Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thành Nam - Pdf 30

Chuyên đề tốt nghiệp 1
LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đặt ra cho các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung cả những cơ hội và thách thức . Việc hội nhập sâu vào kinh tế
thế giới và khu vực đòi hỏi Việt Nam phải mở của thị trường sâu rộng cho doanh
nghiệp và hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam.Chính việc mở cửa thị trường là cuộc
cạnh tranh gay go quyết liệt cho các doanh nghiệp trong nước. Nó đã tạo áp lực làm
cho mức độ cạnh tranh trong hầu hết các ngành kinh doanh của nền kinh tế Việt Nam
tăng mạnh. Và ngành kinh doanh thép cũng không phải là một ngoại lệ.
Công ty TNHH XNK Thành Nam là công ty chuyên XNK thép Inox có trụ sở
chính đặt tại 6 BT1A, Khu đô thị mới Mỹ Đình II, Từ Liêm Hà Nội. Hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh thép, hiện nay công ty đang phải chịu những tác động tiêu cực do
mức độ cạnh tranh cao trong ngành mang lại. Bên cạnh đó, những nhược điểm trong
quá trình hoạt động kinh doanh đã làm hạn chế khả năng cạnh tranh của công ty trên
thị trường. Do đó , để có thể tồn tại và phát triển được trong tương lai thì yêu cầu cấp
bách đối với công ty là phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường.
Với những lý do như trên và qua thời gian thực tập tại công ty TNHH XNK
Thành Nam, em đã chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của
công ty TNHH XNK Thành Nam ” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình với hi vọng
sẽ góp phần giúp công ty có biện pháp giải quyết những khó khăn hiện tại và có thể
nâng cao khả năng cạnh tranh trong tương lai.
Nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 : Lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương 2 : Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty TNHH XNK
Thành Nam
Chương 3 : Một số giải pháp cơ bản nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty
TNHH XNK Thành Nam
Chuyên đề tốt nghiệp 2
Trong thời gian thực hiện nghiên cứu đề tài này, em đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của các anh chị trong công ty TNHH XNK Thành Nam và sự hướng dẫn

sàng sử dụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu.
Chuyên đề tốt nghiệp 4
1.1.2. Khái niệm về cạnh tranh
Là một thuật ngữ lâu đời và được sử dụng phổ biến , thường xuyên được nhắc
tới trong mọi lĩnh vực của xã hội. Thuật ngữ “ cạnh tranh” luôn thu hút được sự
quan tâm của giới nghiên cứu và được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau. Với mỗi
góc độ nghiên cứu khác nhau thì cạnh tranh được định nghĩa khác nhau
Hiểu một cách chung nhất cho mọi lĩnh vực trong đời sống thì cạnh tranh được
định nghĩa là: “Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá
thể có chung môi trường sống với các điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan
tâm”.
Xét trong phạm vi lĩnh vực kinh tế, lịch sử đã cho thấy 2 trường phái tiêu biểu
về lý thuyết cạnh tranh:Thứ nhất, trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như
A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong
lý thuyết cạnh tranh sau này.Thứ hai, trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ
sộ với 3 quan điểm tiếp cận: Tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái
Chicago và Harvard; Tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter
thuộc trường phái Viên; Tiếp cận “ cạnh tranh hòan hảo” phát triển lý thuyết của Tân
cổ điển. Trong 2 trường phái đó, đáng chú ý nhất là khái niệm về “cạnh tranh” dưới
thời Tư Bản Chủ Nghĩa của C.Mác “ Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua , sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong
sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Cơ sở của cạnh
tranh ở đây là chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cạnh tranh luôn diễn ra liên tục và không
có đích cuối cùng. Các chủ thể hành vi kinh tế vì lợi ích riêng của bản thân mình mà
tiến hành cạnh tranh với nhau. Cạnh tranh được hiểu là “sự ganh đua giữa các chủ
thể kinh tế ( nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đối
trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất”.
Cạnh tranh trong nền kinh tế luôn liên quan đến quyền sở hữu.Nói cách khác, sở hữu
là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn ra.Ngòai ra, nếu đứng trên quan điểm của các

