Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên, hàng đầu của tất
cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai
đoạn của các quốc gia. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đối với các nước
đang phát triển trong đó có Việt Nam; đặc biệt là trong quá trình xây dựng
phát triển đất nước và theo đuổi mục tiêu tiến kịp hội nhập với các nước khác
trên thế giới. Để làm được điều đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu kinh tế
học. Có ba lý do khiến chúng ta phải làm điều đó. Lý do thứ nhất nghiên cứu
kinh tế học giúp chúng ta hiểu được thế giới mà chúng ta đang sống. Lý do
thứ hai là nó giúp cho chúng ta trở nên khôn khéo hơn trong nền kinh tế. Và
lý do cuối cùng để nghiên cứu kinh tế học là nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn khả
năng và những giới hạn của một chính sách kinh tế. Việc nghiên cứu kinh tế
học tự nó không làm cho chúng ta trở lên giàu có nhưng nó cung cấp cho
chúng ta một số công cụ giúp chúng ta đạt tới mục tiêu đó. Ngày nay, một
trong những phương pháp nghiên cứu kinh tế học hiệu quả và được ứng dụng
rộng rãi là phương pháp mô hình hóa toán kinh tế và cụ thể là mô hình tăng
trưởng Harrod – Domar và mô hình tăng trưởng Solow – Swan.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I. GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ HỌC
1. Kinh tế học và nền kinh tế.
Nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự phát triển vô cùng mạnh mẽ trong
suốt thế kỉ qua. Giá trị của cải và sự phong phú của hàng hoá và dịch vụ đã
tăng lên rất nhiều. Có rất nhiều quốc gia trở lên rất giàu có. Tuy nhiên còn
nhiều quốc gia khác lại rất nghèo. Nhưng một thực tế kinh tế luôn tồn tại ở
mọi nơi và mọi lúc đó là sự khan hiếm. Sự khan hiếm là việc xã hội với các
nguồn lực hữu hạn không thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu vô hạn và ngày
càng tăng của con người. Kinh tế học giúp chúng ta hiểu về cách giải quyết
vấn đề khan hiếm đó trong các cơ chế kinh tế khác nhau.
Kinh tế học là môn khoa học giúp cho con người hiểu về cách thức vận
vấn đề nghiên cứu đã xác định. Mô hình kinh tế là một cách thức mô tả thực
tế đã được đơn giản hoá để hiểu và dự đoán được mối quan hệ của các biến
số. Mô hình kinh tế có thể được mô tả bằng lời, bảng số liệu, đồ thị hay các
phương trình toán học.
c. Kiểm chứng giả thuyết kinh tế.
Mô hình kinh tế chỉ có ích khi và chỉ khi nó đưa ra được những dự đoán
đúng. Ở bước này, các nhà kinh tế học sẽ tập hợp các số liệu để kiểm chứng
lại giả thuyết. Nếu kết quả thực nghiệm phù hợp với giả thuyết thì giả thuyết
được công nhận còn nếu ngược lại giả thuyết sẽ bị bác bỏ.
