ĐÁNH GIÁ PHẢN hồi NHANH về DANH mục THUỐC DÀNH CHO TRẺ EM dưới 6 TUỔI được QUỸ bảo HIỂM y tế CHI TRẢ - Pdf 30

Y học thực hành (807) - số 2/2012
21

- Hiện tại Bệnh viện có khả năng thực hiện đợc
404 danh mục kỹ thuật; còn 30 danh mục kỹ thuật
Bệnh viện cha thực hiện đợc.
- Hầu hết các chỉ tiêu chuyên môn đều đạt và vợt
so với kế hoạch giao. Tỷ lệ khám chữa bệnh đạt
110,7%; Tỷ lệ điều trị nội trú đạt 103,4%; Tỷ lệ điều trị
ngoại trú đạt 135%; Công suất sử dụng giờng bệnh
đạt 147,3%; Số lần xét nghiệm đạt 142%; Số lần siêu
âm đạt 149,1%; số lần chụp Xquang đạt 169,3 %; tổng
số lần phẫu thuật đạt 115,5 % kế hoạch. Trong năm
còn có 7 bệnh nhân tử vong trong đó 24 giờ đầu là 5,
sau 24 giờ là 2 tỷ lệ chuyển viện là 5,9%.
- Tỷ lệ sử dụng giờng bệnh luôn đạt trên 100%,
ngày điều trị trung bình 5,51; tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ
dới 10%, không có bệnh nhân chết do các bệnh tiêu
chảy, viêm nhiễm đờng hô hấp cấp, không có bệnh
nhân mắc 5 tai biến sản khoa, không có bệnh nhân
uốn ván và loét do nằm lâu.
TàI LIệU THAM KHảO
1. Ban chấp hành Trung ơng số 06-CT/TW (2002),
Chỉ thị về củng cố kiện toàn màng lới y tế cơ sở.
2. Bộ chính trị (2005) Nghị quyết số 46 NQ/TW Về
công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân
trong tình hình mới, Hà Nội.
3. BYT - Bô Nội vụ (2007) Thông t liên tịch số

31/2011/TT-BYT quy định thực hiện Danh mục thuốc
chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
đợc quỹ BHYT thanh toán.
Mục tiêu: Đánh giá việc triển khai Thông t 31, tìm
hiểu phản hồi nhanh trong quá trình triển khai, đồng
thời đề xuất các kiến nghị cần thiết nhằm sửa đổi, bổ
sung danh mục thuốc.
Phơng pháp:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết
hợp định tính và định lợng tại b
ệnh viện Đa khoa Từ
Sơn Bắc Ninh và Sơn Tây Hà Nội.
Kết quả: Việc triển khai Thông t 31 đợc thực hiện
khá tốt tại 2 bệnh viện. Tuy nhiên, qua hơn 3 tháng
triển khai Thông t cũng bộc lộ một số bất cập nh
danh mục thuốc còn thiểu so với khả năng điều trị của
cơ sở; vẫn còn một số bệnh chủng loại thuốc cha đáp
ứng đợc yêu cầu thậm trí không có trong danh mục;
quy cách đóng gói cha phù hợp.
Kết luận: Ngoài những đóng góp cho việc triển khai
Thông t 31 và đề xuất cụ thể một số loại thuốc cần
thiết đợc bổ sung vào Danh mục, nghiên cứu phản
hồi chính sách BHYT nói riêng và các chính sách y tế
nói chung là việc làm cần thiết góp phần giúp các nhà
hoạch định chính sách nhanh chóng nắm bắt đợc
những khó khăn, thuận lợi trong việc triển khai các
chính sách y tế.
Từ khóa: bảo hiểm y tế, thuốc
Đặt vấn đề
Luật bảo hiểm y tế (BHYT) đợc Quốc hội thông


22
ngày 15/01/2010 về ban hành danh mục thuốc bổ
sung sử dụng cho trẻ em dới 6 tuổi thuộc phạm vi
thanh toán của quỹ BHYT [3]. Mục tiêu hớng đến là
tăng tính chủ động cho các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh, bảo đảm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu
quả, đáp ứng nhu cầu điều trị cho ngời bệnh, bảo
đảm quyền lợi về thuốc cho ngời bệnh tham gia bảo
hiểm y tế, phù hợp với khả năng kinh tế của ngời
bệnh và khả năng chi trả của quỹ BHYT.
Một trong 5 bớc chính của chu trình chính sách
công là theo dõi và đánh giá quá trình triển khai thực
hiện các chính sách đã đợc ban hành. Kết quả của
hoạt động này sẽ là đầu vào của một chu trình chính
sách mới. Thực hiện đánh giá triển khai giúp các nhà
quản lý cập nhật những bất cập trong việc triển khai và
kịp thời sửa đổi, điều chỉnh các chính sách. Chính vì
vậy, việc đánh giá phản hồi chính sách này đợc thí
điểm áp dụng với Thông t 31 nhằm mô tả thực trạng
triển khai thông t và những đánh giá khi thực hiện
chính sách cũng nh đề xuất các kiến nghị cần thiết
nhằm cải thiện việc thực hiện chính sách BHYT cho trẻ
dới 6 tuổi.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá phản
hồi chính sách liên quan đến việc triển khai thực hiện
Thông t 31 ban hành Danh mục thuốc bổ sung sử
dụng cho trẻ em dới 6 tuổi thuộc phạm vị thanh toán
của quỹ Bảo hiểm y tế. Cụ thể hơn, nghiên cứu sẽ