Chuyên đề tốt nghiệp 6
Tuy nhiên, cái gì cũng có mặt trái của nó. Cạnh tranh có thể tạo ra sự bất bình đẳng
nếu như các chủ thể áp dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, làm sâu sắc
thêm sự phân hóa giàu nghèo của xã hội..Vì lý do đó, cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng
cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước
* Đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường thì cạnh tranh có
một vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng
cải thiện hoạt động kinh doanh để tồn tại và phát triển. Cạnh tranh góp phần tạo ra
một môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cạnh
tranh làm cho các doanh nghiệp đưa ra mức giá gần hơn với các chi phí cận biên và
từ đó phân bổ các đầu vào hiệu quả hơn. Cạnh tranh cũng có thể làm giảm sự mất cân
đối và làm cho hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dễ dàng so sánh hơn. Đồng
thời nó làm cho các danh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu
quả phải tiến hành cải tổ bộ máy tổ chức, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất…nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, giảm giá thành nếu như
không muốn đối mặt với nguy cơ mất thị phần hoặc rời bỏ thị trường.
* Đối với người tiêu dùng
Cạnh tranh giúp người tiêu dùng nhận được nhiều lợi ích hơn khi tiêu dùng
hàng hóa. Bởi vì người tiêu dùng là một trong những nguyên nhân góp phần tạo nên
sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trên thị trường. Chính áp lực cạnh tranh
buộc các doanh nghiệp phải tiến hành nâng cao chất lương, giảm giá bán, tăng thêm
các tiện ích khác cho khách hàng : sửa chữa, bảo hành, các dịch vụ sau bán. Khi đó
người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa rẻ hơn mà chất lượng lại tăng.
Ngòai ra, cạnh tranh cũng giúp cho nhu cầu của người tiêu dùng được thỏa mãn
một cách tốt nhất.
1.1.4. Các loại hình cạnh tranh
Trong nền kinh tế, có rất nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau. Tùy theo mỗi
tiêu thức phân loại, chúng ta có thể phân chia cạnh tranh thành các hình thức như sau:

Chuyên đề tốt nghiệp 8
cùng kinh doanh các sản phẩm hàng hóa dịch vụ để thỏa mãn cho cùng một nhu cầu
nào đó của người tiêu dùng. Để có thể cạnh tranh được với các đối thủ còn lại trong
ngành thì các doanh nghiệp phải thường xuyên ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật , nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí, giảm giá thành để thu hút khách
hàng, chiếm thị phần cao hơn đối thủ cạnh tranh
* Cạnh tranh giữa các ngành : Là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuất kinh
doanh khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Trong nền kinh tế quốc
dân, các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau thì điều kiện vật chất kỹ thuật, môi
trường kinh doanh, nhu cầu thị hiếu….là khác nhau. Nên khi cùng một lượng vốn vào
ngành này thì có thể đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác. Vì vậy dẫn
đến tình trạng những nhà sản xuất ở ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ rút lui khỏi
ngành và chuyển sang đầu tư sản xuất ở những ngành mang lại tỷ suất lợi nhuận cao
hơn. Điều đó tạo nên sự cạnh tranh giữa các ngành với nhau.
1.1.4.3 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh
Khi căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh trên thị trường thì chúng ta có
thể phân ra 3 loại cạnh tranh như sau
* Cạnh tranh giữa người bán với người bán
Đây là cuộc cạnh tranh cơ bản và khốc liệt nhất trên thị trường. Các doanh
nghiệp tìm cách giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường để có thể tiêu thụ được
càng nhiều hàng hóa càng tốt nhằm thu được lợi nhuận cao. Muốn giành lợi thế trong
cuộc cạnh tranh trên các doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp có thể để lôi kéo
khách hàng : ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao chất lương, cải thiện mẫu mã sản
phẩm, tăng cường hoạt động marketing sản phẩm, giảm giá sản phẩm…Cuộc cạnh
tranh này sẽ dẫn đến một số doanh nghiệp giành được thị phần lớn, một số doanh
nghiệp sẽ bị thu hẹp hoặc mất thị phần, Người tiêu dùng là người sẽ được hưởng lợi
lớn nhất do chất lượng sản phẩm tăng, giá cả giảm đặc biệt là trong trường hợp thị
trường có cung lớn hơn cầu.
* Cạnh tranh giữa người bán với người mua
Chuyên đề tốt nghiệp 9