2.2. Phương pháp so sánh tĩnh.
Giả định các yếu tố khác không thay đổi
Các giả thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa các biến luôn phải đi kèm
với giả định Ceteris Paribus trong mô hình. Ceteris Paribus là một trong
thuật ngữ latinh được sử dụng thường xuyên trong kinh tế học có nghĩa là các
yếu tố khác không thay đổi. Ví dụ về xăng dầu, giả định quan trọng của mô
hình là thu nhập của người tiêu dùng, giá cả các hàng hoá khác và một vài
biến số khác không thay đổi. Giả định này cho phép chúng ta tập trung vào
mối quan hệ giữa hai biến số chính yếu: giá xăng dầu và lượng tiêu thụ xăng
dầu trong từng tháng.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đối với các môn khoa học trong phòng thí nghiệm, việc thực hiện các thí
nghiệm mà chỉ những biến số quan tâm được thay đổi còn các yếu tố khác
được giữ nguyên có vẻ dễ dàng. Tuy nhiên, đối với kinh tế học phòng thí
nghiệm là thế giới thực, là cuộc sống nên nhìn chung các nhà kinh tế học khó
có thể thực hiện được những thực nghiệm hoàn hảo như trong phòng thí
nghiệm, các biến số kinh tế mà các nhà kinh tế học quan tâm như tỷ lệ thất
nghiệp, chỉ số giá cả, sản lượng, v.v... luôn thay đổi và chịu tác động của rất
nhiều nhân tố cùng một lúc. Vì thế muốn kiểm tra giả thuyết về mối quan hệ
giữa các biến số kinh tế, các nhà kinh tế thường phải sử dụng các kỹ thuật
động thì làm việc trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, và đưa ra các
hành vi kinh tế của mình như là chọn hàng hoá nào để mua sắm sử dụng dịch
vụ nào. Bởi vậy chúng ta không thể mô tả các đặc điểm của một thị trường
thực thụ một cách chi tiết nên các nhà kinh tế đã chọn cách trừu tượng hoá sự
phức tạp của thực tại và phát triển một mô hình đơn giản hơn nắm bắt được
những yếu tố cơ bản.
Việc sử dụng mô hình là rất phổ biến ngay cả trong khoa học xã hội và
khoa học tự nhiên. Trong đời sống các kỹ sư điện có thể nhìn vào sơ đồ mạng
lưới điện để tìm ra được những nơi có vấn đề, kiến trúc sư sử dụng sa bàn để
quy hoạch nhà cửa. Trong khoa học vật lý, hoá học thường sử dụng các phép
trừu tượng hoá để đơn giản các hiện tượng của thế giới thực tại phục vụ cho
việc nghiên cứu dễ dàng hơn. Cũng như vậy các nhà kinh tế đã phát triển các
mô hình như là công cụ hỗ trợ nghiên cứu các vấn đề kinh tế. Thí dụ: để hiểu
được cơ chế hoạt động của nền kinh tế, chúng ta sẽ trừu tượng hoá thực tế và
xây dựng một mô hình đơn giản hoá về nền kinh tế. Nền kinh tế bao gồm các
bộ phận hợp thành và sự tương tác giữa chúng với nhau. Các bộ phận hợp
thành nền kinh tế là người ra quyết định bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp
và chính phủ. Các thành viên này tương tác với nhau theo các cơ chế phối hợp
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khác nhau.
Mô hình nền kinh tế - mô hình dòng luân chuyển
Trong mô hình này, các thành viên kinh tế tương tác với nhau trên hai
thị trường đó là thị trường sản phẩm và thị trường yếu tố sản xuất. Tham gia
vào thị trường sản phẩm, các hộ gia đình chi tiêu thu nhập của mình để đổi
lấy hàng hoá hoặc dịch vụ cần thiết do các doanh nghiệp sản xuất. Tham gia
vào thị trường yếu tố sản xuất, các hộ gia đình cung cấp các nguồn lực như
lao động, đất đai và vốn cho các doanh nghiệp để đổi lấy thu nhập mà các
doanh nghiệp trả cho việc sử dụng các nguồn lực đó. Còn các doanh nghiệp
tham gia vào hai thị trường đó để mua hoặc thuê các yếu tố sản xuất cần thiết
các nhà nghiên cứu khoa học là loại bỏ những mô hình không thích hợp ra
khỏi các mô hình thích hợp. Hai phương pháp thường được sử dụng để kiểm
tra mô hình kinh tế:
- Phương pháp trực tiếp, tìm kiếm thiết lập sự xác đáng của các giả
định mà các mô hình dự vào.
- Phương pháp gián tiếp, tìm cách xác nhận sự xác đáng bằng cách chỉ
ra rằng một mô hình được đơn giản hoá đã dự đoán chính xác được những sự
kiện trên thực tế.
