Chuyên đề 10 tổ chức phục vụ sản xuất xây dựng - Pdf 30

CHUYÊN ĐỀ 10: TỔ CHỨC PHỤC VỤ SẢN XUẤT XÂY DỰNG
PGS Lê Kiều soạn và giảng
1. Lập tổng mặt bằng xây dựng
1.1. Các thành tố của tổng mặt bằng xây dựng:
Thiết kế tổng mặt bằng xây dựng nhằm đáp ứng các điều kiện phục vụ thi công
thuận lợi nhất. Các thành tố cơ bản của tổng mặt bằng là:
• Các công trình chính phải thi công
• Hệ thống đường xá phục vụ thi công
• Hệ thống cung cấp năng lượng, cấp điện cho mọi nhu cầu sản xuất, sinh
hoạt và bảo vệ trên công trường
• Hệ thống thoát nước cho công trường
• Hệ thống cấp nước cho công trường
• Hệ thống phòng chống cháy, chống nổ
• Hệ thống kho , bãi cất chứa vật liệu
• Hệ thống các nhà sản xuất , xưởng gia công phục vụ thi công chính
• Bể ngâm tẩm gỗ, nơi nấu bitum, bể tôi vôi
• Hệ thống nhà tạm phục vụ các công tác điều hành sản xuất , thi công trên
công trường
• Hệ thống bảo đảm thông tin liên lạc đối nội và đối ngoại của công trường
• Hệ thống nhà phục vụ công nhân sinh hoạt tạm thời khi sản xuất trên công
trường.
• Hệ thống nhà vệ sinh cho công nhân sử dụng trong lúc sản xuất
• Cổng bảo vệ, hàng rào địa giới xây dựng, bảng hiệu bên ngoài, bên trong.
1.2 Các yêu cầu của tổng mặt bằng:
Thiết kế tổng mặt bằng phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
• Sự sắp xếp các thành tố trên tổng mặt bằng phải phục vụ thi công thuận lợi
nhất.
• Sự sắp xếp các thành tố tổng mặt bằng phải bảo đảm an toàn tuyệt đối
trong quá trình thi công. Không có sự chồng chéo, cản trở lẫn nhau giữa các thành
tố. Phải bảo đảm các nguyên tắc về an toàn lao động.
• Các thành tố được sắp xếp trên tổng mặt bằng phải được cân nhắc, chỉ đưa

+ Bố trí máy thi công phụ thuộc vào công tác cần thiết. Việc lựa chọn vị trí cần
xét tới yếu tố sử dụng đồng thời xét đến các yếu tố an toàn. Cần vạch ra phạm vi
hoạt động của máy để xác định vùng khả dĩ nguy hiểm cho các hoạt động khác
phối hợp hay dưới tầm với của máy móc như cần trục tháp, máy bơm bê tông,
máy vận thăng, máy đào đất các loại.
+ Các xưởng, các bãi sản xuất, gia công cố gắng để có thể lưu giữ xuốt đời công
trường. Càng ít di chuyển càng đỡ chi phí xây dựng tạm nhưng cũng không quá
câu nệ , không dám di chuyển để ảnh hưởng đến các quá trình thi công khác nhau
diễn ra theo nhiều thời gian khác nhau.
+ Cần chú ý đến những khu vệ sinh, nơi chăm sóc y tế, sức khoẻ của công nhân.
Những vị trí này dễ phát hiện nhưng phải ở nơi an toàn và xe cộ ra vào để cấp cứu
thuận tiện.
+ Những nơi sinh bụi như bãi cát, nơi có thể sinh khói, hơi độc hại như nơi ngâm
tẩm gỗ, nơi tôi vôi phải chú ý hướng gió. Không để gió hắt những loại bụi, hơi
gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ công nhân vào khu vực sản xuất, sinh hoạt của
người. Nhất thiết khi thiết kế tổng mặt bằng phải sử dụng hoa gió tại địa phương
để sắp xếp vị trí các thành tố của tổng mặt bằng.
+ Phải đảm bảo ánh sáng cho mọi điểm sản xuất. Nơi nào không bố trí được ánh
sáng thiên nhiên, phải bố trí ánh sáng nhân tạo đủ cho sản xuất an toàn.
+ Hàng rào công trường phải theo đúng các quy định cho từng khu vực xây dựng.
Thí dụ khu vực xây dựng là trong đô thị, hàng rào phải cao trên 2 mét. chắc chắn
và kín khít để bên trong và bên ngoài công trường không nhìn thấy nhau. Cần chú
ý che chắn trên cao , nhất là che chắn để rác xây dựng, gạch, ngói, mẩu gỗ không
rơi sang nhà liền kề.
• Hoa gió :
Hoa gió là cách thể hiện các loại biểu đồ về gió tại một địa phương. Hiện nay sử
dụng hai loại hoa gió cơ bản là hoa tần suất gió và hoa tốc độ gió. Từ số liệu
thống kê nhiều năm về tần suất gió và về tốc độ gió của từng địa phương mà đưa
thành tiêu chuẩn, do các đài khí tượng cung cấp nhiều năm để vẽ thành hoa gió.
Hướng gió tới biểu diễn bằng tên của phương vị theo địa lý thổi tới nơi quan trắc.

