So sánh đối chiếu cấu trúc cụm động từ trong
tiếng Hàn và tiếng Việt Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Châu Á học; Mã số: 603150
Người hướng dẫn: PGS. TS. Trịnh Cẩm Lan
Năm bảo vệ: 2013 Abstract: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về cấu trúc cụm động từ trong tiếng Hàn và tiếng Việt: tập
trung phân tích các khái niệm về đoản ngữ, cụm động từ nói chung và đoản ngữ, cụm động từ
trong tiếng Hàn, tiếng Việt nói riêng. Nghiên cứu cấu trúc cụm động từ trong tiếng Hàn và tiếng
Việt: đi sâu tìm hiểu cấu trúc cụm động từ của tiếng Hàn, tiếng. Nêu bật những điểm giống và
khác nhau trong cấu trúc cụm động từ của tiếng Hàn với tiếng Việt, bên cạnh đó đề cập đến một
số vấn đề cần lưu ý cho người học khi thực hành hai ngôn ngữ trên.
Keywords: Châu Á học; Động từ; Tiếng Hàn; Tiếng Việt; Cụm động từ
Content: MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Ý nghĩa của luận văn 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2.2.2.1. Thành tố chính là một động từ. 56
2.2.2.2. Thành tố chính là hai hoặc hơn hai động từ. 58
2.2.2.3. Thành tố chính là một kết cấu khứ hồi 59
2.2.3. Thành tố phụ của cụm động từ tiếng Việt 60
2.2.3.1. Thành tố phụ trước 60
2.2.3.2. Thành tố phụ sau 62
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU CỤM ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG HÀN VÀ
TIẾNG VIỆT 69
3.1. Những nét tương đồng và dị biệt về cấu trúc chung 69
3.1.1. Điểm tương đồng 69
3.1.2. Điểm dị biệt 69
3.2. Những nét tương đồng và dị biệt về thành tố trung tâm cụm động từ 71
3.2.1. Điểm tương đồng 71
3.2.2. Điểm dị biệt 72
3.3. Những nét tương đồng và dị biệt về thành tố phụ trước 74
3.3.1. Điểm tương đồng 74
3.3.2. Điểm dị biệt 75
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC CỤM ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG HÀN VÀ
TIẾNG VIỆT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với xu hướng giao lưu và hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực thì nghiên cứu so
sánh đối chiếu các ngôn ngữ của các quốc gia khác nhau đang trở thành một vấn đề cần thiết. “Trong
thời đại của cách mạng Khoa học kỹ thuật, thời đại của các dân tộc trên thế giới nói bằng các thứ tiếng
khác nhau đi vào cuộc giao lưu tiếp xúc ngày càng nhiều với những hình thức phong phú, đa dạng thì
rõ ràng việc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ là cực kỳ cấp bách” (18; 20). Trong khi, các công trình
nghiên cứu đối chiếu tiếng Việt với các ngôn ngữ khác đã đạt được những thành tựu đáng kể thì việc
Thông qua việc đối chiếu hai ngôn ngữ về trật tự từ, chủ yếu trên bình diện cấu trúc và một
phần trên bình diện ngữ nghĩa của các thành tố trong động ngữ, chúng tôi mong muốn góp phần vào
việc đào tạo tiếng Hàn cũng như đào tạo tiếng Việt như một ngoại ngữ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là trật tự từ trong cụm động từ của hai ngôn ngữ tiếng Hàn
và tiếng Việt.
Trong khi nghiên cứu, chúng tôi sẽ mô tả và xây dựng mô hình cụm động từ của mỗi ngôn ngữ,
đồng thời tiến hành so sánh, đối chiếu những mô hình cấu trúc đó, các thành tố cấu tạo nên mô hình đó,
tìm hiểu sự biến đổi cấu trúc sẽ dẫn đến sự biến đổi về ý nghĩa như thế nào và cuối cùng sẽ đưa ra
những nhận xét trên cơ sở những kết quả nghiên cứu mà chúng tôi đạt được.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thuộc loại nghiên cứu miêu tả và so sánh đối chiếu, do vậy, luận văn sử dụng các
phương pháp chủ yếu dưới đây:
- Phương pháp phân tích thành tố: Để phân tích cấu tạo của cụm động từ trong hai ngôn ngữ.
