Đề bài:
Mô tả quá trình quản lý truyền thống, mô tả quá trình quản lý chất
lượng
So sánh, bình luận?
1
BÀI LÀM
1. Mô tả quá trình quản lý truyền thống
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ nhóm nhỏ đến
phạm vi rộng lớn và đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó. C.Mac đã
chỉ ra: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên
một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” và
ông cũng đưa ra một hình tượng để khẳng định vai trò của quản lý: “Một nghệ
sĩ chơi đàn thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có người
chỉ huy, người nhạc trưởng”
Ngày nay thuật ngữ quản lý trở nên phổ biến và có rất nhiều cách định
nghĩa khác nhau. Theo Taylor thì “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc đó một
cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Mary Parker Follett cho rằng “Quản lý là nghệ thuật đạt được mục đích
thông qua nỗ lực của người khác”.
Hay đơn giản quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó.
Theo những định nghĩa kinh điển nhất, quản lý là quá trình tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý – trong
một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ
chức.
Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý
là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng
kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
Liên hệ vào lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục được hiểu như việc
thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên
3
lại nền tảng của việc thực hiện hoạt động quản lý vẫn là 4 chức năng: Kế
hoạch hóa – Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra.
1.1.1. Chức năng kế hoạch hóa
a. Khái niệm
Đây là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý, nó tồn tại trong mọi tổ
chức, trong mọi hoạt động quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, 1997
thì kế hoạch là toàn bộ nói chung những điều vạch ra một cách có hệ thống về
những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định với cách thức,
trình tự, thời hạn tiến hành.
Theo lý luận quản lý, kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục
đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp,
cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
b. Vai trò của chức năng kế hoạch hóa
- Kế hoạch hóa có vai trò hết sức quan trọng, có vai trò khởi đầu, định
hướng cho quá trình quản lý. Nếu không có kế hoạch, người quản lý sẽ không
biết phải tổ chức nhân lực và các nguồn lực khác như thế nào, thậm chí họ
còn không rõ phải tổ chức cái gì nữa. Không có kế hoạch, người quản lý
không thể chỉ dẫn, lãnh đạo người thuộc quyền hành động một cách chắc chắn
với những kỳ vọng đặt vào kết quả mong đợi đạt tới. Cũng vậy, không có kế
hoạch cũng không thể xác định tổ chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu và
không biết khi nào đạt được mục tiêu; sự kiểm tra trở thành vô căn cứ.
- Trong giáo dục, kế hoạch được thể hiện như một bản thiết kế các hoạt
động cho một cơ sở hay toàn bộ hệ thống giáo dục, trên cơ sở đó, chủ thể
quản lý tổ chức, điều hành và điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu
dự kiến. Xây dựng kế hoạch có vai trò hết sức thiết thực.
Trước hết là khẳng định sự phát triển của tổ chức/nhà trường trong
tương lai. Lý do đầu tiên để xem xét tương lai một cách hệ thống là biết được
4
hoạt động trong lĩnh vực đang quản lý
Để xác định được mục tiêu đòi hỏi chủ thể quản lý phải có tầm nhìn
chiến lược, có kỹ năng và trình độ nắm bắt thời cuộc, có khả năng sáng tạo và
quyết đoán.
+ Xác định mục tiêu quản lý cần đảm bảo nguyên tắc SMARTER
S: Special (cụ thể) vì nó định hướng cho các hoạt động trong tương lai
M: Measuable (đo lường) lượng hóa các mục tiêu sẽ có đích cụ thể để
vươn tới
A: Achievable (vừa sức) phải có tính thách thức để cố gắng, nhưng
không được vượt quá sức
R: Realistic (thực tế) đo lường sự cân bằng giữa khả năng thực hiện so
với nguồn lực của tổ chức
T: Timebound (thời hạn) thời gian hợp lý giúp đạt được mục tiêu lại
vừa dưỡng sức cho các mục tiêu khác
E: Engagement (liên kết) thực hiện mục tiêu phải liên kết giữa các bộ
phận thì mới đạt được mục tiêu chung
R: Ralevant (thích đáng) thích đáng, công bằng với tất cả các bộ phận.
- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các
nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này
Để thực hiện được các mục tiêu thì đòi hỏi phải có các nguồn lực. Các
nguồn lực này phải chắc chắn để đảm bảo khả năng cao nhất đạt được mục
tiêu, với những nguồn lực không chắc chắn nếu không có thì cũng ít ảnh
hưởng.
- Lựa chọn các mục tiêu ưu tiên (vì điều kiện nguồn lực thường là hữu
hạn ), quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục
tiêu đó.
d. Nguyên tắc lập kế hoạch
6
Các nguyên tắc cơ bản lập kế hoạch là:
- Mục đích của kế hoạch phải được xác định rõ ràng. Phải nêu rõ những
- Bước 2: Chúng ta đang làm gì để đạt được điều chúng ta muốn?
- Bước 3: Những nhu cầu nào ở bên ngoài chúng ta?
- Bước 4: Chúng ta có thể làm được những gì?
- Bước 5: Chúng ta có thể làm được những gì cần phải làm?
- Bước 6: Nếu chúng ta tiếp tục công việc đang làm liệu có đạt được
điểu mong muốn hay không?
- Bước 7: Đây có phải là cái chúng ta sẽ làm để đạt được mục đích hay
không?
- Bước 8: Làm nhé? (bắt tay vào hành động)
- Bước 9: Kiểm tra xem chúng ta có làm đúng hay không?
f. Các loại kế hoạch
Sự phân loại kế hoạch gắn liền với sự phân loại mục tiêu. Có ba loại
mục tiêu chính là: Mục tiêu chiến lược, mục tiêu chiến thuật và mục tiêu tác
nghiệp. Mục tiêu chiến lược là mục tiêu rộng, có tính tổng quát, chung cho
toàn bộ tổ chức và được cấp quản lý cao nhất xác định. Mục tiêu chiến thuật
thường do cấp quản lý trung gian đặt ra đối với một bộ phận hoặc một đơn vị
của tổ chức. Mục tiêu chiến thuật thường được xác định tường minh hơn và
dễ đo lường hơn so với mục tiêu chiến lược. Mục tiêu tác nghiệp là mục tiêu
được xác định bởi cấp quản lý thấp nhất, mục tiêu này hướng vào những kết
quả hoạt động của mỗi thành viên trong tổ chức.
Xuất phát từ ba loại mục tiêu này có ba loại kế hoạch: Kế hoạch chiến
lược, kế hoạch chiến thuật và kế hoạch tác nghiệp. Trong đó việc xây dựng kế
hoạch chiến lược được coi là khởi nguồn, quyết định hướng đi của tổ chức.
Sau đây bài giữa kỳ xin đi sâu vào phần kế hoạch chiến lược các cơ sở
giáo dục.
8
* Khái niệm kế hoạch chiến lược
Kế hoạch chiến lược hướng tới mục tiêu dài hạn và các giải pháp lớn để
thực hiện các mục tiêu. Kế hoạch chiến lược được coi là công cụ mạnh để xác
định các ưu tiên và đề ra các quyết định đúng đắn cho một tổ chức, trong một
quản lý rất nhiều hoạt động, nên xác định mục tiêu là một trong những bước
có tính quyết định trong quá trình lập kế hoạch.
- Bước 2: Làm rõ các mục đích và chiến lược
Đây là bước làm rõ những mục đích và chiến lược đang tồn tại, đang
phát huy tác dụng đến hoạt động của tổ chức. Có thể những mục đích và
chiến lược này tương hợp với mục tiêu và sứ mạng của tổ chức cũng có thể
quá trình hình thành mục tiêu (bước 1) dẫn tới sự thay đổi căn bản sứ mạng và
mục đích của tổ chức.
