Nhận diện những rào cản trong việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh bắc giang - Pdf 30

0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ PHƯƠNG NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Khoa học quản lý
Hà Nội, 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



DANH MỤC TỪ VIÊT TẮT 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 8

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1. Lý do chọn đề tài 9

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

2.1. Ở nước ngoài
11

2.2. Ở trong nước
11

3. Mục tiêu ngiên cứu 17

4. Phạm vi nghiên cứu 17

5. Câu hỏi nghiên cứu 17

6. Giả thuyết nghiên cứu 17

7. Phương pháp nghiên cứu 18

8. Kết cấu luận văn: 18

Chương 1: XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

33

1.3. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương 34

1.3.1. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Nam Định
34

1.3.2. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Vĩnh Phúc
36

3
Tiểu kết chương 1 39

Chương 2. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG – NHẬN DIỆN
MỘT SỐ RÀO CẢN
2.1. Đặc diểm nông nghiệp, nông dân, nông thôn tỉnh Bắc Giang 40

2.1.1. Giới thiệu chung về tỉnh Bắc Giang
40

2.1.2. Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn Bắc Giang
43

2.2. Chủ trương của Tỉnh ủy, chính sách của HĐND, UBND tỉnh Bắc Giang về
xây dựng nông thôn mới 49

2.2.1. Chủ trương của Tỉnh ủy; Cơ chế, chính sách của HĐND tỉnh
49


giữ an ninh, trật tự xã hội 64
2.3.3. Kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh
và 40 xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 66

2.4. Nhận diện những rào cản trong việc thực hiện chính sách xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn tỉnh 70

4
2.4.1. Rào cản về nhận thức chưa đầy đủ về chính sách xây dựng nông thôn
mới .
70

2.4.2. Rào cản trong công tác chỉ đạo, định ra tiêu chí chưa phù hợp cho các
vùng, miền; đặt ra mục tiêu về thời gian và số lượng hoàn thành xã nông
thôn mới của Bắc Giang thể hiện sự nóng vội, khó thực hiện.
73

2.4.3. Nhóm rào cản về cơ chế chính sách và nguồn lực
77

2.4.3.1. Về cơ chế chính sách
77

2.4.3.2. Rào cản về nguồn lực
84

2.4.4. Khó khăn trong phát huy hiệu quả hoạt động các thiết chế văn hóa gắn
với việc xây dựng nông thôn mới
87
Tiểu kết chương 2 …93

3.2.4. Nhóm giải pháp về nguồn lực
105

3.2.4.1. Giải pháp về vốn
105

3.2.4.2. Giải pháp về nguồn nhân lực
111

3.3. Giải pháp thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn 114

3.4. Giải pháp về công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch 116

5
3.5. Giải pháp về văn hóa 116

3.5.1. Giải pháp xây dựng cơ sở vật chất văn hóa
116

3.5.2. Giải pháp xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn mới Bắc
Giang
118

Tiểu kết chương 3: 122

KẾT LUẬN 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
6
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, trong quá trình triển khai
nghiên cứu, khi những kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học, những kinh
nghiệm về thực tế cũng như năng lực của bản thân còn hạn chế, em đã nhận
được sự chỉ bảo rất tận tình của giáo viên hướng dẫn, sự động viên, giúp đỡ
của các thầy cô trong khoa Khoa học Quản lý, thầy cô trong nhà trường và sự
chia sẻ, giúp đỡ của bạn bè, người thân.
Qua đây, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Phan Hữu Tích-
người đã hết mực nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn em trong suốt thời gian thực
hiện đề tài, từ việc định hướng khoa học đến việc lựa chọn các phương pháp
nghiên cứu và cách trình bày kết quả nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh, chị trong bộ phận Văn
phòng điều phối xây dựng Nông thôn mới tỉnh Bắc Giang đã hợp tác, chỉ bảo
và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khuyến khích
và tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.

Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Học viên
Vũ Thị Phương
8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Biểu Nội dung Trang
Biểu 2.2.
Sơ đồ cấu tạo Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG xây
dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang
56
Biểu 2.3
Kết quả thực hiện tiêu chí nông thôn mới ở 40 xã xây
dựng NTM giai đoạn 2011-2015

66
Biểu 1.1. Phụ lục Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 125
Biểu 2.1. Biểu điều tra thực trạng nông thôn tỉnh Bắc Giang 128
chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế
Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ
nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch
giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh
nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Vì vậy, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X đã đề ra chủ trương xây dựng NTM vừa phát triển kinh tế xã
hội, nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, phát triển nông nghiệp, nông
thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân sống ở nông thôn
10
nói riêng, đồng thời nhằm khắc phục những mặt yếu kém trên. Chương trình
mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng của
Đảng và Nhà nước ta nhằm cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn. Thực hiện Nghị quyết Trung ương, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04-6-2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.
Bắc Giang là một tỉnh nông nghiệp, dân số gần 1,6 triệu người với 90,4 %
dân cư sinh sống ở vùng nông thôn, lao động nông thôn chiếm gần 70%; Tỉnh
có 207 /230 xã, phường, thị trấn là xã nông nghiệp. Từ khi tái lập tỉnh đến nay,
mặc dù đã có nhiều nỗ lực và cố gắng của các cấp, các ngành, của cộng đồng
các dân tộc và đầu tư của các doanh nghiệp vào khu vực nông thôn, nhưng nhìn
chung bộ mặt nông thôn của tỉnh vẫn còn nhiều bất cập.
Do đó, việc xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2015
theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 01-
NQ/TU ngày 27- 4-2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới
giai đoạn 2011-2015; Nghị quyết số 145-NQ/TU ngày 14-7-2011 của Ban
Thường vụ tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là thực sự cần thiết.
Thời gian qua, “Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới” được
các cấp, các ngành tỉnh Bắc Giang quan tâm chỉ đạo thực hiện, nhân dân tích cực

công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề của chính
sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như: tương lai của các trang trại nhỏ;
nông dân với khoa học; hệ tư tưởng của nông dân ở thế giới thứ ba; các hình thức
sở hữu đất đai; những mô hình tiến hoá nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng
lúa. Đặc biệt lưu ý là những kết quả nghiên cứu của công trình về làng truyền
thống ở Việt Nam; quan hệ làng xóm - làng - nước ở Việt Nam trong quá trình
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
2.2. Ở trong nước
* Môt số bài báo được đăng tải trên các báo:
Nguyên Thứ trưởng Bộ NN và PTNT Hồ Xuân Hùng trong một bài báo
đăng trên tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tháng 12 năm 2011)
12
khi bàn về “Một số vấn đề cần thống nhất về Chương trình MTQG XDNTM”.
Ông đã đưa ra một số khó khăn và khuynh hướng lệch lạc đang xuất hiện khi
thực hiện Chương trình MTQG XDNTM” là vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, theo đó là cơ cấu
kinh tế, theo hướng giảm lao động và tỷ trọng GDP trong nông nghiệp và khó
khăn trong tổ chức lại sản xuất gắn với xác lập các tổ chức xã hội, nghề
nghiệp trong nông nghiệp.
Về những khuynh hướng lệch lạc đang xuất hiện cần ông cho rằng
khuynh hướng lớn nhất là tư tưởng nóng vội, do áp lực của dân và nhận thức
chưa đầy đủ hết khó khăn của quá trình XDNTM; Khuynh hướng thứ hai là
trông chờ ỷ lại và chỉ trông chờ vào các nguồn lực từ trên xuống; Khuynh
hướng thứ 3 là coi XDNTM là một dự án tập trung chủ yếu vào xây dựng kết
cấu hạ tầng là chính. Vì vậy theo ông, trong quá trình chỉ đạo thực tiễn bộc lộ
nhiều vấn đề chưa thống nhất trong “cách hiểu” và “cách làm” không chỉ ở cơ
sở mà ngay cả ở Ban chỉ đạo và các bộ phận giúp việc các cấp. Vì vậy, cần
phải có những định hướng rõ nhận thức và tuyên truyền từ trên xuống dưới,
trước hết là bộ phận cán bộ.
Đánh giá kết quả triển khai chương trình xây dựng nông mới tại 11 xã