- Phương pháp miêu tả: Được dùng để miêu tả đặc điểm, cấu tạo cụm động từ trong hai ngôn ngữ.
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Được dùng để tìm ra những điểm giống và khác biệt trong cấu
trúc cụm động từ của hai ngôn ngữ.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng một số tài liệu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới
cũng như các nhà Việt ngữ học. Đồng thời, chúng tôi cũng trích dẫn những ví dụ minh họa từ các tác
phẩm văn học bằng bản ngữ của các tác giả Hàn Quốc, Việt Nam.
Một điều nữa cần giới thiệu đó là khi dịch các ví dụ minh họa từ tiếng Hàn sang tiếng Việt và
ngược lại, chúng tôi dịch đúng và sát nghĩa chứ không chú ý đến việc diễn đạt trau chuốt câu chữ theo
lối văn dịch nhằm mục đích tìm ra những điểm giống và khác nhau về trật tự từ trong cấu trúc cụm
động từ giữa tiếng Hàn và tiếng Việt.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương. Trong chương 1, chúng tôi
nghiên cứu cơ sở lý thuyết. Nội dung của chương này tập trung phân tích các khái niệm về đoản ngữ,
cụm động từ nói chung và đoản ngữ, cụm động từ trong tiếng Hàn, tiếng Việt nói riêng. Nghiên cứu
cấu trúc cụm động từ trong tiếng Hàn và tiếng Việt là nội dung chính của chương 2. Trong chương này,
chúng tôi đi sâu tìm hiểu cấu trúc cụm động từ của tiếng Hàn, tiếng Việt để làm cơ sở cho phần so
b) Mối quan hệ trên trục hình tuyến (trước – sau) (còn gọi là trục ngang) là mối quan hệ xác
định chức năng của đơn vị.
1.1.2. Các kiểu quan hệ ngữ pháp trong ngôn ngữ
Quan hệ ngữ pháp giữa các từ tuy đa dạng nhưng có thể được phân loại thành ba kiểu chính. Đó
là quan hệ đẳng lập, quan hệ chính - phụ và quan hệ chủ - vị.
1.2. Khái niệm đoản ngữ
“Đoản ngữ” là một trong những đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc phức tạp, tần số sử dụng cao, đặc
biệt là đoản ngữ đẳng lập, kết cấu nội tại của chúng có tính cân xứng. Trong tiếng Việt, thuật ngữ này
lần đầu tiên đã được Nguyễn Tài Cẩn sử dụng để miêu tả cấu trúc của danh ngữ tiếng Việt. Ông cho
rằng đoản ngữ là một loại tổ hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ bao gồm một trung tâm nối
liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ. (2; 148). Ví dụ: “Sách hay”. Đây là trường hợp có
một trung tâm đứng làm nòng cốt và bên cạnh ghép thêm một hay một vài thành tố có vai trò thứ yếu,
dùng để bổ sung cho trung tâm.
1.3. Khái niệm cụm động từ trong tiếng Hàn – tiếng Việt
Cụm động từ là một nhóm từ được tổ chức theo quan hệ ngữ pháp chính phụ mà động từ giữ
chức năng là thành tố chính, thành tố trung tâm. Cấu trúc cơ bản của cụm động từ bao gồm: phần phụ
trước, phần trung tâm và phần phụ sau. Ở phần trung tâm có thể gặp một động từ hoặc những tổ hợp
gồm nhiều động từ. Các thành tố phụ của động từ có thể chia thành hai loại: thành tố phụ là từ và
thành tố phụ là phụ tố. Về cơ bản, phần phụ trước của cụm động từ có tác dụng định tính mối quan hệ
về thời gian, trạng thái của hành động nêu ở động từ thành tố chính. Phần phụ sau có tác dụng mở rộng
nội dung từ vựng của động từ - thành tố chính.