- Năng lực cạnh tranh quốc gia : là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng
trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời
sống người dân
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Được đo bằng khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
nước và ngoài nước.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm : được đo lường bằng thị phần của sản
phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường
Ở đây chúng ta quan tâm đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiện nay,
quan niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt. Có ý
kiến cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản
phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.Có quan điểm gắn khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có những quan điểm đồng nhất khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh.Có một số ý kiến
tán thành quan điểm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác thực lực
và lợi thế của mình để thỏa mãn nhu cầu khách hàng và thu được lợi nhuận. Tuy nhiên,
nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e rằng chưa đủ, bởi trong điều kiện tòan
cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngòai đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng minh một
số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn
tại và phát triển trong một thế giới khốc liệt như hiện nay.
Như vậy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là: “ Khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp là việc khai thác các, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong,
bên ngòai nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hóa dịch vụ hấp dẫn với người tiêu
dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so
với các đối thủ cạnh tranh”.
Hoặc có thể hiểu là: “ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng,
năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị
trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi
Chuyên đề tốt nghiệp 11
hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp đồng thời thực hiện được

thể của sản xuất hoặc đời sống”.
Còn theo quan điểm của các chuyên gia Marketing, họ hiểu sản phẩm ở một
phạm vi rộng lớn hơn nhiều: “ Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể
thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích
thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng”.
Đối với một doanh nghiệp thương mại thì sản phẩm là một yếu tố căn bản và
quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh.Chữ tín của sản phẩm quyết định
chữ tín của doanh nghiệp và tạo lợi thế có tính quyết định trong cạnh tranh.Cạnh
tranh về sản phẩm thường được thể hiện qua các mặt như chất lượng sản phẩm, giá
cả của sản phẩm hay là các dịch vụ hỗ trợ kèm theo.
a, Chất lượng sản phẩm
Nói đến chất lượng của sản phẩm thì có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Nhưng thường gặp, thông dụng nhất là 3 định nghĩa sau:
(1) “ Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người
tiêu dùng” ( European Organization for Quanlity Control)
(2) “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” ( Philip B. Crosby)
(3) “ Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó
khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và những nhu cầu tiềm ẩn” ( ISO 8402)
Chất lượng sản phẩm sẽ được đánh giá chính xác nhất qua quá trình tiêu dùng
sản phẩm, sự thỏa mãn hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm của doanh
nghiệp.Một sản phẩm mà chất lượng của nó đem đến cho khách hàng sự thỏa mãn
càng cao, càng lôi kéo được khách hàng đến với doanh nghiệp sẽ làm tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược lại , đối với sản phẩm mà chất lượng không đáp
ứng được nhu cầu khách hàng sẽ làm giảm khả năng tiêu thụ, làm cho công việc kinh
doanh của công ty trì trệ…sẽ gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng của tất cả các công đoạn trong dây chuyền sản
xuất , từ quá trình sản xuất nguyên liệu thô, thu mua, sản xuất và phân phối.
Chuyên đề tốt nghiệp 13
Để nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên khía cạnh chất
lượng sản phẩm, ta cần làm rõ hơn các yếu tố cấu thành nên sản phẩm.Trên thực tế,