và những vấn đề vẫn còn tồn tại trong việc mở rộng mô hình xây dựng
NTM; Đánh giá kết quả thực tế của mô hình phát triển kinh tế - xã hội
tại một số xã thí điểm xây dựng mô hình NTM ở các địa phương trong cả
nước. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nhân rộng, phát triển
mô hình về xây dựng NTM.
Khóa luận tốt nghiệp Đại học “Một số giải pháp xây dựng nông
thôn mới huyện Gia Lâm - Thành phố Hà Nội theo hướng đô thị hóa” của tác
giả Hà Thị Giang. Luận văn đã nêu rõ Chương trình xây dựng NTM là một
chương trình mang lại diện mạo mới cho các vùng nông thôn nói chung, tạo động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một địa phương. Xây dựng NTM theo
hướng đô thị hóa sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi và cơ hội để vùng đó tiến lên xây
dựng và phát triển kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
14
Nghiên cứu về kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang, tác giả Giáp Thị Dậu có đề tài Thực trạng và giải pháp nhằm xây dựng
nông thôn mới tại xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012
- 2015. Tác giả nhận định Chính sách xây dựng mô hình NTM đang được diễn ra
mạnh mẽ trong phạm vi cả nước, xã Thanh Lâm thuộc huyện Lục Nam tỉnh Bắc
Giang đang bước đầu bắt tay vào xây dựng mô hình NTM. Vì vậy việc tìm
hiểu tình hình thực tế tại địa phương từ đó đưa ra những giải pháp để đáp
ứng được những tiêu chí đề ra của chính sách xây dựng NTM, góp phần cải
thiện bộ mặt của xã và nâng cao đời sống cho người dân nông thôn tại địa
phương là hết sức cấp bách.
* Sách:
Ở trong nước có hàng loạt công trình nghiên cứu về nông nghiệp,
nông thôn. Công trình “Nông dân, Nông thôn và Nông nghiệp: những vấn
đề đang đặt ra”. Đây là tập hợp các bài viết trong khuôn khổ đề tài nghiên
cứu về “tam nông” của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS. Mỗi tác giả có một
cách nhìn riêng và đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của vấn đề, nhưng
đều có điểm chung nhau ở chỗ đánh giá thực trạng, vạch rõ nguyên nhân

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá bền vững. Để phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững từ nay đến năm 2020,
thì phải lấy nông dân làm trung tâm. Do đó, cần quán triệt các quan điểm: xác
định rõ tầm quan trọng và bản chất của phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
bền vững; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn bền vững
phải là cơ sở của các giải pháp khắc phục và phát triển kinh tế - xã hội; xuất
phát từ nhu cầu nội tại của bản thân các địa phương, tìm những giải pháp ở
nông thôn Việt Nam mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng con đường tất yếu
kinh tế; có cách nhìn mới về tiến hóa.
Công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi
mới” của PGS,TS. Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, năm 2003. Đây là công
trình nghiên cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có
tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm,
công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn
16
nước ta như là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ. Công trình đã
luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn
nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra
trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Những gợi mở
về những vấn đề cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta
như vấn đề đầu tư, vấn đề phân hoá giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng
cạnh tranh, xuất khẩu nông sản đã được tác giả lý giải với nhiều luận cứ có
tính thuyết phục.
Công trình: “Phát triển nông thôn” do GS. Phạm Xuân Nam (chủ biên)
Nxb Khoa học xã hội ấn hành năm 1997, là một công trình nghiên cứu chuyên
sâu về phát triển nông thôn. Trong công trình này, tác giả đã phân tích khá sâu
sắc một số nội dung về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như dân
số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng và quản lý
nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; vấn đề phân tầng xã hội và xoá đói giảm
nghèo. Trong lúc phân tích những thành tựu, yếu kém và thách thức đặt ra

- Không gian nghiên cứu: địa phận Tỉnh Bắc Giang (40 xã xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015), xã Tân Thịnh huyện Lạng Giang
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến năm 2014
5. Câu hỏi nghiên cứu
Một là, nông thôn mới là gì? Việc xây dựng nông thôn mới đã gặp
những khó khăn, vướng mắc và những hạn chế gì?
Hai là, có những rào cản nào trong thực hiện xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang?
Ba là, những giải pháp nào để tháo gỡ những rào cản trong việc thực
hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Chủ trương xây dựng nông thôn mới có tầm chiến lược đặc biệt quan
trọng của Đảng và Nhà nước ta; chỉ đạo thực hiện trên thực tế đạt kết quả
bước đầu, nhưng cần được bổ sung, hoàn thiện
Rào cản đối với xây dựng nông thôn mới ở Bắc Giang thể hiện trong chỉ đạo
và tổ chức thực hiện (tiêu chí, chính sách và nhận thức, tổ chức triển khai….)
18
Một số giải pháp tháo gỡ rào cản (Nâng cao nhận thức; rà soát, bổ
sung, điều chỉnh tiêu chí, chính sách, nguồn lực…)
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý
luận chủ nghĩa Mác-Lênin lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường
lối của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đề tài được đặt trong bối
cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, trong bối cảnh chung của thế giới,
trong nước và điều kiện thực tế của tỉnh.