1.3.1. Cụm động từ trong tiếng Hàn
Tác giả Ahn Kyong Hwan trong “Trật tự từ trong tiếng Hàn so sánh với tiếng Việt” (한국어
어순 베트남어와의 비교) cho rằng “mỗi động từ tiếng Hàn, khi giữ chức năng là thành tố chính kết
hợp với một hay một số thành tố phụ để cấu tạo nên động ngữ, thường mang thêm ở sau nó những phụ
tố hình thái có giá trị cấu tạo dạng thức của động từ”. (10; 56)
1.3.2. Cụm động từ trong tiếng Việt
Như chúng ta đã biết, động từ là một từ loại rất có khả năng kèm thêm những thành tố phụ để
phát triển thành đoản ngữ.
Loại đoản ngữ có động từ làm trung tâm như thế gọi là động ngữ. Đoản ngữ có động từ làm
với những người Việt học tiếng Hàn cũng như một mảng khai thác khá hấp dẫn đối với các nhà nghiên
cứu đối chiếu ngôn ngữ hai nước.
Từ khi tiếng Hàn được đưa vào giảng dạy tại Việt Nam, đã có một số bài viết, nghiên cứu phân
tích đối chiếu các vấn đề liên quan đến hai ngôn ngữ Hàn – Việt. Trong “Bước đầu nghiên cứu về từ
tỉnh lược trong tiếng Hàn đối chiếu với tiếng Việt”, tác giả Trần Thị Hường đề cập đến nội dung khái
quát nhất về khái niệm từ tỉnh lược (wan – gok – eo) của tiếng Hàn qua đó quy chiếu sang tiếng Việt.
Theo Jo Hye sun (Giải thích về mặt ngữ dụng học của cách diễn đạt tỉnh lược) có thể chia từ tỉnh lược
(wan – gok – eo – peop) (완국어법) thành hai loại thuộc hai bình diện chính. Thứ nhất, đó là phép nói
tỉnh lược thuộc bình diện từ vựng học, là cái được đề xuất dưới dạng mục lục được hạn chế mang tính
so sánh. Thứ hai, đó là cách diễn đạt phép nói tỉnh lược thuộc bình diện ngữ dụng hay phong cách, tức
là khái niệm mang tính chất của ngữ dụng học có thể xuất hiện một cách đa dạng tùy vào ngữ cảnh. (9;
45). Tác giả Trần Văn Tiếng cũng bàn “về hiện tượng tương đương về nghĩa trong tục ngữ tiếng Hàn
và tiếng Việt”. Sự tương đương về nghĩa trong tục ngữ Hàn cũng như trong tục ngữ Việt ở góc độ
logic – ngữ nghĩa thực chất là những biến thể của một cấu trúc logic – ngữ nghĩa. Tục ngữ tiếng Hàn
và tục ngữ tiếng Việt sử dụng nhiều từ ngữ biểu trưng phản ánh ý thức, quan điểm sống, cách suy nghĩ,
tâm lý, văn hóa dân tộc trong từng vấn đề của cuộc sống. Ngoài ra nghiên cứu cũng phát hiện những
câu tục có nghĩa tương đương thường thuộc các phạm trù liên quan đến con người (như con người
trong mối quan hệ với đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần và phạm trù chung cho
mọi đối tượng. Ở những phạm trù này, đa số những câu tục ngữ đều có nghĩa bóng.
Việc phân tích, so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt cũng là đề tài của rất
nhiều sinh viên chuyên ngành Hàn Quốc học. Khóa luận tốt nghiệp “Bước đầu tìm hiểu những khó
khăn trong việc học tiếng Hàn – nhìn từ góc độ loại hình ngôn ngữ” của Nguyễn Đông Thục đã phân
tích, so sánh đối chiếu tiếng Hàn và tiếng Việt về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, từ loại, cấu trúc ngữ pháp để
từ đó rút ra những khó khăn mà người Việt thường mắc phải trong việc học tiếng Hàn. (19; 27). Tác
giả Đào Hoài Thu với luận văn thạc sỹ “Phân tích đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng Hàn – Việt từ góc
độ ngôn ngữ và văn hóa” (1/2012) đã chỉ ra rằng “Từ chỉ quan hệ họ hàng là một bộ phận từ vựng
đặc biệt trong mỗi ngôn ngữ. Những đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa của lớp từ này không chỉ
thể hiện nhiều đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa – giao tiếp của mỗi ngôn ngữ mà còn thể hiện
phần nào chiều sâu văn hóa của dân tộc là chủ nhân của ngôn ngữ đó”. Nghiên cứu nhằm tìm
ra những tương đồng, dị biệt về cấu tạo, ngữ nghĩa và văn hóa giữa lớp từ chỉ quan hệ họ hàng
열심히
읽는다.