- Với hoạt động trao đổi , giá cả được định nghĩa: “ Giá cả là mối tương quan
trao đổi trên thị trường”.
- Với người mua: “ Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khỏan tiền mà
người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm hay
dịch vụ gì đó”
- Người bán định nghĩa : “ Giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là khỏan thu nhập
mà người bán nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó” .
Mặc dù có nhiều quan niệm về giá như vậy nhưng chung quy lại thì giá đều thể
hiện là : “ Sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa”. Giá cả là một yếu tố rất nhạy
cảm trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động thương mại nói riêng bởi vì
nó liên quan đến lợi ích cá nhân có tính mâu thuẫn giữa người mua và người bán. Giá
càng cao người bán càng có lợi còn giá càng thấp người mua càng có lợi. Sự vận
động ngược chiều về lợi ích này được giải quyết thông qua mức giá.
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Nếu như chênh lệch về
giá giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản
phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thid doanh nghiệp đã đem lại lợi
ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh. Do đó sản phẩm của
doanh nghiệp sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và cũng có
nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh ngày càng cao.
Để cạnh tranh bằng giá cả, doanh nghiệp có thể sử dụng một số chính sách về
giá như sau:
* Chính sách về sự linh hoạt của giá: doanh nghiệp có thể chọn một trong 2
chính sách sau
- Chính sách một giá: DN đưa ra một mức giá đối với tất cả các khách hàng
mua hàng trong cùng điều kiện cơ bản và cùng một khối lượng
- Chính sách giá linh hoạt: DN đưa ra cho khách hàng khác nhau các mức giá
khác nhau trong cùng các điều kiện cơ bản và cùng khối lượng.
Chuyên đề tốt nghiệp 15
* Chính sách về mức giá theo chu kỳ sống của sản phẩm
- Chính sách giá “ hớt váng”: Đưa ra mức giá cao nhất và cố gắng bán ở mức

Do đó, để có thể bảo đảm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng một cách
tốt nhất doanh nghiệp cần chú trọng tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất trong thanh
tóan, có phương tiện bán hàng văn minh, tạo điều kiện để có công nghệ bán hàng đơn
giản hợp lý. Hình thành mạng lưới dịch vụ hỗ trợ rộng khắp ở những địa bàn dân cư.
Thường xuyên cung cấp các dịch vụ sau khi bán hàng cho người sử dụng đặc biệt là
những sản phẩm có bảo hành hoặc hết thời hạn bảo hành.
1.2.2.2 Các nguồn lực cơ bản trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các nguồn lực cơ bản của doanh nghiệp phản ánh các yếu tố mang tính chủ
quan và dường như có thể kiểm sóat được ở mức độ nào đó mà doanh nghiệp có thể
sử dụng để làm công cụ cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường hoặc làm cơ sở để
nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình. Trong doanh nghiệp có nhiều nguồn lực cấu
thành năng lực cạnh tranh, tuy nhiên quan trọng và cơ bản nhất phải kể đến 2 nguồn
lực sau đây: nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực
a, Nguồn lực tài chính
Đối với các doanh nghiệp nói chung mà đặc biệt là đối với một doanh nghiệp
thương mại thì nguồn lực về tài chính có ảnh hưởng quyết định đến quy mô hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Nó là yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của
doanh nghiệp. Thông thường, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua
các chỉ tiêu như:
- Vốn chủ sở hữu ( vốn tự có) : độ lớn ( khối lượng ) tiền của chủ sở hữu hoặc
của các cổ đông tham gia góp vốn vào doanh nghiệp.
- Vốn huy động : vốn vay, trái phiếu doanh nghiệp… phản ánh khả năng thu hút
các nguồn đầu tư trong nền kinh tế vào hoạt động của doanh nghiệp
- Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận: Chỉ tiêu được tính theo % từ nguồn lợi nhuận
thu được giành cho bổ sung nguồn vốn tự có. Phản ánh khả năng tăng trưởng vốn
tiềm năng và quy mô kinh doanh mới
Chuyên đề tốt nghiệp 17
- Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn : gồm các khả năng trả lãi cho nợ dài
hạn ( từ lợi nhuận) và khả năng trả vốn trong nợ dài hạn ( liên quan đến cơ cấu vốn
dài hạn), nguồn tiền mặt và khả năng nhanh chóng chuyển thành tiền mặt để thanh

