Thực trạng và giải pháp phát triển các khu công
nghiệp tại Hải Dương
Đào Thị Hồng Lam Trường Đại học Công nghệ
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Xuân Thiên
Năm bảo vệ: 2007 Abstract: Trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển khu công nghiệp
(KCN). Nghiên cứu thực trạng phát triển các KCN tại Hải Dương qua tìm hiểu môi
trường phát triển các KCN tại Hải Dương; vai trò của các KCN đối với sự phát triển kinh
tế, xã hội của tỉnh Hải Dương và khu tam giác kinh tế đồng bằng Bắc Bộ Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh. Đưa ra những căn cứ và giải pháp phát triển các khu công nghiệp
tại Hải Dương giai đoạn 2006 -2010: cải thiện môi trường đầu tư và môi trường làm việc
cho người lao động; công tác quy hoạch; hoàn thiện bộ máy quản lý các KCN; quy định
ngành nghề sản xuất kinh doanh trong các KCN
Keywords: Hải Dương; Khu công nghiệp; Kinh tế sản xuất
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất và để chuyển từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn là vấn đề cần thiết. Để đạt được mục tiêu này, ở mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà có những con đường và giải pháp riêng. Việt Nam đã và đang
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang ở giai đoạn toàn
tam giác phát triển kinh tế của các tỉnh phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), có nhiều
tuyến giao thông quan trọng đi qua, gần cảng biển và sân bay, gần các trung tâm công nghiệp và
thành phố lớn Hải Dương có nhiều cơ hội để phát triển nhanh các ngành công nghiệp, dịch vụ
và nông nghiệp. Xuất phát từ một tỉnh có sản xuất nông nghiệp chiếm ưu thế, Hải Dương luôn
xác định để phát triển kinh tế xã hội cân đối và bền vững cần phải tập trung vào phát triển công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Hải Dương luôn gắn liền
và chịu sự tác động từ chiến lược phát triển của vùng và cả nước. Để chuyển dịch nhanh cơ cấu
kinh tế và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh, Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ
XIII đã chỉ rõ: “Phát huy mọi nguồn lực; vượt khó khăn thử thách, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Từng bước tăng cường cơ sở kinh tế - xã hội và nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế, đảm bảo các yếu tố phát triển bền vững và có hiệu quả". Ngay từ khi tái lập tỉnh, Hải
Dương đã thấy rõ vai trò của công nghiệp trong phát triển kinh tế địa phương nhằm chuyển dịch
nhanh cơ cấu kinh tế theo mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp là ngành chủ đạo
tạo ra nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế của
tỉnh, phù hợp với xu thế chung của cả nước, của khu vực và trên thế giới. Việc phát triển công
nghiệp đã tạo ra nguồn thu lớn hàng năm cho ngân sách tỉnh (chiếm 60 %- 70%), tạo ra động lực
và định hướng cho các ngành kinh tế - xã hội khác phát triển và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh. Trong thời gian qua, nhờ phát triển các khu công nghiệp mà kinh tế xã hội của
Hải Dương có nhiều chuyển biến tích cực như: đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ, gắn nông nghiệp với công
nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao
động địa phương Tuy nhiên, việc phát triển các khu công nghiệp cũng nảy sinh nhiều vấn đề
như: phát triển cơ sở hạ tầng, giải phóng mặt bằng, phân phối quỹ đất, xử lý chất thải công
nghiệp Nhiều khu công nghiệp ở các địa phương trong cả nước hoạt động hiệu quả như khu
công nghiệp Mê Linh (Vĩnh Phúc), Bắc Thăng Long (Hà Nội), Việt Nam - Singapore (Bình
Dương), Phố Nối (Hưng Yên). Bên cạnh đó, có nhiều khu công nghiệp được đầu tư lớn nhưng khi đi
vào hoạt động vẫn chưa hiệu quả như khu công nghiệp Nomura (Hải Phòng), Đài Tư (Hà Nội). Việc
nghiên cứu xây dựng và phát triển những khu công nghiệp nhằm thu hút các nhà đầu tư vào sản xuất
số 3; Trần Ngọc Hưng (2001), “Hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư phát triển khu công nghiệp
ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế, tháng 4; Th.s Phan Tiến Ngọc (2006), " Vai trò của khu công
nghiệp, khu chế xuất với phát triển kinh tế Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 341; Th.s
Đinh Hữu Quý (2006), "Mô hình khu kinh tế đặc biệt trong điều kiện hội nhập", Tạp chí Kinh tế
và Dự báo, số 403; PGS. TS Phương Ngọc Thạch (2006)," Các chính sách tác động không thuận
lợi đến phát triển các khu công nghiệp", Tạp chí Phát triển kinh tế, số 188; TS Đặng Văn Thắng
(2006) " Nâng cao chất lượng quy hoạch khu công nghiệp- Bài học thực tiễn và những quan
điểm định hưóng", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 397; Enrique Blanco de Armas & Mustapha
Sadni Jallab (2002), A Review of the Role and Impact of Export processing Zones in World
Trade: the Case of Mexico, University Lumière Lyon
Tuy nhiên việc nghiên cứu để xây dựng mô hình khu công nghiệp khác nhau với những đặc
điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính sách đầu tư của Nhà nước đối với từng địa phương, từng
vùng, ở từng giai đoạn là khác nhau và chưa có nghiên cứu cụ thể về khu công nghiệp tại Hải
Dương - Một tỉnh đồng bằng thuộc tam giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích: góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút đầu tư vào khu công
nghiệp nói chung và các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương nói riêng.