bệnh viện sau khi nhận thuốc bảo hiểm y tế sẽ đợc
mời tham gia nghiên cứu.
Toàn bộ các băng ghi âm phỏng vấn sâu đợc
chuyển thành dạng biên bản phỏng vấn. Các số liệu
định tính đợc xử lý theo phơng pháp mã hóa theo
chủ đề và phân tích theo nội dung. Những đoạn phỏng
vấn có giá trị đợc trích dẫn trong báo cáo. Số liệu điều
tra sẽ đợc kiểm tra, nhập vào máy tính và đợc xử lý
bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2007 cho các
thông tin mô tả và phân tích thống kê.
Kết quả
Đặc điểm nhóm đối tợng tham gia nghiên cứu
Khảo sát thực hiện nghiên cứu định tính với 20
phỏng vấn sâu. Trong đó, lãnh đạo bệnh viện chiếm
15%, cán bộ y tế trực thuộc khoa Nhi chiến 40%, cán
bộ y tế trực thuộc khoa Dợc chiếm 10%, khoa Khám
bệnh chiếm 10% và giám hộ trẻ 25% (xem Biểu 1).

Biểu 1: Phân bổ các đối tợng tham gia nghiên cứu định tính
Bảng 1 cung cấp các đặc điểm của nhóm đối tợng
tham gia vào điều tra khảo sát. Cụ thể có 40 đối tợng
với độ tuổi trung bình là 29.1, trong đó ngời nhiều tuổi
nhất là 50 tuổi và ngời ít tuổi nhất là 20 tuổi. Phần lớn
độ tuổi tập trung vào nhóm 20 29 tuổi với 26 trờng
hợp (65%), và ít nhất là độ tuổi trên 30 tuổi với duy
nhất 1 trờng hợp là 50 tuổi (3%), còn lại 13 trờng
hợp thuộc nhóm tuổi 30 39 tuổi (32%). Trong số đối
tợng tham gia nghiên cứu, chỉ có duy nhất 1 trờng
hợp nam giới tham gia trả lời bảng hỏi (3%), và 39
trờng hợp là nữ giới (97%). Về dân tộc, chỉ có duy

23

30 39 tuổi 13 32.5
>= 40 tuổi 1 2.5
Nữ 39 97.5
Giới
Nam 1 2.5
Kinh 39 97.5
Khác 1 2.5
Cấp 1 1 2.5
Cấp 2 16 40.0
Cấp 3 9 22.5
Trung cấp, nghề 6 15.0
Dân tộc
Cao đẳng, Đại học 8 20.0
Nông dân 8 20.0
Công nhân 15 37.5
Buôn bán 5 12.5
Nghề thủ công 6 15.0
Lao động tự do 3 7.5
Nghề nghiệp
Nội trợ 3 7.5
Cha 1 2.5
Mẹ 38 95.0
Mối quan hệ với trẻ