(I - haksengun)
chekul)
(nalmata)
(hakkyoyeseo)
(yolsimhi)
(iknunta).
[(Này- sinh viên)un
sách)ul
(mỗi ngày)
(ở trường)
(chăm chỉ)
(đọc)nunta.
[(Sinh viên này) đọc sách chăm chỉ mỗi ngày ở trường].
Cụm động từ
Thành tố phụ
Thành tố trung tâm
Trong cụm động từ này của tiếng Hàn, “책을 날마다 학교에서 열심히” (“chekul namata
hakkyoyeseo yolsimhi sách – hàng ngày - ở trường – chăm chỉ”) là thành tố phụ, “읽는다”
(“iknunta đọc”) là thành tố chính bao gồm từ gốc “읽” (“ik đọc”) với phụ tố tình thái “는” (“nun
phụ tố chỉ thời hiện tại tiếp diễn”) và phụ tố chức năng “다” (“ta phụ tố chỉ vị ngữ tính”) đều
đứng sau từ gốc động từ. Tất cả các thành tố phụ của cụm động từ đều đặt trước thành tố trung tâm.
2.1.2. Trung tâm cụm động từ tiếng Hàn
Trong “Trật tự từ trong tiếng Hàn so sánh với tiếng Việt”, Ahn Kyong Hwan nhận định rằng
“Cấu trúc cú pháp của cụm động từ tiếng Hàn như sau: động từ giữ vai trò là thành tố trung tâm –
thành tố chính đứng ở cuối động ngữ, tất cả các thành tố phụ đều đặt ở trước thành tố trung tâm. Như
vây, trong tiếng Hàn, việc xác định thành tố trung tâm của cụm động từ tương đối dễ dàng”. (10; 60).
Ví dụ:
나는
[Muốn học nói tiếng Anh]
2.1.3. Thành tố phụ của cụm động từ tiếng Hàn
Như trên đã nói, cụm động từ tiếng Hàn bao gồm thành tố trung tâm đứng ở cuối câu, còn tất cả
các thành tố phụ đều đặt ở trước thành tố trung tâm.
2.1.3.1. Thành tố phụ là từ
A. Thành tố phụ là thực từ
Trong cụm động từ tiếng Hàn và cụm động từ tiếng Việt, các loại thực từ (danh từ, động từ,
tính từ, số từ, đại từ) đều có thể làm thành tố phụ diễn đạt các ý biểu thị nơi chốn, thời gian, cách thức,
phương tiện, phương hướng, mục đích, nguyên nhân, kết quả… của hoạt động.
a) Bổ tố
Cụm động từ tiếng Hàn có loại thành tố phụ chỉ xuất hiện theo đòi hỏi riêng của từng tiểu loại
động từ làm thành tố chính. Loại thành tố phụ này luôn đứng trước thành tố chính.
Khi thành tố chính là ngoại động từ thì thành tố phụ chỉ đối tượng do danh từ đảm nhiệm.
b) Trạng tố
Các thành tố phụ là từ đứng làm trạng tố trong cụm động từ tiếng Hàn cũng luôn đứng trước
thành tố trung tâm, và diễn đạt ý nghĩa về nơi chốn, thời gian, cách thức, phương tiện, phương hướng.
Những thành tố phụ này thường do danh từ đảm nhiệm.
B. Thành tố phụ là hư từ
Trong cụm động từ tiếng Hàn, thành tố phụ cũng do phó từ đảm nhiệm và cũng đặt trước động
từ làm thành tố chính.