Hiện nay ta đang sử dụng tiêu chuẩn “Số liệu khí hậu dùng trong thiết kế xây
dựng tcvn 4088-85 ” là tiêu chuẩn hiện hành về số liệu khí hậu nước ta vẽ thành
hoa gió .
Thí dụ về hoa gió:
Đây là hoa tần suất gió toàn năm vẽ cho khu vực Hà nội , số liệu để vẽ dựa vào
tiêu chuẩn số liệu trong TCVN 4088-85.
Theo biểu đồ này thì tính bình quân trong năm, số ngày có gió theo hướng Đông
Nam nhiều. Tuy nhiên vào mùa Đông, cũng có nhiều ngày gió Đông-Bắc.
Bố trí tổng mặt bằng xây dựng cần căn cứ vào biểu đồ hoa gió, tránh sắp xếp tuỳ
tiện.
B
Phải căn cứ vào hoa gió để sắp xếp vị trí các thành tố phục vụ xây dựng như nhà
sản xuất, kho bãi vật liệu rời, khu vệ sinh, nơi mà quá trình vận hành sẽ sinh ra
chất độc hại như khu vực ngâm tẩm gỗ, nơi nấu bitum, nơi tôi vôi, nơi chứa xăng,
dầu, mỡ , khu làm việc, khu phục vụ sinh hoạt của công nhân. Loại nhà phục vụ
nào cần thoáng, mát, nơi nào sinh bụi, sinh độc phải căn cứ vào đặc tính để lựa
chọn vị trí cho hợp lý, xét theo quan điểm gió thổi. Kết hợp sao để vị trí công
trình phục vụ được thuận lợi cho sản xuất đồng thời đáp ứng các yêu cầu về an
toàn lao động và vệ sinh, là sự kết hợp rất không đơn giản.
Đặt từng công trình phục vụ vào từng vị trí phải xem xét nhiều mặt. Sự dễ dãi sẽ
làm mất đi tiện nghi phục vụ sản xuất hay kém đi điều kiện vệ sinh, an toàn là sự
thường gặp khi bố trí tổng mặt bằng. Các yêu cầu khi sắp xếp tổng mặt bằng cần
được đồng thời nghiên cứu và phải đáp ứng.
2. Nhiệm vụ, nội dung và kế hoạch hoá việc tổ chức cung ứng vật tư
2.1 Nhiệm vụ của công tác cung ứng vật tư
Công tác cung ứng vật tư là khâu hết sức quan trọng trong tổ chức sản xuất xây
dựng. Công tác cung ứng vật tư có nhiệm vụ đáp ứng các yêu cầu về vật tư phục
vụ cho sản xuất của đơn vị.
Vật tư phục vụ cho sản xuất phải được đáp ứng đúng chủng loại, có chất lượng
theo các yêu cầu của sản xuất, đủ về số lượng, đúng thời gian và dĩ nhiên là giá cả

