phình động mạch chủ dưới động mạch thận- xác suất , đặc điểm dịch tể học, chỉ định điều trị, phương pháp phẫu thuật, kết quả điều trị đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố - Pdf 25


Sở Khoa Học & Công Nghệ TP HCM Sở Y tế TP HCM
Hội đồng KHKT BV Bình Dân
PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG
DƯỚI ĐỘNG MẠCH THẬN: TẦN SUẤT,
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC,

CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ,
PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT,
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP THÀNH PHỐ
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội Đồng Nghiệm thu)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS VĂN TẦN
- TP HỒ CHÍ MINH 2007 -

Sở Khoa Học & Công Nghệ TP HCM Sở Y tế TP HCM
Hội đồng KHKT BV Bình Dân

PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG
DƯỚI ĐỘNG MẠCH THẬN: TẦN SUẤT,
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC,
CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ,
PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT,
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

1.

Phan Thanh Hải BS BS hình ảnh học TT CĐ Medic
2.

Hồ Nam Th S BS Ngoại LN-MM BV Bình Dân
3.

Trần Công Quyền CK I BS Ngoại LN-MM BV Bình Dân
4.

Nguyễn Đăng Phấn

Th S BS Ngoại TQ BV Bình Dân
5.

Hoàng Danh Tấn CK II BS Ngoại LN-MM BV Bình Dân
6.

Hồ Huỳnh Long CK I BS Ngoại LN-MM BV Bình Dân
7.

Nguyễn Ngọc Bình

Th S BS Ngoại LN-MM BV Bình Dân
8.

Hồ Khánh Đức BS BS Ngoại LN-MM BV Bình Dân
9.


Phình ĐMC bụng là nhóm bệnh mạch máu ngày càng gặp nhiều tại bệnh viện
chúng tôi. Mỗi năm có khoảng 100 bệnh nhân đến điều trị, đa số phải nhập viện
cấp cứu vì đau bụng, có khi truỵ tim mạch do vỡ túi phình. Mổ cấp cứu những
trường hợp túi phình vỡ tốn kém rất nhiều mà kết quả thì chưa tốt do sốc mất
máu và suy đa tạng, trái lại mổ kế hoạch những trường hợp túi phình chưa vỡ thì
tốn kém ít và kết quả rất tốt.
Nghiên cứu này có mục đích khuyến cáo bệnh nhân bị phình ĐMC bụng phải
được định bệnh sớm, được làm bệnh án, làm xét nghiệm, chụp hình, được theo
dõi, điều trị bệnh nền, được chỉ định điều trị thích hợp và được mổ đúng lúc
nhằm giảm tỉ lệ vỡ túi phình, là một biến chứng đe doạ tính mạng. Muốn đạt
mục đích trên, chúng tôi thấy cần nghiên cứu: (1). xác định tần suất phình ĐMC
bụng ở người > 50 tuổi tại TP Hồ Chí Minh để các nhà quản lý y tế có cơ sở lên
kế hoạch mua sắm trang thiết bị và yêu cầu đào tạo cán bộ, (2). biết những đặc
điểm dịch tễ học bệnh phình ĐMC bụng để các bác sĩ tim - mạch nghiên cứu
nguyên nhân, diễn tiến bệnh, cách phòng ngừa, tìm các chỉ định điều trị thích
hợp và tìm phương pháp điều trị nội khoa, ngoại khoa hợp lý và hiệu quả nhất.
Nhóm nghiên cứu đã mang trang thiết bị hiện đại đi điều tra cơ bản tìm các
trường hợp phình ĐMC bụng ở các quận huyện TPHCM trong suốt 10 tháng
năm 2006. Nhóm bác sĩ phẫu thuật đã làm kỹ bệnh án các bệnh nhân phình
ĐMC bụng, nghiên cứu xây dựng chỉ định điều trị thích hợp, tích cực điều trị
các bệnh nền để bệnh nhân được mổ sớm, thực hiện cuộc mổ tỉ mĩ, cẩn thận khi
phẫu thuật cấp cứu cũng như kế hoạch để không sai sót. Nhóm cũng luôn nghiên
cứu cải tiến các công đoạn phẫu thuật sao cho phù hợp với người Việt Nam,
nghiên cứu ứng dụng các phương pháp phẫu thuật mới đã thực hiện trên thế
giới, sau mổ ngày đêm luôn theo dõi sát bệnh nhân để phát hiện và điều trị biến
chứng kịp thời.
Sau 2 năm miệt mài làm việc, nhóm nghiên cứu đã tìm ra được những lời giải,
đáp ứng được hầu hết các mục tiêu đề ra trong nghiên cứu.
Được như vậy, một mặt là nhờ Sở KHCN & MT thành phố tận tình giúp đỡ,
cung cấp kinh phí nghiên cứu, kế đến là nhờ sự hợp tác tích cực của TT MEDIC