2.1.3.2. Thành tố phụ là phụ tố
Quan hệ giữa các phụ tố và các căn tố là quan hệ từ pháp trong nội bộ một từ. Như đã trình bày
ở phần nội dung chương 1, ngay trong một từ tiếng Hàn đã xuất hiện cấu trúc chính – phụ bao gồm
một căn tố làm thành phần chính kết hợp với phụ tố hoặc tiểu từ làm thành phần phụ. Và trong cụm từ
chính phụ có động từ làm thành tố chính (động ngữ) chúng ta lại thấy cấu trúc chính – phụ phân chia
cụm động từ thành hai thành phần rõ rệt là thành phần phụ đứng trước và thành phần chính (động từ)
đứng sau. Do đó, khi phân tích thành phần của cụm động từ tiếng Hàn sẽ gặp hai lớp cấu trúc. Một là
động từ là tổ hợp từ tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính và
thành tố phụ, và thành tố chính là động từ. Trong tiếng Việt, khi một động từ đứng làm thành tố chính
của cụm động từ thì trước và sau nó có thể có những thành tố phụ. Khả năng kết hợp của động từ tiếng
Việt hết sức đa dạng và phong phú. Các nhà Việt ngữ học đều có chung một quan điểm rằng “ở dạng
đầy đủ nhất, cụm động từ cũng chia làm ba phần: phần giữa dành cho trung tâm và phần đầu, phần
cuối dành cho các thành tố phụ” [2;247]. Các khả năng kết hợp của động từ được khái quát trong cấu
trúc và các ví dụ dưới đây:
Cấu trúc cụm động từ tiếng Việt: Từ phụ động từ Động từ chính Bổ ngữ Trạng ngữ
(Thành tố bắt buộc)
Thời-thể Tiếp thụ - Bị động
(đã, đang, sẽ) (được, bị, phải)
Chức vụ của cụm động từ trong câu có thể làm vị ngữ, chủ ngữ.
2.2.3. Thành tố phụ của cụm động từ tiếng Việt
2.2.3.1. Thành tố phụ trước
Giống như nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, động từ trong tiếng Việt rất đa dạng và phong
phú về kiểu loại và tính chất. Tìm ra những khác biệt và đối lập trong nội bộ động từ sẽ giúp chúng ta
hiểu được tác động qua lại giữa động từ trung tâm với các thành tố phụ trước và sau của động ngữ.
Động từ trung tâm quyết định việc thêm bớt các từ thiên về ngữ pháp. Nhìn chung, động từ là loại từ
dùng để chỉ hành động. Hành động thì thường chỉ có thể xảy ra, chứ ít khi có thể tăng lên hoặc giảm
mức độ xuống. Phần lớn động từ không thể kết hợp với những từ chỉ mức độ như “hơi”, “lắm”, “rất”,
“quá”. Tuy nhiên, có một số động từ chỉ tính chất/ cảm nghĩ như “lo”, “sợ”, “yêu”, “thích”, “ghét”,
“tin”… lại có khả năng này. Chính vì có sự phân biệt đó nên chúng ta mới hiểu rõ tại sao có thể nói:
Lo hơi lo, rất lo, quá lo
Động từ: ăn đứng ăn ngồi (động từ: đứng, ngồi)
Tính từ: đi nhanh, ăn chậm (tính từ: nhanh, chậm)
Số từ: chia ba (số từ: ba)
Đại từ: hỏi ai (đại từ: ai)
Chỉ định từ: lại đây (định từ: đây)
Phụ từ: hiểu rồi, thuộc rồi (phụ từ: rồi)
Thán từ: Kêu ối á (thán từ: ối á)
a) Thành tố phụ sau là hư từ