Không thu mua hàng trôi nổi trên thị trường mà không có xuất sứ rõ ràng.
- Thu mua đủ số lượng vật tư yêu cầu : Hàng hoá giao nhận phải được cân đo
theo đúng quy định trong hợp đồng thu mua. Không được áng chừng hoặc có
những thoả thuận không được ghi trong văn bản hợp đồng thu mua hàng hoá.
Số lượng phải phù hợp với số lượng ghi trong hợp đồng. Đơn giá để thanh toán
phải phù hợp với chất lượng đã quy định và khớp với các điều kiện hợp đồng. Khi
phát hiện thấy điều kiện chất lượng không khớp với hợp đồng thu mua đã ký kết,
cần có văn bản ghi nhận sự khác biệt và có điều chỉnh đơn giá theo thực tiễn.
- Giao hàng đúng hạn theo yêu cầu
Hàng hoá giao nhận phải đúng hạn. Thời hạn giao nhận hàng đã được tính toán
sao cho thời gian cất chứa tại công trường là ngắn nhất. Lưu giữ vật tư lâu ở công
trường, chưa đưa vào sử dụng phải chịu chi phí bảo quản tăng, tăng diện tích cất
chứa và dễ bị những rủi ro về bảo quản, về lưu giữ.
Thời hạn định ra để nhận hàng đã tính toán phục vụ thi công sát ngày. Nếu chậm
trễ sẽ gây ra chờ đợi giữa các bộ phận thi công với nhau hoặc nhỡ nhàng trong
việc sử dụng máy móc, phương tiện đã bố trí hợp đồng rất ăn khớp trong tiến độ
chung.
- Vận chuyển an toàn
Quá trình vận chuyển vật tư đến giao cho công trường phải đảm bảo thật an toàn.
Vận chuyển không an toàn sẽ làm thiếu hụt vật tư đã được trù liệu sát với số
lượng sử dụng. Khi thiếu hụt vật tư do vận chuyển không an toàn đem lại sẽ phải
mất công đàm phán giữa các bên hữu quan về lượng bổ sung và phải có thời gian
để bổ sung vật liệu. Điều này dẫn đến làm chậm trễ thời gian giao nhận, ảnh
hưởng đến tiến độ thi công hay sản xuất của doanh nghiệp. Những hàng hoá giao
không đúng hạn phải lập biên bản sử lý ngay. Những hàng hoá bị hư hỏng do vận
chuyển phải lập hồ sơ và sử lý kịp thời. Nếu thiếu hụt phải được bổ sung ngay.
Khi chất lượng thay đổi, phải có giải pháp thích hợp để sử lý, không để ảnh
hưởng đến tiến độ thi công vì vật tư thiếu hoặc không đáp ứng yêu cầu.
- Giao nhận an toàn
Việc giao nhận vật tư, hàng hoá phải căn cứ vào hợp đồng mua sắm và hợp đồng