3.3. Đặc điểm chung của các mô hình kinh tế.
Hiện nay, số lượng các mô hình kinh tế được sử dụng rất lớn. Trong
các mô hình các giả định được đưa ra ở mức độ phụ thuộc vào vấn đề đang
được giải quyết. VD: mô hình tổng cung – tổng cầu sẽ rất phức tạp và lớn hơn
nhiều so với mô hình cung - cầu một loại hàng hoá cụ thể nào đó. Tuy nhiên,
trên thực tế mô hình kinh tế là sự kết hợp của ba yếu tố chung.
- Giả thiết Ceteris paribus ( các yếu tố khác không đổi ).
- Giả định rằng mọi quyết định kinh tế đều nhằm tối ưu hoá gì đó.
- Phân biệt rõ ràng giữa những vấn đề thực chứng và chuẩn tắc.
3.3.1. Giả thiết Ceteris paribus.
Những mô hình sử dụng trong kinh tế học nhằm mô tả một cách tương
đối những mối quan hệ giản đơn. Mô hình thị trường gạo nhằm giải thích giá
gạo đối với một số biến tiền công của nông dân, lượng mưa trong vụ gieo
trồng, thu nhập của người tiêu dùng, dù chúng ta đều biết còn rất nhiều tác
nhân bên ngoài như sâu bệnh, biến động giá phân bón ... ảnh hưỏng đến giá
gạo nhưng những nhân tố này được giữ không đổi khi ta xây dựng mô hình.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Điều quan trọng ở đây là chúng ta không giả định các yếu tố khác không ảnh
hưởng đến giá gạo mà các yếu tố đó được giả định là không đổi trong giai
đoạn nghiên cứu phân tích. Theo cách này, tác động của chỉ một vài nhân tố
có thể nghiên cứu được trong một dạng đơn giản hóa. Những giả định Ceteris
Yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn. Trong
ba yếu tố trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, là giới hạn của sự tăng
trưởng.
Phân chia xã hội thành 3 nhóm người: địa chủ, tư bản và công nhân. Sự
pâhn phối thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền sở hữu của họ đối
với các yếu tố sản xuất. Địa chủ có đất thì nhận địa tô, tư bản có vốn thì nhận
lợi nhuận, công nhân có sức lao0 động thì nhận tiền công. Cách phân phôis
này đuợc họ cho là hợp lý. Vậy, thu nhập xã hội=địa tô+lợi nhuận+tiền công
Trong 3 nhóm người này, thì nhà tư bản giữ vai trò quan trọng trong cả
sản xuất, tích luỹ và phân phối. Họ đứng ra tổ chức sản xuất, giành lại một
phần lợi nhuận để tích luỹ và chủ động trong quá trình phân phối.
Các nhà kinh tế học cổ điển còn cho rằng, hoạt động của các chủ thể
kinh tế bị chi phối bởi bàn tay vô hình-cơ chế thị trường, phủ nhận vai trò của
nhà nước, cho rằng đây là cản trở cho phát triển kinh tế.
Mô hình của Các-Mác
Theo Mác, các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao
động, vốn, tiến bộ kĩ thuật
Mác đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong quá trình tạo ra giá
trị thặng dư. Theo Mác, sức lao động đối với nhà tư bản là một loại hàng hoá
đặc biệt. Trong quá trình nhà tư bản sử dụng lao động, hàng hoá sức lao động
tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động
dành cho bản thân người lao động, cộng với giá trị thặng dư dành cho tư bản
và địa chủ.
Về yếu tố vốn và tiến bộ kĩ thuật, Mác cho rằng mục đích của các nhà tư
bản là tăng giá trị thặng dư, tuy nhiên, việc tăng sức lao động cơ bắp cảu
người công nhân cần dựa vào cải tiến kĩ thuật. Tiến bộ kĩ thuật làm tăng số
9