Ở động ngữ, phụ từ làm thành tố phụ sau có thể được chia thành những nhóm nhỏ với những ý
nghĩa ngữ pháp riêng như sau:
- Nhóm từ chỉ ý kết thúc: đã, rồi
- Nhóm từ chỉ ý cầu khiến (mời mọc, mệnh lệnh) dùng với người ngang hang hoặc bề dưới: đi,
nào, thôi
- Nhóm từ chỉ kết quả: được (chỉ sự vừa ý), mất (chỉ sự tiếc), phải (chỉ ý không mong muốn)
Ví dụ: chơi được, xem được, chết mất, đánh mất, làm mất, gặp phải kẻ trộm, mua phải hàng
giả
- Nhóm từ chỉ sự tự lực: lấy
Ví dụ: làm lấy, ăn lấy
- Nhóm từ chỉ sự qua lại, tương hỗ: nhau
Ví dụ: gửi thư cho nhau, yêu nhau, ôm nhau, đánh nhau, làm việc cùng nhau
- Nhóm từ chỉ sự cùng chung: với, cùng, chung
Ví dụ: cho nó đi với, để bạn học cùng
- Nhóm từ chỉ hướng: ra, vào, lui, qua, lại
- Nhóm từ chỉ mức độ: quá, lắm
- Nhóm từ chỉ cách thức diễn ra trong thời gian của hoạt động, trạng thái: ngay, liền, tức khắc,
tức thì, dần, dần dần, từ từ, nữa, hoài, luôn, mãi
b) Thành tố phụ sau là thực từ
Cũng như phụ từ, khả năng xuất hiện thực từ tại phần phụ sau của cụm động từthuộc nội dung ý
nghĩa của từ làm thành tố chính và nhiệm vụ phản ánh hiện thực ngoài ngôn ngữ.
B. Cấu tạo
tích đối chiếu những cấu trúc cơ bản này nhằm tìm ra những nét tương đồng và dị biệt của cấu
trúc cụm động từ tiếng Hàn - tiếng Việt với hy vọng sẽ đóng góp một phần vào việc nghiên
cứu lĩnh vực này cũng như góp phần vào việc giảng dạy và học tập tiếng Hàn và tiếng Việt
như là một ngoại ngữ.
3.1. Những nét tương đồng và dị biệt về cấu trúc chung
3.1.1. Điểm tương đồng
Cụm động từ tiếng Hàn và tiếng Việt ở dạng đơn giản nhất chỉ có một thành tố trung tâm xuất
hiện:
Ví dụ:
(제가) 간다.
TTTT
[(jeka) katta.]
[(Tôi) đi.]
Trong cụm động từnày “간다” là thành tố chính bao gồm từ gốc “가” (ka-đi) với phụ tố tình
thái “ㄴ” (chỉ thời hiện tại tiếp diễn) và phụ tố chức năng “다” (ta-chỉ vị ngữ tính) đều đứng sau từ gốc.
- Tiếng Việt: (Tôi) đi.
TTTT
3.1.2. Điểm dị biệt
Ở dạng đầy đủ nhất của cụm động từ tiếng Việt, thành tố chính đứng ở vị trí trung tâm, các
thành tố phụ phân bố ở hai phía của thành tố chính, ở phía trước (thường là phó từ) và ở phía sau
(thường là các từ loại thực từ).
Ví dụ:
Cụm động từ tiếng Việt dạng đầy đủ có ba phần: thành tố phụ trước, thành tố trung tâm, thành
tố phụ sau:
(Tôi) đã đi Hàn Quốc.
TTPT TTTT TTPS
Hoặc cụm động từ tiếng Việt có hai phần: thành tố phụ trước (viết tắt TTPT), thành tố trung
tâm (TTTT); hay thành tố trung tâm (TTTT), thành tố phụ sau (TTPS):
(Tôi) đã đi. (có thành tố phụ trước, thành tố trung tâm).
TTPT TTTT
[(Tôi) làm bài tập tiếng Hàn.]
- Trường hợp câu có hai động từ:
(나는) 집을 사고 싶다.
[(nanun) jipul sako sipta.]
[(Tôi)nun (nhà)ul (mua) (muốn)]
[(Tôi) muốn mua nhà].