đơn đặt hàng. Nơi được yêu cầu cung ứng theo đơn đặt hàng thường phải là nơi
sản xuất chuyên trách, có sở trường cũng như năng lực cung ứng loại hàng đặc
chủng được yêu cầu. Những mặt hàng còn đang trong giai đoạn sản xuất thí điểm
hoặc còn đang trải qua giai đoạn thí nghiệm để hoàn chỉnh được khuyến khích
cung ứng theo đơn đặt hàng. Cũng có thể có những mặt hàng không sản xuất đại
trà vì nhu cầu cung ứng chung của xã hội không lớn nhưng nếu đơn vị sử dụng có
yêu cầu, có thể đặt mua theo đơn đặt hàng. Thí dụ như khi cần thi công công trình
biển mà đơn vị thu mua cần sử dụng xi măng bền sunphát, có thể yêu cầu nhà
máy sản xuất xi măng sản xuất đặc thù một số lượng xi măng như yêu cầu.
* Thu mua lẻ
Khi khối lượng hoặc giá trị thu mua nhỏ, mặt hàng thu mua đơn chiếc có thể thu
mua lẻ. Khi thu mua lẻ cũng phải khảo sát thị trường để nắm được tình hình tồn
tại mặt hàng cần tìm có trên địa bàn, cần giá cả hợp lý của mặt hàng để tránh sự
thu mua chủ quan. Cần có khâu khảo sát để tìm hiểu thị trường về loại hàng hoá
cần thu mua. Chất lượng hàng hoá , sự phù hợp của catalogue với các yêu cầu sử
dụng là tiêu chí hàng đầu để quyết định thu mua. Không vì thu mua lẻ mà nhân
nhượng các tiêu chí tiêu chuẩn chất lượng sử dụng. Từng món hàng thu mua đúng
hoặc thấp hơn giá dự toán thì tổng chi phí cho sản xuất mới không vượt dự toán.
Nhân nhượng về giá cả sẽ kéo theo sự vượt dự toán. Tuy nhiên việc quyết định
phải cân nhắc trên thế tổng thể và sự việc toàn cục. Cần cân nhắc , không vì một
mặt hàng mà làm toàn bộ hay nhiều công việc bị ách tắc. Cân nhắc trên sự tăng
giá của một số mặt hàng thu mua làm ảnh hưởng đến toàn cục ra sao. Phải tính
được cái giá của thời gian để xem lợi hay hại khi phải quyết định những việc
ngoài dự kiến.
Câu chuyện Điền Kỵ có Tôn Tẫn là quân sư thi ngựa với vua nước Tề thời Chiến
Quốc bên Trung Quốc luôn nhắc nhở người quản lý phải nhìn cái lợi tổng thể khi
quyết định chiến thuật sản xuất hay hành động.
2.3 Tổ chức vận chuyển
Đặc điểm của sản phẩm xây dựng là kích thước lớn, thời gian thi công dài và gắn
liền với mặt đất nên công tác vận chuyển trong công nghiệp xây dựng là hết sức

xếp.
Trong tổ chức vận chuyển phải luôn luôn đề phòng các sự cố trong quá trình vận
chuyển .
Khi lập phương án vận chuyển , phải nêu ra các khả năng làm ách tắc vận chuyển
và đề ra phương án đối phó với những ách tắc này. Những khả năng hay xảy ra
trong công tác vận chuyển thường là:
+ Không đủ hàng để chuyên chở.
+ Phương tiện bốc xếp không đáp ứng thời gian.
+ Đường sá xấu, không bảo đảm tốc độ di chuyển. Đường sá bị ngập, lụt cục bộ
và các sự cố về đường sá đột ngột, không lường trước được như mưa gió, xạt lở
đường bất ngờ.
+ Mất mát hàng hoá giữa đường.
+ Xe bị hỏng khi đang di chuyển.
+ Tai nạn giao thông khi xe đang di chuyển.
+ Xe bị giữ do vi phạm luật lệ giao thông trong quá trình di chuyển.
Ngay khi lập phương án vận chuyển cần có các giải pháp ứng phó với từng sự cố
khả dĩ xảy ra trong quá trình vận chuyển.
Thí dụ như với sự cố thiếu hàng chuyên chở, giải pháp đối phó là kết hợp nhiều
nguồn hàng để khi thiếu hàng, phải chuyên chở kết hợp cho đủ chuyến xe. Với sự
thiếu phương tiện bốc xếp, cho phép bốc xếp ngoài giờ hoặc kết hợp bốc cơ giới
với thủ công, sao cho thời gian bốc xếp hàng lên xe là nhanh nhất.
Để đối phó với khả năng bị mất hàng khi đi đường, phải để hàng trong thùng xe
có lưới bảo vệ, lưới này quây kín và có khoá bảo vệ hàng.
Lường trước khả năng khó khăn và biện pháp đối phó sẽ tránh được đến mức tối
đa sự cố trong vận chuyển hàng hoá.
Cần lập bản đồ di chuyển để theo dõi lộ trình di chuyển cho từng xe, từng đoàn
xe. Phải bố trí phương tiện liên lạc như điện thoại di động và các quy ước liên lạc
để nắm chặt chẽ quá trình di chuyển của từng xe.
2.4. Tổ chức cất chứa
Tuỳ theo loại hàng hoá, tuỳ theo phương thức tổ chức vận chuyển , có các phương