8.2. Phương pháp cụ thể
- Phương pháp thu thập, thống kê dữ liệu:
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Kết quả thống kê hoạt động sản xuất nông

phần xã hội của dân số, các di sản văn hoá, sự phồn thịnh, sự phân hoá xã hội của
dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng
của mối liên hệ xã hội, v.v. Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được
phản ánh rõ nét trong những nguyên lí của xã hội học nông thôn - đô thị. Trong đó,
những tiêu chí quan trọng giúp việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị
bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ
dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và
phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng.
Có thể coi nông thôn Việt Nam bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân
tập trung dưới 4.000 người, mật độ dân cư ít hơn 6.000 người/ km2 và tỉ lệ lao động
phi nông nghiệp dưới 60%, tức là tỉ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 40% trở lên.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu
nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập
hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường
trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn định nghĩa ”Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị
các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban
nhân dân xã”.
* Một số đặc điểm của nông thôn Việt Nam:
Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông,
đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm,
20
ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp.
Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là
nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân. Cùng với sự phát triển và tiến bộ
của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi. Các vùng nông thôn trong tương lai sẽ
không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào đó là
các cư dân cư trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, gồm cả sản xuất
nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ. Theo đó, tỷ trọng lao

bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng
cường”. Có thể quan niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu
trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu
mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây
dựng trên cơ sở nông thôn cũ (truyền thống, đã có) nhưng manh tính tiên tiến về
mọi mặt”.
NTM trước hết là một vùng nông thôn chứ không phải đô thị. Bởi nó vẫn
mang những nét đặc trưng vốn có của nông thôn truyền thống, cả về quan hệ sản
xuất và lực lượng sản xuất, cả về hình thái bên trong và bên ngoài (về cơ sở hạ
tầng, về quy hoạch bố trí nhà ở, hình thức nhà ở, đường làng ngõ xóm… và về
quan hệ xóm giềng, về phong cách sống của người dân nông thôn). Tuy nhiên
NTM là vùng nông thôn có những nét hiện đại mà nông thôn truyền thống không
có được. Đó là việc canh tác theo kiểu hiện đại, sử dụng các công nghệ kĩ thuật
hiện đại vào trong sản xuất nông nghiệp. NTM ngoài sản xuất nông nghiệp còn
phải phát triển mạnh các ngành sản xuất CN-TTCN và các ngành thương mại,
dịch vụ, du lịch… Ngoài sự thay đổi về mặt kinh tế, ở vùng NTM đời sống văn
hóa tinh thần của người dân cũng được nâng cao. Quyền tự do dân chủ của
người dân được phát huy cao độ, người dân được tham gia vào quá trình lập và
đề ra các quy hoạch, được đóng góp ý kiến vào việc xây dựng và phát triển
địa phương.
1.1.2.2. Mô hình nông thôn mới
Nghị quyết Đại hội lần thứ VII-BCH Trung ương Đảng khoá X về nông
nghiệp, nông dân nông thôn đã chỉ rõ: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có
vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và
22
bảo vệ Tổ quốc. Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải
quyết đồng bộ, gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp - nông dân - nông thôn,
nông dân là chủ thể của quá trình phát triển. Xây dựng nông thôn gắn với xây
dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là

- Giữ gìn bản sắc, tập quán văn hóa của địa phương
Xây dựng nông thôn mới là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông
thôn đồng lòng xây dựng làng, xã của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản
xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi
trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh
thần của người dân được nâng cao. Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách
mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không
chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Xây dựng
nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, độc
lập và đoàn kết, cộng đồng cùng nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,
dân chủ, văn minh.
1.2. Chủ trương chỉ đạo của Trung ương về xây dựng nông thôn mới
Chủ trương của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói
chung, xây dựng nông thôn mới nói riêng được bắt đầu bằng Nghị quyết số
26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Mục tiêu Nghị
quyết xác định: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã
hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao,
môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh
đạo của Ðảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên
minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội
và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
24
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư Trung ương khóa X, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
24/2008/NQ-CP , ngày 28/10/2008, xác định “Chương trình MTQG xây dựng
nông thôn mới”; Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ tướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status