- Bước 3: Phân tích môi trường
Khi xác định được mục tiêu của tổ chức và chiến lược đang thực thi,
người quản lý có được một cái khung để định lượng những khía cạnh của môi
trường có ảnh hưởng đến khả năng của tổ chức đạt được mục tiêu. Ý nghĩa
của việc phân tích môi trường là làm rõ những cách thức mà những biến đổi
về môi trường văn hóa xã hội, kinh tế… có thể ảnh hưởng gián tiếp đến tổ
chức, cũng như xác định những ảnh hưởng trực tiếp của những tổ chức khác,
của cơ quan chính quyền, đoàn thể xã hội… Ở bước này nên lập một danh
sách các nhân tố (thuộc về môi trường) có thể tác động đến tổ chức và đánh
giá mức độ ảnh hưởng của những nhân tố đó. Các kỹ thuật về dự báo cũng
như các phương pháp lượng hóa của “khoa học quản lý” có thể rất phù hợp
trong việc phân tích thông tin về môi trường.
- Bước 4: Phân tích nguồn lực
Sự phân tích này là cần thiết để làm rõ những ưu thế (có tính cạnh
tranh), những mặt mạnh và mặt yếu của tổ chức (đây chính là sự phân tích S –
10
W: Strengths và Weaknesses). Câu hỏi đặt ra ở đây là chúng ta đang làm tốt
hơn hay kém hơn so với người khác? Chứ không phải là câu hỏi: chúng ta
làm tốt hay kém?
- Bước 5: Xác định các vận hội và nguy cơ có tính chiến lược
Một tổ chức luôn phải đối đầu với những vận hội (Opportunity) và
nguy cơ (Threats) ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của nó. Những vận
ngoài. Các định hướng chiến lược trong góc này sẽ tập trung vào việc bảo vệ
những điểm mạnh bên trong bằng cách hoặc kết hợp những nguồn lực cần
thiết để đạt được các ưu thế, hoặc hỗ trợ những nguồn lực này để mở rộng ưu
thế đã có. Cũng cần khai thác những cơ hội khác để thúc đẩy các điểm mạnh
và khắc phục các điểm yếu trong những tình huống khác.
Chiến lược (ST): Chiến lược tránh nguy cơ. Khi điểm mạnh bên trong
phù hợp với nguy cơ bên ngoài. Định hướng chiến lược cần tập trung vào việc
điều chỉnh các nguồn lực của tổ chức nhằm chuyển đổi nguy cơ bên ngoài
thành cơ hội. Mặt khác, tổ chức có thể lụa chọn việc áp dụng chiến lược
phòng thủ để tập trung vào những cơ hội hứa hẹn hơn ở những tình huống
khác.
Chiến lược (WO):Chiến lược vượt điểm yếu. Khi điểm yếu bên trong
liên quan đến cơ hội bên ngoài. Định hướng chung về chiến lược trong góc
này là lựa chọn sự cân bằng tối đa để biến những điểm yếu thành điểm mạnh
cần thiết cho việc khai thác cơ hội hay từ bỏ hẳn việc triển khai các nỗ lực
liên quan.
12
Chiến lược (WT): Chiến lược hạn chế điểm yếu. Khi điểm yếu bên
trong liên quan đến nguy cơ bên ngoài. Đây là vị trí khó khăn nhất với một tổ
chức. Tuy nhiên, tính chất thất thường của môi trường nói chung sẽ không
tránh khỏi dẫn đến có những vấn đề chiến lược nằm trong tình huống này.
Nếu như sự tồn tại của tổ chức đang bị đe dọa, thì một chiến lược chủ động có
thể là lựa chọn duy nhất. Nếu như nội dung ở đây chỉ mang tính chất phụ, thì
có thể chọn chiến lược loại bỏ để tập trung vào những cơ hội hứa hẹn ở những
tình huống khác. Tuy nhiên điều quan trọng là xem xét khả năng chuyển một
vấn đề sang tình huống khác. Đây không phải là vấn đề thứ yếu như bề ngoài
của nó. Thay vào đó, cần xem xét khả năng xây dựng một phương án chiến
lược quan trọng đối với tổ chức hoặc hỗ trợ những hoạt động có lợi hơn trong
các hoàn cảnh khác.
- Bước 6: Xác định việc mở rộng những biến đổi có tính chiến lược.
Nhà trường thực hiện những chức năng, nhiệm vụ gì? (What)
Nhà trường thực hiện những chức năng, nhiệm vụ đó với ai? (Who)
Nhà trường sẽ thực hiện những chức năng, nhiệm vụ đó theo cách nào?