HA: huyết áp
MOF: suy đa tạng.
MRI: cộng hưởng từ
NC: nghiên cứu
NKQ: nội khí quản
PT: phẫu thuật
SA: siêu âm
SSĐB: săn sóc đặc biệt
TB: trung bình
TH: trường hợp
TL: thắt lưng
TMCT: thiếu máu cơ tim
TV: tử vong

MỤC LỤC
Đề mục Trang

Đặt vấn đề - Mục tiêu nghiên cứu
1
Chương 1: TỒNG QUAN
2
Xuất độ và dịch tễ học 2
Diễn tiến tự nhiên 2
Nguy cơ vỡ 3
Chỉ định điều trị 5
Lâm sàng và định bệnh 6
Tầm soát các bệnh nền trước mổ 10

75
Tài liệu tham khảo
79
Phụ lục 1: Mẫu bệnh án nghiên cứu 83
Phụ lục 2: Danh sách 60 BN phẫu thuật 87
Phụ lục 3: Danh sách 81 BN điều trị nội và theo dõi 92
Phụ lục 4: Tần suất, yếu tố nguy cơ phình ĐMC bụng dưới ĐM thận 96
Phụ lục 5: Đặc điểm dịch tễ học phình ĐMC bụng dưới ĐM thận 110
Phụ lục 6: Bảng chỉ định điều trị phình ĐMC bụng dưới ĐM thận 121
Phụ lục 7: Kết quả điều trị nội khoa phình ĐMC bụng dưới ĐM thận 122
Phụ lục 8: Đĩa CD PT điều trị phình ĐMC bụng dưới ĐM thận 132
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1: Nguy cơ vỡ phình ĐMC bụng dưới ĐM thận / ĐK túi phình 4
Bảng 2: Một số yếu tố có liên quan đến cuộc mổ 10
Bảng 3: TV do mổ kế hoạch phình ĐMC bụng dưới ĐM thận 16
Bảng 4: Nguyên nhân TV 28
Bảng 5: TV sau mổ kế hoạch phình ĐMC 29
Bảng 6: Tỷ lệ sống 5 năm sau PT 29
Bảng 7: Các nguyên nhân gây TV muộn 30
Bảng 8: Phân bố theo giới 40
Bảng 9: Phân bố theo tuổi 41
Bảng 10: Phân bố theo nơi cư trú 41
Bảng 11: Phân bố theo nghề nghiệp 41
Bảng 12: Tiền căn 42
Bảng 13: Lý do nhập viện 42
Bảng 14: Tính chất khối u ở bụng 43

Bảng 44: BC – TV chu phẫu của nhóm ARCHIV, Pháp, 1989 71
Bảng 45: Tỷ lệ TV sau mổ 72
Bảng 46: Tỷ lệ TV sau mổ cấp cứu, kế hoạch 72
Bảng 47: Tỷ lệ sống 5 năm sau mổ 73
Bảng 48: Nguyên nhân TV muộn 74 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 1: Diễn tiến bệnh lý-lâm sàng của phình ĐMC 5

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Hình 1: Phình ĐMC hình thoi 4

