý nghĩa về mặt thống kê, nghĩa là không có
sự khác biệt giữa tăng nồng độ BNP và sự xuất hiện
Y học thực hành (857) - số 1/2013

140

triệu chứng. Điều này có thể giải thích do cỡ mẫu
chúng tôi còn nhỏ, cũng có thể một triệu chứng riêng lẻ
về lâm sàng không đánh giá đầy đủ tình trạng quá tải
của tim đối với các triệu chứng này.
Liên quan nồng độ BNP với mức độ suy tim: Trong
nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ BNP trong huyết
thanh và mức độ nặng của suy tim theo phân độ
NYHA có sự tơng quan với nhau. Nồng độ BNP trung
bình trong huyết thanh bệnh nhân suy tim, NYHA II là:
453,00 313,00 pg/ml, NYHA III là: 2415,03 1489,30
pg/ml và NYHA IV là: 3543,60 1781,15 pg/ml. Bằng
phơng pháp phân tích ANOVA một biến so sánh
trùng của các nhóm cho thấy nồng độ BNP trung bình
giữa các nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0.05.

tơng ở bệnh nhân suy tim do tăng huyết áp ", Tạp chí
Tim mạch học (37) 2004, tr. 31 38.
2. Phạm Thắng, Tạ Mạnh Cờng, Phan Thanh Nhung,
Nghiên cứu nồng độ B-type Natriuretic Peptide huyết
tơng của bệnh nhân suy tim mạn tính. Y học Việt Nam,
số 1, 2010, trang 51-56.
3. DAO Q. et al, "Utility of B-type natriuretic peptide in
the diagnosis ofcongestive heartfailure in an urgent care
setting ", J Am Coll Cardio (37) 2001, pp. 379-385.
4. HORWICH TB et al, B-type natriuretic Peptide
levels in obese patients with advanced heart failure, J
Am Coll Cardiol, 47(1) 2006:85-90.
5. KENNETH D. et al, ESC guidelines for the
diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure
2008, European heart journal, (29) 2008: 2388-2442.
6. MAISEL AS. et al, "B-type natriuretic peptide (BNP)
levels: diagnostic and therapeutic potential", Rev
Cardiovasc Med (Suppl 2) 2002, pp. S13-S 18.
7. WIECZOREK SJ et al, "A rapid B-type natriuretic
peptide assay accurately diagnoses left ventricular
dysfunction and heart failure- A multicenter evaluation",
Am Heart J (144) 2002, pp. 834-839.

KIếN THứC Về BệNH LÂY TRUYềN QUA ĐƯờNG TìNH DụC Và HIV/AIDS
CủA Vị THàNH NIÊN TạI MộT Số Xã CủA HUYệN KIếN XƯƠNG, TỉNH THáI BìNH

Nguyễn Đức Thanh - Đại học Y Thái Bình

Tóm tắt
Điều tra mô tả cắt ngang 300 vị thành niên về kiến

STIs. The rate of adolescents knowing the HIV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status