Bà 1 2.5
Giàu 1 2.5
Trung bình 37 92.5
Mức sống của gia

tiếp đến là nhóm 13 24 tháng tuổi với 10 trẻ (25%),
nhóm 25 36 tháng tuổi với 6 trẻ (15%), nhóm 49 60
tháng tuổi với 3 trẻ (7%), nhóm 37 48 tháng tuổi với 2
trẻ (5%), và ít nhất là nhóm 61 72 tháng tuổi với duy
nhất 1 trẻ (3%). Khi đánh giá mức kinh tế của hộ gia
đình, chỉ có 1 đối tợng (2.5%) xác nhận kinh tế của
gia đình mình thuộc loại khá giả, và 2 đối tợng (5%)
trả lời kinh tế của gia đình mình ở mức nghèo, 37 đối
tợng còn lại (93.5%) đều lựa chọn phơng án trung
bình khi đợc hỏi về mức kinh tế của hộ gia đình theo
tiêu chuẩn của UBND xã. Qua quá trình mô tả, có thể
nhận thấy sự đa dạng trong thành phần đối tợng tham
gia khảo sát. Điều này đảm bảo chất lợng thông tin
cũng nh sự phong phú của thông tin thu thập đợc có
giá trị sử dụng.
Thực trạng việc sử dụng Bảo hiểm y tế trong khám
và điều trị cho trẻ dới 6 tuổi
Với ý nghĩa đảm bảo quyền lợi cho tất cả trẻ em
đợc tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lợng và thuận
lợi, chính sách BHYT miễn phí cho trẻ em dới 6 tuổi
đợc đánh giá là một trong những chính sách cần thiết,
có tác động tích cực và ảnh hởng rộng đến cộng đồng
dân c. Theo đó, chỉ cần thẻ BHYT của trẻ hoặc bất kỳ
giấy tờ nào của trẻ nh giấy khai sinh, giấy chứng
sinh,trẻ em dới 6 tuổi đều có thể đợc khám và
điều trị tại các cơ sở y tế. Việc truyền thông rộng rãi
thông tin về chính sách BHYT dành cho trẻ em dới 6
tuổi có tác dụng tích cực trong việc giúp cha mẹ của trẻ
hiểu rõ hơn về quyền lợi mà con mình đợc hởng,
cũng nh các thủ tục cần thiết. Bên cạnh đó, chính

khảo sát cũng cho thấy đối tợng hởng lợi ở đây là trẻ
em còn cha đợc hởng hoàn toàn các dịch vụ y tế.
Thực tế trớc đây việc thanh toán theo sử dụng đợc
chi trả hoàn toàn, nhng kể từ khi chuyển sang BHYT
thì việc chi trả gặp khó khăn hơn do một số khoản mục
về vật t y tế không đợc duyệt chi trả nh dây chuyền
máu, kim lấy thuốc, oxy, bông băng, gạc sạch, cồn y
tế, mặc dù đây là những vật t y tế cần thiết phục vụ
cho ngời bệnh nhng lại bị đặt ngoài danh mục.
Đánh giá việc triển khai Thông t 31
Khảo sát tại các đơn vị cho thấy sau khi bệnh viện
nhận đợc công văn từ Sở Y tế, Thông t đã đợc sao
Y học thực hành (807) - số 2/2012

24
lu bằng văn bản cũng nh làm thành bảng treo tởng
và chuyển về các khoa để cán bộ y tế, bệnh nhân và
ngời nhà bệnh nhân theo dõi. Điều này giúp cho các
cán bộ y tế, đặc biệt là các bác sỹ khám bệnh kê đơn
cho bệnh nhi cũng nh các cán bộ y tế trực tiếp chăm
sóc nắm đợc chi tiết cụ thể để cân đối trong hoạt
động khám chữa bệnh. Bên cạnh đó, bệnh viện cũng
nhanh chóng tổ chức thảo luận với các cán bộ y tế liên
quan trực tiếp đến thông t để quán triệt nội dung và
lên kế hoạch triển khai chi tiết và cụ thể.
Kết quả của các thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu
các cán bộ y tế và giám hộ của đối tợng thụ hởng

tự ý cho sử dụng thuốc ban đầu để điều trị thì cần
những thuốc khác có khả năng đáp ứng nhu cầu của
ngời bệnh cao hơn, tuy nhiên những loại thuốc đấy
thờng nằm ngoài phân tuyến cơ sở nên cha mẹ các
cháu phải tự chi trả và chi phí sẽ đắt. Nếu cho thuốc ở
dạng tơng tự nh các loại đã sử dụng thì rất dễ gây ra
hiểu nhầm giữa cha mẹ của trẻ đối với cán bộ y tế,
khiến gia đình chuyển trẻ lên tuyến trên.
.cái thứ nhất là ở vùng này kinh tế ngời ta khá,
tiền ngời ta nhiều, Từ Sơn là nh thế rồi, cho nên là
các cháu nhi đến đây điều trị BHYT, nếu mà vào hơi ấy
một tí là ngời ta chuẩn bị ngời ta đi. Vì cái bệnh nhi ở
vùng này đặc điểm lại nh thế này, nếu con ngời ta
có làm sao, ngời ta thuê hẳn một chuyến taxi ra ngoài
Hà Nội, cái thuốc các bác sỹ kê đơn ngoài đấy toàn
thuốc mới, mà thuốc tốt. Tôi cha nói đến thuốc nội với
thuốc ngoại, nhng thuốc các bác sỹ kê ngoài đấy (Hà
Nội) toàn thuốc rất là chất lợng mà đắt tiền. Thế mà
ngời ta dùng thì rất là tốt. Nếu mà về đấy, nói đúng ra
thì thuốc còn nghèo
Phỏng vấn sâu cán bộ y tế-Từ Sơn-Bắc Ninh
Về danh mục thuốc, nh đã kể trên cơ bản danh
mục thuốc đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh. Tuy
nhiên, vẫn còn một số bệnh chủng loại thuốc cha đáp
ứng đợc yêu cầu thậm trí không có trong danh mục.
Do vậy, nhiều bệnh nhân đã vợt tuyến lên các bệnh
viện tuyến cao hơn. Một số cán bộ y tế cũng đánh giá
thuốc của BHYT nói chung và của trẻ nói riêng bị hạn
chế nhiều. Tác dụng của thuốc chậm, chất lợng cha
đảm bảo theo đúng phác đồ, chủng loại và số lợng