Trong ví dụ trên, vị ngữ của câu là một cụm động từ do động từ 싶다 – sipta (muốn) làm thành
tố trung tâm. Có thể hình dung cấu trúc cú pháp của cụm động từ qua sơ đồ:
집을 사고 싶다 (Jipul sako sipta)
(nhà mua muốn)
(muốn mua nhà)
Trong tiếng Việt cũng giống tiếng Hàn, việc xác định thành tố trung tâm của cụm động từ chỉ
có một động từ khá đơn giản. Cấu trúc cụm động từ dạng đầy đủ có bai thành phần hay có hai thành
phần thì trung tâm cụm động từ chính là động từ duy nhất trong động ngữ.
Ví dụ:
- Dạng đầy đủ có ba thành phần:
(Tôi) cũng làm bài tập tiếng Hàn.
TTPT TTTT TTPS
- Dạng có hai thành phần: thành tố phụ trước + thành tố trung tâm:
(Tôi) cũng làm.
TTPT TTTT
- Dạng có hai thành phần: thành tố trung tâm + thành tố phụ sau:
(Tôi) làm bài tập tiếng Hàn.
TTTT TTPS
3.2.2. Điểm dị biệt
Như đã phân tích ở phần trên, động từ chính làm thành tố trung tâm trong cụm động từ tiếng
Hàn luôn luôn đứng ở vị trí cuối cùng. Cho dù câu tiếng Hàn có một động từ, hai động từ hay nhiều
- Tiếng Việt: (Tôi) vẫn ăn.
Thông thường, trong tiếng Hàn, các phó từ biểu thị ý nghĩa về sự tiếp diễn đồng nhất của hoạt
động như “모두-motu, 역시-yoksi, 여전히-yojoenhi, 아직-ajik, 아직도-ajikdo, 계속-kyesok, 자주-
jaju, 늘-nul, 항상-hangsang ”, trong tiếng Việt những từ tương ứng là “đều, cũng, vẫn, cứ, tiếp tục,
thường xuyên, thường, luôn, hay ” khi chúng cùng làm thành tố phụ thì trật tự sắp xếp trong câu
không khác nhau.
Ví dụ:
- Tiếng Hàn:
역시 자주 간다.
(yolsi - jaju - kanta)
(cũng – hay – đi)
- Tiếng Viêt: cũng hay đi.
b) Trong một cụm động từ của tiếng Hàn và tiếng Việt, có thể có nhiều loại thành tố phụ xuất
hiện, và nói chung trật tự của các loại thành tố này thường không xác định rõ.
Ví dụ:
- Tiếng Hàn:
(1) 친구에게 책을 선물하다.
(2) 책을 친구에게 선물하다.
- Tiếng Việt: (1’) Tặng cho bạn sách.
(2’) Tặng sách cho bạn.
3.3.2. Điểm dị biệt
a) Trong cụm động từ tiếng Hàn thành tố phụ “
안
” (an- không) mang ý nghĩa phủ định có thể
đặt trước cả động từ hoặc tính từ mà “
못
” (mot- không thể/ chẳng thể) không thể đặt trước vị ngữ
trạng thái. Nhưng trong cụm động từ tiếng Việt, các phó từ “không, chẳng, chưa, chả…” có vị trí duy
nhất là đặt trước động từ, tính từ làm thành tố phụ biểu thị ý nghĩa phủ định.
Ví dụ:
(나는) 먹지 못한다.
[mokji mothanta]
[(ăn không thể)ta]
[không thể ăn]
- Tiếng Việt:
(Tôi) không ăn.
(Tôi) không thể ăn.
Trong tiếng Hàn, thành tố trung tâm của cụm động từ là 않는다(annunta- không có), 먹지
(mokji – sự ăn) là thành tố phụ; còn trong tiếng Việt, “ăn” là thành tố chính, “không” là thành tố phụ.
Nếu chuyển từ câu tiếng Hàn sang tiếng Việt sẽ phải là “(tôi) không có sự ăn”.
c) Trong cụm động từ tiếng Hàn để biểu thị ý nghĩa khuyên ngăn người ta dùng cấu trúc động
ngữ: Lúc này, động từ phía trước đóng vai trò là thành tố phụ, thành tố chính là 말다 (malta – đừng).