sơn có thể giao nhận theo số lượng ghi trên bì. Tuy nhiên cũng cân theo xác suất
một số bao để thấy số lượng bên đóng bao cung cấp. Việc giao theo số lượng ghi
trên bao bì chỉ thực hiện khi bao bì còn nguyên vẹn. Nếu bao bì đã bị mở, bung ,
rách, hỏng, phải kiểm tra bằng cân thực tế.
+ Nhận tại nơi sử dụng:
Khâu bảo quản vật tư, hàng hoá trong kho cần thiết phải chi phí một khoản tiền,
khoản này sẽ được phân bổ vào giá thành xây dựng. Giảm được chi phí cất chứa
vật liệu , hàng hoá trong kho góp phần vào việc hạ giá thành sản phẩm. Một trong
biện pháp hạ chi phí bảo quản kho có thể tổ chức theo hình thức là bên cung ứng
vật tư giao hàng hoá tại hiện trường sử dụng.
Hình thức này được thực hiện theo cách là bên cung ứng nhận hàng trực tiếp từ
nơi bán hàng và giao ngay tới nơi cần sử dụng. Thực hiện phương thức này hàng
hoá không qua kho mà giao thẳng từ khâu thu mua về nơi sử dụng. Điều này đòi
hỏi khâu thủ tục xuất nhập vật tư cần ghi chép đầy đủ, làm đầy đủ các chứng từ.
Trước khi sử dụng cần lập phiếu yêu cầu và cấp có thẩm quyền phê duyệt cho
phép sử dụng. Sau đó phải qua kế toán vật tư làm thủ tục xuất hàng. Khâu thu
mua cũng phải làm phiếu nhập hàng để hợp pháp hoá khâu xuất hàng cho sử
dụng.
3. Kế hoạch cung ứng vật tư
3.1. Cơ sở để thiết lập kế hoạch cung ứng vật tư :
Kế hoạch cung ứng vật tư được lập theo nhu cầu của sản xuất của doanh nghiệp:
Nhu cầu vật tư phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Kế hoạch
này được lập theo tiến độ triển khai các dự án sản xuất, được xác định cụ thể cho
năm , quý và tháng kế hoạch.
Kế hoạch triển khai thi công cho từng dự án được lập theo chương trình Microsolf
Project. Phần mềm Microsolf Project đã được đưa chính thức vào hệ chương trình
Window từ Window 98 trở lại đây. Hiện nay đã có chương trình phần mềm
Microsolf Project 2002 sử dụng để lập và theo dõi tiến độ sản xuất của các doanh
nghiệp.
Để xác định được biểu đồ nhu cầu vật tư theo thời gian thi công, khi nhập các

lượng hàng hoá.
Thời gian bắt đầu nhập hàng phải là thời gian được cân nhắc kỹ càng , đạt được
sự tối ưu. Sự kịp thời và đáp ứng yêu cầu của sản xuất là mục tiêu để lựa chọn
phương án tập kết vật tư. Không để thiếu và chậm trễ khâu cung ứng vật tư nhưng
cũng không để phải cất chứa quá nhiều và lưu giữ vật tư lâu làm tăng chi phí bảo
quản vật tư là điều cần tránh.
3.2. Định mức vật tư sử dụng :
Việc sử dụng vật tư phải theo định mức. Số liệu định mức của Viện Kinh tế Bộ
Xây dựng đưa ra nhằm định hướng sử dụng vật tư. Tuy nhiên, trong thực tế sản
xuất, kỹ sư thi công căn cứ điều kiện cụ thể của chất lượng vật tư thành phần và
do yêu cầu cụ thể của chất lượng sản phẩm để thiết kế thành phần vật tư trong sản
phẩm xây dựng.
Định mức đưa vật tư vào sản xuất phải do kỹ sư kỹ thuật điều hành sản xuất cụ
thể quyết định. Người kỹ sư này cần căn cứ các yêu cầu chất lượng ghi trong bộ
hồ sơ mời thầu để thiết kế vật tư sử dụng. Các tiêu chí chất lượng sản phẩm
không được vượt quá các yêu cầu chất lượng của bộ hồ sơ mời thầu nhưng cũng
không được sử dụng thấp hơn các yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu. Định mức vật
tư do Viện Kinh tế Bộ Xây dựng đưa ra là tài liệu quan trọng khi đưa vật tư vào
sản xuất. Định mức này giúp cho kỹ sư quyết định vật tư sử dụng vì định mức Bộ
Xây dựng đưa ra thường được dùng làm dữ liệu tham khảo chính khi quyết định
giá thành sản phẩm. Định mức hao hụt là sự khống chế lượng vật tư được phép
hao hụt trong quá trình vận chuyển, cất chứa vật tư trong kho và khi sử dụng tại
hiện trường. Phấn đấu hạ mức hao hụt vật tư là phương hướng cho tất cả các khâu
tham gia trong quản lý vật tư. Hạ thấp mức hao hụt vật tư thực tế là biện pháp hạ
giá thành sản phẩm một cách chính đáng và có trí tuệ.
Những biện pháp giảm hao hụt chủ yếu:
* Làm bãi đổ cát, đá, sỏi có lớp láng mặt và nền đủ cứng chịu được lực nén của
bánh ô tô.
* Khi nhập hàng cát, đá, sỏi phải đánh đống và đo chính xác. Cách đo đại khái
dẫn đến nhận không đủ hàng.