long đờm giảm ho.
Phỏng vấn sâu cán bộ y tế- Từ Sơn, Bắc Ninh
Với việc ngời dân thờng xuyên sử dụng thuốc
kháng sinh mạnh, nên các loại kháng sinh trong danh
mục thuốc BHYT đã bị kháng nhiều, vì vậy những
ngời giám hộ đợc phỏng vấn muốn tăng cờng sử
dụng các loại tiêm và hạn chế các loại uống, do tiêm đi
thẳng vào tĩnh mạch nên hiệu quả thuốc sẽ cao hơn.
Một lý do khác là vì các thuốc uống thờng là các loại
thuốc có vị đắng nên gia đình cũng không muốn cho
trẻ uống, mà muốn tiêm cho nhanh. Sự hạn chế của
Y học thực hành (807) - số 2/2012
25

các dạng thuốc cũng dẫn tới việc bệnh nhân đã thực
hiện chuyển tuyến nhiều lần điều trị trớc đó, nhng
khi mắc bệnh vào bệnh viện tại địa phơng thì không
chấp nhận sử dụng thuốc đợc kê theo danh mục
BHYT. Nhiều gia đình ngời bệnh cho rằng thuốc
BHYT không tốt bởi bệnh viện không đáp ứng đợc
hoàn toàn nhu cầu thuốc của bệnh nhân, chỉ đến để
thực hiện các xét nghiệm rồi điều trị ngoài, đến các cơ
sở y tế t nhân hoặc chuyển tuyến trên.
Một điểm nữa là về quy cách đóng gói, danh mục
thuốc đợc quy định còn bộc lộ một số điểm yếu nh
hạn chế một số loại cần thiết nh lọ xịt muối biển dùng
cho trẻ, thuốc xông hô hấp dạng xịt, các loại thuốc về

phí hạn hẹp, cỡ mẫu điều tra chỉ giới hạn trong phạm vi
2 huyện. Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá phản hồi
chính sách về danh mục thuốc đợc BHYT thanh toán
đã đa ra những đóng góp nhất định, đáng để các nhà
hoạch định chính sách cân nhắc trong việc sửa đổi, bổ
sung danh mục thuốc thuộc pham vi thanh toán của
BHYT đối với nhóm đối tợng trẻ em dới 6 tuổi cho dù
Thông t này mới chỉ có hiệu lực từ ngày 25/8/2011.
Quá trình điều tra khảo sát đã thu thập đợc một số
kiến nghị của cán bộ y tế đề nghị sửa đổi, bổ sung
thêm danh mục thuốc đã đợc phê duyệt tại Thông t
số 31 của Bộ Y tế nh:
Một số loại hỗn hợp vitamin;
Kháng sinh dạng xiro hay augmentin dạng bột pha
nớc để uống;
Thuốc bổ tăng cờng ăn uống và dinh dỡng;
Thuốc giảm ho, long đờm dạng xiro, lọ nớc muối
biển dạng khí dung;
Men tiêu hóa, viên kẽm, thuốc thụt tháo, chống
nôn, thuốc da liễu, thuốc mắt.
Cuối cùng, ngoài những đóng góp chung cho việc
triển khai Thông t 31 và đề xuất cụ thể một số loại
thuốc cần thiết đợc bổ sung vào Danh mục, nghiên
cứu cũng cho việc thu thập thông tin liên quan tới phản
hổi chính sách BHYT nói riêng và các chính sách y tế
nói chung là việc làm cần thiết góp phần giúp các nhà
hoạch định chính sách nhanh chóng nắm bắt đợc
những khó khăn, thuận lợi trong việc triển khai các
chính sách y tế. Từ đó có thể kịp thời đa ra những
điều chỉnh, bổ sung nhằm nhanh chóng hoàn thiện các

thị trấn có Bộ phận khám, chữa bệnh bằng YHCT do
một thầy thuốc YHCT (y sỹ YHCT hoặc lơng y) trong
biên chế của trạm phụ trách.
Sau gần 10 năm thực hiện Quyết định của Thủ
tớng Chính phủ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
Đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức và hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status