(How)
Tại sao nhà trường lại tồn tại? (Why)
Tầm quan trọng của sứ mạng
Tuyên ngôn về sứ mạng miêu tả các mục tiêu và mục đích của tổ chức
(nhà trường). Đây là tuyên bố công khai và phải dựa trên nhu cầu của khách
hàng đã được xác định.
Tuyên bố sứ mạng còn giúp cho cán bộ, viên chức của tổ chức (nhà
trường) hiểu rõ về chức năng, nhiệm vụ; mặt khác giúp đội ngũ cán bộ viên
chức hiểu rõ những việc họ làm gắn chặt với mục đích của tổ chức (nhà
trường) trong tương lai.
Một tuyên bố sứ mạng tốt cần đáp ứng được các tiêu chí sau
14
1) Rõ ràng và tất cả các thành viên, ngay cả những nhân viên bình
thường nhất đều có thể hiểu được.
2) Ngắn gọn để nhiều người có thể nhớ được.
3) Cụ thể hóa rõ ràng công việc nhà trường phải làm? Làm gì? Ai làm?
Làm thế nào? Tại sao?
4) Xác định được hướng đi để đạt được tầm nhìn.
5) Thể hiện năng lực riêng, khác biệt của nhà trường.
6) Phạm vi đủ rộng để linh hoạt khi thực hiện, nhưng không quá rộng
mà bỏ qua trọng tâm.
7) Định dạng được cách thức ra quyết định để trưởng các Khoa, bộ
môn hoặc những người lãnh đạo khác sử dụng.
8) Có thể thực hiện được không? Có thực tế không?
9) Lời lẽ của tuyên bố sứ mạng có thể hiện quyết tâm và tập hợp sức
mạnh của nhà trường?
10) Có sức mạnh tập hợp cán bộ, giảng viên, sinh viên và phụ huynh.
Chất lượng dịch vụ.
Giá trị cần phải có để thực hiện được sứ mạng, đạt được tầm nhìn của
nhà trường.
Việc xây dựng sứ mạng, tầm nhìn, giá trị là hết sức cần thiết đối với sự
phát triển của nhà trường và 3 yếu tố này cần có sự gắn kết với nhau. Các giá
trị thường được thể hiện trong sứ mạng và tầm nhìn.
- Phần 2: Phân tích bối cảnh và thực trạng của nhà trường
Phân tích bối cảnh là khâu thiết yếu của bất kỳ một kế hoạch nào, giúp
nhà trường xác định được nhà trường đang ở đâu.
+ Bối cảnh quốc tế và trong nước
Bối cảnh quốc tế và khu vực (mô hình PEST)
Xu thế chính trị: Xu thế đa cực, hòa bình
16
Xu thế kinh tế: Chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri
thức
Xu thế công nghệ: Kỷ nguyên thông tin, thông tin trở thành tài sản
chung của nhân loại. Giáo dục và công nghệ đang trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp
Xu thế xã hội: Phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn tôn giáo sắc tộc, bệnh tật…
Những yếu tố này tác động đến giáo dục, đòi hỏi giáo dục phải có bước
chuyển để đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao… Giáo
viên là người định hướng, giúp người học biến thông tin thành kiến thức…
Bối cảnh trong nước
Bối cảnh trong nước cũng được phân tích theo bốn yếu tố: Chính trị,
kinh tế, công nghệ, xã hội
+ Đánh giá tác động chung và phân tích cạnh tranh/tác động chéo
Đánh giá tác động chung
Phân tích cạnh tranh
Phân tích tác động chéo
+ Thực trạng của nhà trường
Đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng
- Phần 4: Các chương trình hành động chiến lược
+ Hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý
+ Hoàn thiện thể chế, chính sách
+ Phát triển các nguồn lực
+ Phát triển chương trình giáo dục và học liệu
- Phần 5: Tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
+ Tổ chức thực hiện
Phổ biến kế hoạch chiến lược
Tổ chức (thành lập ban chỉ đạo, theo dõi…)
18
Lộ trình
+ Hệ thống chỉ số thực hiện
Quy mô, cơ cấu ngành nghề, trình độ chất lượng đào tạo
Quy mô, chất lượng, hiệu quả, kết quả, năng lực nghiên cứu khoa học
Phát triển đội ngũ
Phát triển chương trình giáo dục và học liệu
Thu chi, phân phối nguồn lực, phân phối lợi ích
+ Tổ chức giám sát và đánh giá việc thực hiện
Việc xây dựng và thực hiện kế hoạch chiến lược là vô cùng quan trọng
với sự phát triển của tổ chức. Từ kế hoạch chiến lược, các trường sẽ xây dựng
ra kế hoạch năm học, kế hoạch học kỳ, kế hoạch tháng, tuần. Thậm chí trên
cơ sở kế hoạch chiến lược then chốt, các đơn vị, bộ phận, thậm chí là cá nhân
trong trường sẽ xây dựng kế hoạch của mình cho phù hợp.