Thí dụ: Phải cắt thanh thép có đường kính nào đó thành 40 đoạn 2,5 m và 60 đoạn
dài 1,6 m. Thép trong kho chỉ có loại độ dài thống nhất 6 mét.
Nếu làm bình thường, ta lấy các thanh 6 m ấy cắt cho đủ 40 đoạn 2,5 m và sau đó
cắt đến các thanh 1,6 m.
Như thế, phải dùng 20 thanh để cắt cho 40 đoạn 2,5 m ( kiểu cắt 1 ), mỗi thanh
được 2 đoạn 2,5 m và thừa 20 đầu mẩu 1 m. Sau đó dùng 20 thanh để cắt 60 đoạn
1,6 m ( cắt kiểu 2 ) và mỗi thanh được 3 đoạn sản phẩm và mỗi thanh có đoạn
thừa 1,2 m.
Cắt kiểu này , sử dụng vật liệu đạt 82%.
Nếu chọn phương án một thanh cắt lấy 2 đoạn 2,5 m ( kiểu 1 ) và thanh khác cắt
lấy 1 đoạn 2,5 m và 2 đoạn 1,6 m ( kiểu 3 ) thì mẩu thừa chỉ có 0,3 m.
Khi này, cách cắt được lựa chọn là lấy 5 thanh cắt theo kiểu 1 và 30 thanh theo
kiểu 3 thì vẫn đáp ứng yêu cầu và sử dụng được 93% vật liệu.
Hình vẽ minh hoạ như sau:
Kiểu cắt 1 : 2,5 2,5 1
Kiểu cắt 2 :
1,6 1,6 1,6 1,2
Kiểu cắt 3 : 2,5 1,6 1,6 0,3
Gọi x,y,z > 0 là số thanh cần cắt theo các kiểu 1,2,3 thì :
(1) 2x + z = 40 ( số đoạn 2,5 m )
(2) 3y + 2z = 60 ( số đoạn 1,6 m )
Muốn số thanh lấy ra dùng là ít nhất hay là tiết kiệm nhất số thanh thép được lấy
ra nên phải chọn số x,y,z là ít nhất sao cho x + y + z nhỏ nhất có thể được.
Cộng từng vế của (1) và (2) ta có :
2x + 3y + 3z = 100
3( x + y + z) = 100 + x
Muốn x + y + z nhỏ nhất thì x cũng phải nhỏ nhất.
y 〈 0 nên theo (2) ta có :
3y = 60 – 2z 〈 0 nên :
z ≤ 30