Hình 2: Phình ĐMC lớn 4

Hình 3: Phình ĐMC vỡ (cắt ngang) 4

Hình 4: Phình ĐMC vỡ (cắt dọc) 4

Hình 5: Đường kính ngang túi phình ≈ thân đốt sống TL3 6

Hình 6: ĐK ngang túi phình > thân đốt sống TL3 6


Hình 22: Xẻ phúc mạc trước túi phình 18

Hình 23: Xẻ dọc mặt trước túi phình 18

Hình 24: Khâu cầm máu ĐM lưng 18

Hình 25: Kẹp tạm ĐM mạc treo tràng dưới 19

Hình 26: Mũi khâu liên tục ở đầu trên 19

Hình 27: Mũi khâu liên tục ở đầu trên 20

Hình 28: Kiểm tra cầm máu 20Hình 29: Stent-graft nội mạch 21

Hình 30: Các loại rò bên trong lòng túi phình 21

Hình 31: Túi phình vỡ sau phúc mạc 22

Hình 32: Ép ĐMC vào cột sống để cầm máu 22

Hình 33: Cầm máu tạm bằng Foley 23

Hình 34: Cầm máu tạm bằng bóng 23

Hình 35: Tránh tổn thương thần kinh 27


mạch, bệnh phổi, bệnh thận, tiểu đường nặng, ung thư các tạng và các bệnh mãn
tính khác
[1][10]
ở người cao tuổi.
Ở Việt Nam, chưa có một điều tra cơ bản đúng phương pháp bệnh phình ĐMC
bụng dưới ĐM thận để biết tần suất bệnh trong cộng đồng. Một nghiên cúu về
dịch tễ học và về những đặc điểm của bệnh hầu có thể phát hiện bệnh sớm, từ
đó, tìm ra các yếu tố thuận lợi làm cho bệnh hình thành, phát triển và vỡ để
phòng ngừa. Ở Việt Nam cũng chưa có 1 chỉ định điều trị thống nhất được các
nhà chuyên khoa tim mạch công nhận và chưa có 1 phương pháp điều trị thích
hợp với những đặc thù người bệnh cũng như chưa có một kết quả điều trị đáng
tin cậy được công bố, vì vậy chúng tôi thấy cần phải nghiên cứu các vấn đề sau:
Mục tiêu nghiên cứu
1- Xác định tần suất phình ĐMC bụng dưới ĐM thận dựa vào ĐK ngang
trung bình ĐMC bụng ngay dưới ĐM thận ở người trên 50 tuổi tại thành
phố Hồ Chí Minh.
2- Khảo sát đặc điểm dịch tễ học (lâm sàng và cận lâm sàng) của BN bị
phình ĐMC bụng dưới ĐM thận.
3- Xác lập các chỉ định điều trị (ngoại và nội khoa) thích hợp cho từng nhóm
đối tượng.
4- Đánh giá kết quả điều trị (phẫu thuật và nội khoa) 2

Chương 1: TỔNG QUAN
Trên thế giới, phình ĐMC bụng ở dưới ĐM thận là phình ĐMC thường gặp nhất
[3][7][8][9][37]
. Ở nước ta cũng vậy
[1]

bình và nhỏ. Vì thế khi phát hiện phình ĐMC bụng, có thể có nhiều tổn thương
ở các ĐM khác, chưa hoặc đã gây ra triệu chứng như ĐM vành là từ 33 đến
68%, ĐM các chi dưới là 25%, ĐM cảnh là 20%, ĐM thận là 15%
[9]
. Các yếu tố
thúc đẩy túi phình ĐMC bụng phát triển nhanh và vỡ là cao HA, hút nhiều thuốc
lá và bệnh phổi tắc nghẽn. Điều này được chứng minh trong các nghiên cứu giải
phẫu tử thi ở người cao HA và hút thuốc lá, tỷ lệ phình ĐMC bụng chưa vỡ là từ
38 đến 60% và vỡ là 75%
[9]
.
Diễn tiến tự nhiên
Theo định nghĩa, phình ĐMC bụng là một đoạn ĐMC bụng dãn lớn ít nhất 50%
ĐK ĐMC bình thường ngay trên túi phình của người đó. Vì ĐK ĐMC bụng lớn
dần theo tuổi và rất khác biệt giữa nam và nữ nên trong thực tế, ở các nước
phương Tây, khi ĐK đoạn ĐMC dãn > 30mm thì gọi là phình. Độ dãn thường
chậm và từ từ qua nhiều năm rồi thình lình vỡ do sự đàn hồi của thành mạch
kém hơn áp lực máu tác động lên thành mạch từ bên trong mỗi lần tâm thu. 3