Việc xây dựng kế hoạch chiến lược cần có sự kế thừa giữa các thế hệ,
tránh tư duy nhiệm kỳ.
1.1.2. Chức năng tổ chức
Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những
ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý
nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế. Xét về mặt chức năng quản
năng tạo ra sức mạnh mới cho tổ chức. Chức năng tổ chức mà chủ thể quản lý
thực hiện phải sắp xếp, bố trí cấu trúc bộ máy tổ chức hợp lý, khoa học, sắp
xếp, bố trí nhân lực phải phù hợp “đúng người, đúng việc”, ngày nay người ta
thường phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa, làm việc theo nhóm
khi đã tạo được sự đồng thuận nhất trí trong công việc thì chắc chắn tổ chức
sẽ phát triển mạnh hơn, công việc đạt hiệu quả cao hơn. Nhưng ngược lại, sự
20
sắp xếp, bố trí thiếu khoa học, tùy tiện, mang tính chủ quan thì tổ chức sẽ bị
mất đoàn kết, công việc trì trệ dẫn tới sự tụt hậu, thậm chí tổ chức bị tan rã.
c. Nội dung của chức năng tổ chức
- Thiết kế cơ cấu tổ chức:
Có thể hiểu cơ cấu tổ chức là tập hợp các bộ phận, cá nhân trong tổ
chức với chức năng nhiệm vụ được xác định cùng mối quan hệ gắn kết với
nhau để thực hiện các hoạt động của tổ chức trên cơ sở đã được thiết kế theo
một mô hình nhất định
Để thực hiện tốt chức năng tổ chức, trước hết chủ thể quản lý phải xác
định, thiết kế cơ cấu tổ chức sao cho phù hợp đảm bảo sự tương ứng giữa chủ
thể quản lý và đối tượng quản lý, thông qua đó có thể biết những ai sẽ làm gì
và họ phối kết hợp với nhau như thế nào. Cơ cấu tổ chức có rất nhiều mô hình
khác nhau, tùy từng đặc điểm cụ thể của tổ chức mà xác định xem áp dụng
mô hình nào.
+ Một số mô hình cơ bản về cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu trực tuyến
Cơ cấu chức năng
Cơ cấu quản lý ma trận
Cơ cấu tổ chức quản lý trực tuyến – chức năng
Cơ cấu thiết kế theo lãnh thổ…
Tùy thuộc vào quản lý ở từng lĩnh vực, từng tổ chức mà chủ thể quản lý
xác định, thiết kế cơ cấu cho tổ chức mình. Không nhất thiết phải thiết kế theo
một mô hình nhất định mà có thể kết hợp các mô hình với nhau để làm sao tổ
thủ và vận dụng trong quá trình phát triển. Ví dụ, một cơ quan hay một đơn vị
trong quá trình hoạt động của mình, chủ thể quản lý cần xác lập các mối quan
hệ giữa các bộ phận, các thành viên bên trong tổ chức đó, nhưng đồng thời
22
cũng phải xác lậ, hình thành và thực hiện tốt các mối quan hệ bên ngoài tổ
chức: với cấp trên, với địa phương, với môi trường… để tạo mọi điều kiện tốt
nhất cho tổ chức phát triển.
- Tổ chức lao động khoa học của nhà quản lý.