cho quá trình kinh doanh của DN suôn sẻ, hiệu quả đem lại lợi thế lớn cho DN trong
cuộc chạy đua với các doanh nghiệp khác trên thương trường. Tạo nên khả năng cạnh
tranh cho doanh nghiệp.
1.2.2.3 Trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp
Nói đến trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp có nghĩa là nói đến sự hợp
lý của cơ cấu bộ máy tổ chức, tính hiệu quả của hệ thống quản lý và công nghệ quản
lý. Bao gồm các hoạt động như bố trí nhân sự, xây dựng bộ máy quản lý, lập kế
hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch, tổ chức khoa học nơi làm việc, giám sát quá
trình tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh…
Tổ chức bộ máy kinh doanh là việc thiết lập mô hình tổ chức và mối liên hệ về
chức năng nhiệm vụ giữa các phòng ban, các bộ phận trong DN và trong nội bộ các
bộ phận với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ kinh doanh đề ra. Chính vì vậy kết quả
sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp không chỉ là tổng kết quả của các bộ
phận, chức năng nhiệm vụ được xem xét riêng biệt mà nó còn là kết quả của sự tương
tác giữa chúng. Điều đó có nghĩa là khi một bộ phận ,chức năng, nhiệm vụ được tách
riêng để thực hiện tốt như nó có thể, thì tòan bộ DN sẽ không thực hiện tốt như nó có
thể. Một DN muốn đạt được mục tiêu kinh doanh của mình thì đồng thời phải đạt đến
một trình độ tổ chức, quản lý tương ứng.
Một doanh nghiệp mà tổ chức tốt cơ cấu bộ máy, quản lý hiệu quả sẽ góp phần
tạo nên sức mạnh cho doanh nghiệp để có thể cạnh tranh trên thị trường
1.2.2.4 Quy trình , công nghệ sản xuất sản phẩm
Đây là một yếu tố quan trọng đối với sự hình thành và phát triển sản phẩm của
doanh nghiệp nói riêng và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung.
Công nghệ là tập hợp tất cả các máy móc, thiết bị cũng như kỹ năng vận hành
mà mà người sử dụng dùng để sản xuất ra sản phẩm. Doanh nghiệp có thể có được
công nghệ từ 2 nguồn chính là : Thứ nhất là do doanh nghiệp tự nghiên cứu, phát
Chuyên đề tốt nghiệp 19
minh, thứ hai là do chuyển giao công nghệ. Với các DN ở những quốc gia mà có
khoa học kỹ thuật tiến bộ, tiềm lực tài chính lớn thì thường đi theo con đường nghiên
cứu phát minh ra công nghệ.Mặc dù rủi ro khá cao nhưng kết quả đạt được sẽ rất lớn

* Tổng doanh thu
Tổng doanh thu = doanh số bán – (giảm giá hàng bán + chiết giá + hàng bán ra
nhưng khách hàng trả lại + hao hụt hàng hóa không truy cứu được trách nhiệm +
VAT theo phương pháp trực tiếp)
Đối với các doanh nghiệp thương mại, doanh thu được hình thành chủ yếu từ
các hoạt động bán hàng và các họat động dịch vụ. Ngòai ra, doanh thu còn được hình
thành từ các hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. Doanh thu của doanh
nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với tòan bộ hoạt động của doanh nghiệp, nó là nguồn để
doanh nghiệp trang trải các chi phí, thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
rộng, thực hiện nghĩa vụ với Nhà Nước. Vì vậy, khi đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh ngihệp ta cần phải quan tâm đến chỉ tiêu này.
* Tổng chi phí sản xuất kinh doanh
Tổng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
- Chi phí hoạt động kinh doanh : chi phí nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố
định , tiền lương và các khỏan có tính chất lương, các khỏan trích nộp theo quy định
của nhà nước..
- Chi phí hoạt động tài chính : chi phí mua bán trái phiếu, tín phiếu , cổ phiếu,
chi phí cho thuê tài sản…
- Chi phí bất thường : chi phí nhượng bán tài sản cố định , chi phí tiền phạt do
vi phạm hợp đồng kinh tế…
* Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng
dư do người lao động tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Lợi
nhuận được hình thành từ các nguồn như hoạt động kinh doanh, họat động tài chính,
lợi nhuận bất thường. Và lợi nhuận được xác định bằng công thức sau đây :
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Chuyên đề tốt nghiệp 21
Chỉ tiêu tuyệt đối này phản ánh giá trị thu được của doanh nghiệp và nó cũng là
chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ trên thị
trường. Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp càng cao chứng tỏ công việc kinh doanh của