Phình ĐMC đoạn dưới ĐM thận thường gặp nhất, chiếm hơn 80% các TH phình
ĐMC. Nhiều nghiên cứu về sự hình thành và phát triển túi phình ĐMC đoạn
dưới ĐM thận cho thấy: 1- Đoạn ĐMC này có ít lớp mô-tế bào đàn hồi (elastic
lamellae) so với các đoạn ĐMC phía trên, 2- Thành mạch đoạn này ít máu nuôi
(vasa vasorum) lại thường bị xơ vữa nên đàn hồi kém, 2- Huyết động học tác
động lên thành mạch mạnh hơn ở các đoạn trên, vì đoạn ĐMC này không có
mạch nhánh lớn và dòng chảy dội lại khi vấp phải chỗ chia đôi ĐM chậu, 4-
Đoạn ĐMC này di động nhiều hơn so với đoạn trên.

, hơn 30 năm trước và một số tác giả khác, sau khi
nghiên cứu đối chứng, khuyến cáo cần phải mổ cho những túi phình ĐMC lớn
để ngừa vỡ, trừ phi BN có những bệnh nền nặng, nguy cơ PT cao hay thời gian
sống ngắn. Szilagyi và CS
[4]
năm 1966, nghiên cứu cho thấy mổ cho BN có
phình ĐMC bụng dưới ĐM thận > 60mm giúp cho BN sống lâu hơn là theo dõi,
không mổ; nhưng mổ cho những BN phình ĐMC dưới ĐM thận có kích thước
nhỏ hơn không giúp BN sống lâu hơn theo dõi. Hồi đó, TV do PT là 14%, vì thế
không nên mổ cho mọi TH. Ông ghi nhận 19.5% phình ĐMC bụng dưới ĐM
thận < 60mm bị vỡ hằng năm. Số liệu này còn được tái xác minh trong một loạt
BN phình ĐMC bụng khi theo dõi hơn 5 năm, nguy cơ vỡ là 20% mỗi năm.
Trong một nghiên cứu giải phẫu tử thi với số lượng lớn, Darling
[5]
ghi nhận vỡ
túi phình ĐMC dưới ĐM thận có ĐK từ 40-70mm là 25% và ĐK< 40mm là
9.5%. 4


H2: Phình ĐMC lớn

H3: Phình ĐMC vỡ (cắt ngang)

H4: Phình ĐMC vỡ (cắt dọc) 5

nguy cơ vỡ là 100% cho những TH huyết áp tâm trương > 105mmHg, kích
thước ban đầu > 50mm và thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên
(FEV
1
) < 50% mức bình thường.
Nghiên cứu về sinh hoá và quá trình phân hủy protein cho thấy sự hình thành và
diễn tiến túi phình từ nhỏ đến lớn và vỡ tự nhiên như sau.
Các giai đoạn diễn tiến lâm sàng-bệnh lý của phình ĐMC bụng dẫn đến vỡ
(Thompson R et al: Surgery of Aorta & its Branches, Gewertz & Schwartz,
Saunders company, Edit 2000)
[51]


y Collagen
= sinh Collagen
H

y Collagen
> sinh Collagen
Phình phát triển Phình lớn dần Lớn nhanh và vỡ
Nguy c
ơ

vỡ
ĐK ĐMC
Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III
Sơ đồ 1: Diễn tiến bệnh lý-lâm sàng của phình ĐMC
6

túi phình nhỏ hơn vì ĐK ĐMC ở người Á Châu không như ĐK ĐMC của người
phương Tây
[1][10][31]
. Có nhiều nghiên cứu cố gắng liên kết kích thước túi phình
ĐMC bụng dưới ĐM thận với chỉ số khối cơ thể (BMI) của BN về nguy cơ vỡ.
Đơn giản và thực tế hơn, Ouriel và CS
[7]
dùng CT scan đo ĐK ngang của thân
đốt sống thắt lưng 3 và tính tỷ lệ đường kính ngang túi phình / đường kính
ngang thân đốt sống thắt lưng 3 (H.5, H.6). Ông đã thấy dù đã ghi nhận có TH
ĐK túi phình ĐMC bụng dưới ĐM thận 35mm đã vỡ nhưng chưa có TH nào vỡ