Nội dung này bao gồm các yếu tố:
+ Thứ nhất: Đối với tổ chức, từ khi thiết kế cơ cấu đã phải phù hợp tạo
thuận lợi cho sự phối kết hợp. Sắp xếp nhân lực và các nguồn lực khác phải
hết sức khoa học đảm bảo tạo được môi trường làm việc tốt như: Văn hóa nơi
làm việc, môi trường tốt cho sức khỏe người lao động, vệ sinh, an toàn…
+ Thứ hai: Bản thân chủ thể quản lý sắp xếp thời gian hợp lý khoa học
dành cho công việc, gia đình, cho bản thân… Sự khoa học ấy phải được thể
hiện cả về hình thức (phong thái, trang phục, ứng xử…) và nội dung (nâng
cao trình độ, trau dồi phẩm chất, cập nhật kiến thức…). Điều quan trọng đối
với nhà quản lý để làm tốt việc này đó là nhà quản lý phải biết quản lý thời
gian (hiểu cách sử dụng thời gian, lập kế hoạch cho thời gian của mình, xác
định rõ các mục tiêu và thứ tự ưu tiên cho các mục tiêu đó, tránh xa những gì
lãng phí thời gian…).
+ Thứ ba: Phải biết áp dụng khoa học công nghệ trong quá trình làm
việc và quản lý.
Chức năng tổ chức là liên kết các bộ phận, các nguồn lực trong một tổ
chức để thực hiện các kế hoạch đã đề ra. Thực hiện tốt chức năng tổ chức là
sự thành công cơ bản của quá trình quản lý. Để thành công khi thực hiện chức
năng tổ chức nhà quản lý cần chú ý: Phải có kiến thức và năng động trong
quản lý; biết tin tưởng vào đội ngũ nhân viên; xây dựng được văn hóa làm
việc của tổ chức; xây dựng được tầm nhìn, tương lai cho tổ chức; biết động
viên và thưởng phạt thích đáng và biết phát huy tối đa tiềm năng của nhân
lãnh đạo.
24
- Khuyến khích, động viên, đôn đốc công việc:
Để thực hiện tốt nội dung này là điều không hề dễ. Chủ thể quản lý
phải hiểu rõ tại sao trong tổ chức mình có người lại nỗ lực trong công việc, có
người lại lười biếng? Họ làm việc với động cơ gì? Nếu chủ thể quản lý thấu
hiểu được cấp dưới của mình và biết tạo động cơ thúc đẩy họ thì chắc chắn tổ
chức đó sẽ phát triển lớn mạnh. Quá trình quản lý chính là quá trình chủ thể
quản lý tác động lên hoạt động của quá trình xử lý nhu cầu của mỗi cá nhân,
nhóm… theo hướng tạo được động lực mạnh và cùng chiều cho tổ chức.
Để khuyến khích, động viên, đôn đốc công việc chủ thể quản lý có thể
thực hiện:
+ Khuyến khích, động viên bằng kinh tế.
+ Khuyến khích động viên bằng tinh thần (khen, chê…).
+ Tạo điều kiện cho nhân viên được tham gia vào công việc nhiều hơn.
Ví dụ, với giáo viên trẻ mới ra trường, hiệu trưởng có thể tạo điều kiện cho họ
thử sức với nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi nếu họ thực sự có tài năng.
+ Tạo môi trường cạnh tranh.
+ Đổi mới môi trường làm việc.
Tóm lại với chức năng lãnh đạo, chủ thể quản lý phải duy trì hoạt động
của đối tượng quản lý một cách tốt nhất, lựa chọn cách thức tốt nhất động
viên, kích thích họ làm việc đạt hiệu quả cao. Sự khuyến khích động viên dựa
trên mối quan hệ con người, hiểu được nhu cầu của con người cần cả về vật
chất và tinh thần.
- Giám sát và điều chỉnh
Thực hiện hoạt động giám sát nhằm thu thập thông tin về thực trạng
thực hiện kế hoạch đã được xác định (tiến độ, chất lượng, khó khăn…) kịp
thời phát hiện những điển hình tốt để phổ biến, những khó khăn để giúp đỡ,
khắc phục, những thiếu sót để kịp thời uốn nắn… Giám sát thể hiện rõ vai trò
hỗ trợ và theo dõi để tạo môi trường thuận lợi cho cấp dưới hoàn thành nhiệm