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hoá lý luận về sự phát triển khu công nghiệp.
+ Đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư tại các khu
công nghiệp nhằm phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hải Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương và so sánh với
một số khu công nghiệp của các tỉnh tiêu biểu
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng các khu công nghiệp ở Hải Dương từ 2003 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, việc nghiên cứu áp dụng theo phương pháp duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn thông qua thống kê, phân tích, đối chiếu, và so
và chấp thuận đầu tư cho các dự án trong các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương.
5. Ban quản lý các KCN Hải Dương (1/2007), Báo cáo tình hình sử dụng đất trong các
khu công nghiệp tỉnh Hải Dương.
6. Ban quản lý các KCN Hải Dương (1/2007), Mức thuế suất, ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp khu công nghiệp thành lập theo Nghị định số
108/2006/NĐ - CP ngày 22/9/2006 của Chính Phủ.
7. Ban quản lý các KCN tỉnh Hải Dương ( 1/2007), Báo cáo của các phòng thuộc Ban
quản lý (Phòng quản lý lao động, phòng xuất nhập khẩu, phòng quản lý doanh nghiệp, phòng
quản lý đầu tư).
8. Ngô Thế Bắc (2001), “Khu công nghiệp - Khu chế xuất ở Việt Nam hiện nay” ,Tạp chí
Phát triển Kinh tế, số 3.
9. Nguyễn Thanh Bình (2007), "Giải quyết nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp ở Hà
Nội.", Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 122.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lê Nin, Nxb Chính
trị quốc gia.
11. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Phát triển khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam
trong tiến trình hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo.
12. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (7/2006), "Thành tựu 15 năm xây dựng và phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và Dự báo.
13. Các quy định mới về khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam
(2005), Nxb Chính trị Quốc gia.
14. Phùng Quốc Chí (2004), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hưng Yên thực trạng và giải
pháp, Luận văn Thạc sĩ, Khoa kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. 15. Nguyễn Văn Chọn (1996), Kinh tế đầu tư, Nxb Giáo dục.
16. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-
Lê Nin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia.
17. Trần Ngọc Hưng (2001), “Hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư phát triển khu công
nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế, số tháng 4.
Quốc gia.
33. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006), Nxb Chính trị
Quốc gia.
Tiếng Anh
34. Aradhna Aggarwal (2004), Export Processing Zones in India: Analysis of the
Export Performance, ICRIER.
35. Brian Van Arkadie & Raymond Mallon (2004), Vietnam- the tiger is changing,
Statistics Publishing house.
36. Enrique Blanco de Armas & Mustapha Sadni Jallab (2002), A Review of the Role
and Impact of Export processing Zones in World Trade: the Case of Mexico, University Lumière
Lyon.
37. Michael. E. Porter (1996), The competitive Strategy. M. Business.
38. Michael. E. Porter (1998), The competitive advantage of Nations. M. Business.
39. UNIDO, Vienna (1986), Guide to practical project appraisal social benefit - cost
analysis in developing countries.
40. Wei Ge (1999), The Dynamics of Export Processing Zones, UNTAD.
41. Các Website : www.mpi.gov.vn (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
www.haiduong.gov.vn (tỉnh Hải Dương)
www.binhduong.gov.vn (tỉnh Bình Dương)
www.dongnai.gov.vn (tỉnh Đồng Nai)
www.hungyen.gov.vn (tỉnh Hưng Yên)