biệt với túi phình ĐMC. Túi phình ĐMC có thể nằm lệch phải đường giữa cũng

H5: Đư
ờng kính ngang
túi
phình
≈ thân đốt sống TL3

H6: Đư
ờng kính ngang
túi
phình
> thân đốt sống TL3 7

như lệch trái. Sờ túi phình sẽ có cảm giác một khối u co dãn theo chiều ngang.
Kích thước túi phình có thể ước lượng đ ược khi sờ, ở những BN ốm. Ở những
BN mập khi túi phình sờ được thì thường lớn hơn 60mm.
Túi phình đau thường gặp do có máu đông ép vào thành mạch và 1 mảng của


sau phúc mạc từ hố chậu đến cơ hoành, mạc treo ruột cũng tẩm nhuận đầy máu
thì mới biết là BN bị vỡ túi phình ĐMC bụng. Nếu kíp mổ và gây mê không có
kinh nghiêm về PT mạch máu thì đa số BN sẽ TV trên bàn mổ.
SA là phương tiện chẩn đoán hình ảnh (H.9, 10) đơn giản, an toàn, rẻ tiền, được
sử dụng trước tiên để chẩn đoán và để theo dõi túi phình ĐMC dưới ĐM thận.
Độ sai biệt khi SA ở 1 túi phình cùng một bác sĩ thực hiện chỉ là 3mm. SA tốt
còn được dùng để đánh giá dòng chảy các ĐM thận, ĐM các tạng và ĐM chậu-
đùi. Tuy nhiên SA không cho thầy đầy đủ thông tin về đoạn ĐMC cạnh thận và
trên thận, cũng như túi phình ĐMC dưới ĐM thận ở những BN mập hay ở
những BN có nhiều hơi trong ruột non.


mập hay ở BN có đặt máy tạo nhịp tim. Cho nên, MRI chỉ nên sử dụng thay cho
CT có cản quang hay chụp hình ĐMC xóa nền (DSA) ở những BN bị dị ứng
thuốc cản quang hay BN bị suy thận nặng.
Chụp hình ĐM, nhất là DSA (H.14) tuy không cho biết chính xác kích thước
cũng như có phình ĐMC hay không nhưng khá hữu ích khi khảo sát đặc điểm
giải phẫu của ĐMC, đặc biệt là các ĐM thận, ĐM tạng và ĐM tuỷ sống. Trước
kia, khi chưa có CT xoắn hay MSCT, chụp hình ĐMC để biết những chi tiết cần
thiết của ĐMC và các nhánh trước khi PT là cần thiết. Vì chụp hình ĐMC có thể
gây BC như tách vách, thuyên tắc ĐM ở chỗ luồn kim nên không có chỉ định đại
trà. Ngày nay MSCT 64 có phần mềm, tái tạo 3 chiều có thể cho thấy gần toàn
bộ các mạch nhánh lớn nhỏ, kể cá các tuần hoàn bàng hệ và các chỗ rò trong các
khối u mạch máu. Do đó, có thể chỉ dùng MSCT có cản quang là đủ để định
bệnh và đủ để chỉ định điều trị và PT (trừ TH suy thận thì phải dùng MRI).