sản xuất xây dựng là phù hợp với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.Từ những
nghiên cứu, trên cơ sở tối ưu hoá dự trữ vật tư sẽ lựa chọn được giải pháp kinh tế
tối ưu cho sản xuất và lựa chọn quy mô mặt bằng kho bãi chứa vật liệu hợp lý
phục vụ việc thiết kế tổng mặt bằng xây dựng, phù hợp với nền kinh tế thị trường
của nước ta.
+ Chiến lược quản lý dự trữ
Có hai hệ thống quản lý dự trữ chính là :
(1) Hệ thống có số lượng cố định và chu kỳ thay đổi :
Hệ thống này đặt ra số hàng xác định mỗi khi mức dự trữ vật tư giảm tới mức nào
đó. Mức hàng hoá không thể giảm hơn nữa gọi là mức báo động vì giảm tới mức
ấy có nguy cơ ảnh hưởng đến sản xuất. Chỉ được giảm tới mức đó thì phải bổ
sung, nếu không thì sản xuất sẽ ngưng trệ vì thiếu vật tư.
(2) Hệ thống có chu kỳ cố định và số lượng thay đổi :
Hệ thống này kiểm tra mức tồn kho theo những khoảng thời gian đều đặn và nhu
cầu phải cung cấp tiếp tục bằng lượng sản phẩm dự trữ đã sử dụng cộng thêm
lượng vật tư dự trữ bảo hiểm.
+ Dự trữ vật tư trong sản xuất xây dựng
Trong sản xuất xây dựng phải sử dụng nhiều loại vật tư. Cần nghiên cứu thị
trường cũng như thấy được chủng loại vật tư quan trọng với các mức khác nhau
cho sản xuất xây dựng. Phải có con mắt nhìn vật tư sử dụng như thế đồng bộ
nhưng cũng phân biệt ra mức cấp thiết khác nhau. Để đơn giản, có thể phân loại
vật tư thành các nhóm phụ thuộc nơi cung cấp, đặc điểm và giá trị của vật tư. Đây
là phương pháp phân loại của Pareto. Tuỳ vật tư ở nhóm nào mà có chính sách đối
đãi về dự trữ với nhóm ấy.
Pareto chia vật tư thành 3 nhóm để có chính sách dự trữ khác nhau:
Nhóm A : thường chiếm 15~25% loại vật tư chiếm 75~85% tổng giá trị tiêu thụ.
Nhóm B : thường chiếm 25~35% loại vật tư chiếm 10~20% tổng giá trị tiêu thụ.
Nhóm C : thường chiếm 50~60% loại vật tư chiếm 5~10% tổng giá trị tiêu thụ.
+ Yêu cầu của dự trữ vật tư
Dự trữ vật tư phải đáp ứng 5 yêu cầu sau đây :

- Mô hình dự trữ tất định:
Giả thử một loại vật tư trong thời kỳ T ( T=1) là Q đơn vị. Mức tiêu thụ là đều
đặn và thời gian để bổ sung hàng vào kho là không đáng kể. Chi phí cho mỗi lần
đặt hàng là A, giá đơn vị hàng là C, hệ số chi phí dự trữ là I, thời gian đặt hàng là
T
o
. Xác định số lần đặt hàng và lượng hàng đặt sao cho tổng chi phí phải trả là bé
nhất trong điều kiện sử dụng và dự trữ là thường xuyên.
Mô hình sẽ như sau :
Chia T thành n kỳ dự trữ và tiêu thụ. Mỗi kỳ i đặt mua lượng hàng tương ứng là q
i
Lượng vật tư trong kho được thể hiện như sau:
q
q
1
q
2
t
1
t
2
T=1
Trong mỗi chu kỳ t
i
lượng vật tư dự trữ trung bình là q
i
/2 , phát sinh chi phí dự
trữ tương ứng q
i
t

i
.
Các giả thiết về tiêu thụ ( sử dụng) và cung cấp như mô hình của Wilson.
Xác định phương án dự trữ và tiêu thụ tốt nhất trong các trường hợp:
- Cơ sở dự trữ có dung tích kho f
o
cho m loại hàng
- Khả năng vốn cho mỗi chu kỳ dự trữ, tiêu thụ hạn chế là C
o
.
3.6. Bài toán tối ưu hoá dự trữ vật tư xây dựng
1. Phát biểu bài toán

Trích đoạn Đường xỏ trờn cụng trường: Thiết kế tổ chức thi cụng phải bảo đảm an toàn sử dụng điện: Tổ chức thoỏt nước cho cụng trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status