=


DT
LN
x 100%
Trong đó : M
2
: mức doanh lợi trên doanh thu

DT
: Tổng doanh thu
Chỉ tiêu này cho thấy trong một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Ba là: Mức doanh lợi trên chi phí kinh doanh
M
3
=


CP
LN
x 100%
Trong đó : M
3
: Mức doanh lợi trên chi phí

CP
: Tổng chi phí kinh doanh
Chuyên đề tốt nghiệp 22
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí kinh doanh bỏ ra mang lại bao nhiêu

khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Sức sản xuất của vốn cố định
Sức sản xuất của VCĐ =
VCĐ
DT

Chỉ tiêu này cho biết bỏ ra một đồng vốn cố định đem lại bao nhiêu đồng doanh
thu
Chuyên đề tốt nghiệp 23
- Sức sinh lợi của vốn cố định
Sức sinh lợi của VCĐ =
VCĐ
LN

Trong đó :

LN
: Tổng lợi nhuận
VCĐ : vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động
Tỷ suất sinh lời của VLĐ =
VLĐ
LN

Trong đó :

LN

Thị phần nói rõ phần sản phẩm tiêu thụ riêng của doanh nghiệp so với tổng sản
phẩm tiêu thụ trên thị trường. Bên cạnh đó, khi nói đến thị phần ta còn phải xem xét
thị phần tương đối (Relative Market Share) :
Thị phần tương đối = Phần doanh số của DN / Phần doanh số của đối thủ
cạnh tranh
Hoặc
Thị phần tương đối = Số sản phẩm bán ra của DN / Số sản phẩm bán ra của
đối thủ cạnh tranh
Nếu thị phần tường đối > 1 : Lợi thế cạnh tranh thuộc về doanh nghiệp
Nếu thị phần tương đối < 1 : Lợi thế cạnh tranh thuộc về đối thủ
Nếu thị phần tương đối = 1 : Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và đối thủ
cạnh tranh như nhau
Thực tế cho thấy, nếu hai đối thủ có thị phần gần ngang bằng nhau, đối thủ nào
tăng thị phần có thể giành sự khác biệt cả về doanh số và chi phí. Điều này tạo ra lợi
thế cạnh tranh mạnh mẽ
1.2.3.2 Các chỉ tiêu định tính
Không chỉ được phản ánh bằng các chỉ tiêu định lượng, khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trên thị trường còn được phản ánh bởi các
chỉ tiêu mang tính định lượng. Sau đây chúng ta xem xét một số chỉ tiêu cơ bản
* Nhãn hiệu sản phẩm, thương hiệu và uy tín của DN
Trong hoạt động kinh doanh, nhãn hiệu sản phẩm thường gắn với sản phẩm và
được sử dụng để xác định sản phẩm, phân biệt sản phẩm của các nhà sản xuất, doanh
nghiệp thương mại khác nhau. Do đó khách hàng thường mua sản phẩm thông qua
Chuyên đề tốt nghiệp 25
nhãn hiệu. Khi phân tích yếu tố này chúng ta cần nhận thức chính xác mức độ chấp
nhận của khách hàng với sản phẩm đang kinh doanh.Việc nhận biết các mức độ quen
thuộc của nhãn hiệu sản phẩm là rất quan trọng và cần được đặc biệt chú ý. Có 5 mức
độ quen thuộc của nhãn hiệu sản phẩm:
(1) Nhãn hiệu bị lại bỏ
(2) Nhãn hiệu không được công nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status