H14: Hình chụp ĐSA
H13: Hình ảnh MRI
10
Tầm soát các bệnh nền trước mổ

thường không. Nếu có thiểu năng tuần hoàn chi thì phải lượng giá mức độ, từ rối
loạn dinh dưỡng đến loét, hoại tử và phải có hình ảnh các ĐM chi để điều trị tiếp
theo. Khám hậu môn-trực tràng xem có chảy máu, có máu trong phân, có khối u
không Cho làm các xét nghiệm thường qui từ NGFL, ion đồ máu, creatinine 11
máu, các xét nghiêm đông máu, phân tích nước tiểu, ECG và chụp hình phổi,
xem có gì bất thường không.
- Lượng giá nguy cơ tim trước mổ: Bệnh tim là nguyên nhân gây TV hàng đầu
sau mổ, nhất là bệnh mạch vành chưa được điều trị đúng mức. Khi tiến hành PT
phình ĐMC ở những BN này, nguy cơ nhồi máu cơ tim là 5-10% gây phù phổi
cấp 5-10%, TV do tim trong vòng 30 ngày 5-10%. Ngược lại, nguy cơ tim chỉ có
1-3% ở những BN không có bệnh mạch vành. Tái lập tuần hoàn cơ tim trước mổ
ở những BN có bệnh mạch vành, nguy cơ TV do PT giảm đến mức tối đa ở
những BN mổ phình ĐMC bụng.
PT chương trình những BN có nguy cơ bệnh tim là một việc khó. Chỉ số nguy
cơ tim Goldman bỏ sót một tỷ lệ khá lớn. ECG thường qui không đủ để đánh giá
bệnh tim tiềm ẩn. Chụp ĐM vành tốn kém và có thể gây BC, không phải là
phương pháp tầm soát thích hợp cho những BN không triệu chứng. SA tim lúc
nghỉ bỏ sót nhiều BN bị bệnh mạch vành tiềm ẩn và không phát hiện được đa số
TH mất khả năng bù trừ của tim. SA tim kích thích bằng dobutamine hay xạ
hình cơ tim bằng dipyridamole-thallium giúp phát hiện bệnh mạch vành tốt hơn.
SA tim kích thích bằng dobutamine có thể khảo sát những thay đổi cử động
thành cơ tim bằng cách tăng liều dobutamine, xạ hình tim bằng dipyridamole-
thallium thường được sử dụng trước mổ rộng rãi hơn để đánh giá nguy cơ bệnh
cơ tim. Kết quả xạ hình dựa trên vùng bắt đồng vị phóng xạ chọn lọc. Bình
thường, đồng vị phóng xạ được hấp thu đều khắp cơ tim, vùng nhồi máu cũ
(sẹo) không bắt đồng vị phóng xạ, kể cả ở thời điểm chậm, vùng cơ tim thiếu
máu còn khả năng sống, bắt đồng vị phóng xạ chậm do có sự phân phối lại máu.

< 50mmHg,
PCO
2
tăng hay FEV < 1, được xem là suy hô hấp và phải được điều trị hô hấp
trước mổ. BN phải thở oxy thường xuyên hay uống steroid để điều trị bệnh phổi
có nguy cơ suy hô hấp sau mổ rất cao. Tất cả các BN có vấn đề hô hấp cần
lượng giá chức năng hô hấp, chụp hình phổi, đo khí máu động mạch trước mổ.
BN phải ngưng hút thuốc lá từ 1 đến 2 tuần, tập vật lý trị liệu lồng ngực, tập thở
sâu, dùng thuốc dãn phế quản, phun khí dung steroids và kháng sinh. Sau 1 thời
gian tập luyện và điều trị, khảo sát lại chức năng hô hấp, khi nào vượt qua
ngưỡng an toàn mới mổ.
Gây tê ngoài màng cứng có thể giúp giảm BC hô hấp, kể cả BC tim trong mổ
cắt-ghép ĐMC bụng. Gây tê ngoài màng cứng còn giúp giảm đau sau mổ, giảm
dịch truyền, giảm thời gian cho BN từ nằm qua ngồi, giảm thời gian ở khoa săn
sóc, đặc biệt và giảm ngày nằm viện.
Ngoài ra, nếu sau khi tập luyện, chức hô hấp vẫn chưa cải thiện đủ mà cần phẫu
thuật gấp thì nên gây tê ngoài màng cứng, đặt stent-graft hay mổ đường sau
phúc mạc.
- Lượng giá nguy cơ suy thận trước mổ: Creatinine cao trên cơ địa cao HA nặng
là dấu hiệu báo trước tình trạng suy thận sẽ nặng thêm sau mổ. Creatinine máu >
1.8mg/dl là yếu tố độc lập tăng tỷ lệ TV sau mổ cắt-ghép phình ĐMC bụng. Suy
thận trước mổ cũng liên hệ đến suy tim gây TV và cần lọc máu. Như vậy, trước
mổ phải phân tích nước tiểu, đo creatinine và theo dõi HA.
Ngừa suy thận nặng thêm khi chụp CTA hay chụp DSA bằng cách truyền saline
0.45% và PT sẽ được thực hiện ít nhất là sau 24 giờ. Điều này cũng rất cần thiết
đối với BN bị tiểu đường. SA Doppler màu có thể thay thế CTA, MRA hay
DSA cho những BN này.
Trong lúc mổ, không để HA thấp, không để giảm thể tích tuần hoàn và không để
lượng nước tiểu < 40ml/ giờ.
Chọn chỗ kẹp ĐMC cẩn thận, đặc biệt là TH cổ túi phình bị xơ vữa nặng thì nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status