Ví dụ:
가지 마세요.
(kaji maseyo)
Động từ + 지 말다
(đi – đừng)
(Đừng đi)
먹지 마라.
(mokji mara)
(ăn- đừng)
(đừng – ăn)
Ví dụ:
- Tiếng Hàn:
(비가) 부슬부슬 내리다.
(pika) pusulpusul nelita.
(mưa) lác đác rơi
- Tiếng Việt:
(Mưa) lác đác rơi./ (Mưa) rơi lác đác.
Ngoài ra trong cụm động từ tiếng Việt, những thành tố phụ kiểu này người ta gọi là “thành tố
phụ có vị trí tự do” (2; 299). Còn trong tiếng Hàn thì vẫn chỉ có một trật tự thành tố phụ đứng trước
thành tố chính như ở trên đã phân tích.
Ví dụ:
- Tiếng Hàn:
열심히 공부한다.
(yolsimhi kongpuhanta).
(chăm chỉ học)
- Tiếng Việt:
Học tích cực/ học chăm chỉ.
Cũng có thể nói:
Tích cực học/ chăm chỉ học.
Những “thành tố phụ có vị trí tự do” như trên trong tiếng Hàn cũng như tiếng Việt khá phong
phú. Chúng ta có thể liệt kê một số từ theo bảng dưới đây:
Tiếng Hàn
Tiếng Việt
[3.20] 아장아장 걷다.
(ajangajang kotta- lẫm chẫm đi bộ)
đi lẫm chẫm/ lẫm chẫm đi
[3.21] 머뭇머뭇 하다.
(momutmomut hata –lần chần làm)
làm lần chần/ lần chần làm
[3.22] 우물우물 거리다.
- Tiếng Hàn:
매우 무서워하다. (meu museowahata.) (lắm – sợ)
- Tiếng Việt: sợ lắm.
h) Trong tiếng Việt có các phó từ chỉ thời gian biểu thị quá khứ “đã/ rồi”, hiện tại “đang”,
tương lai “sẽ/ sắp tới” đặt trước động từ. Nhưng trong tiếng Hàn không có các từ như vậy mà chỉ có
các phụ tố cấu tạo dạng thức ngữ pháp của động từ biểu thị.
Ví dụ:
- Tiếng Hàn:
Phụ tố “았/ 었 – ass/ oss” đi sau động từ biểu thị thời quá khứ:
밥을 먹었다. (papul mekeossta) [(cơm – ăn – đã – (ta)]
Phụ tố “ㄴ/는” đi sau động từ biểu thị thời hiện tại:
밥을 먹는다. (papul moknunta) [(cơm – ăn – đang – (ta)]
Phụ tố “겠” đi sau động từ biểu thị thời tương lai:
밥을 먹겠다. (papul mokkyetta) [(cơm – ăn – sẽ - (ta)]
- Tương ứng với các câu tiếng Việt sau:
Đang ăn cơm.
Sẽ ăn cơm.
Phó từ “đã/ rồi” biểu thị thời quá khứ, trong đó “đã” luôn đứng trước động từ, còn “rồi” luôn
đứng sau động từ và có thể kết hợp cả hai phó từ này trong cùng một câu với vị trí như trên.
+ Đã ăn cơm./ Ăn cơm rồi./ Đã ăn cơm rồi.
Phó từ “đang” biểu thị thời hiện tại:
+ Đang ăn cơm.
Phó từ “sẽ/ sắp/ sắp tới” biểu thị thời tương lai:
+ Sẽ ăn cơm./ Sắp ăn cơm
Ngoài ra, như đã trình bày ở chương 2, trong tiếng Hàn có ba thì, mỗi thì có bốn loại. Còn trong
tiếng Việt, thì và thể được xác định rõ hơn nhờ các trạng ngữ chỉ thời gian. Như vậy, riêng về việc
dịch các động từ có mang ý nghĩa về thời từ tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngược lại thường rất khó
khăn cho người học. Người học phải chú ý đến các tình huống và thời điểm cụ thể lúc nói thì lời dịch
mới chính xác.
i) Trong tiếng Việt, ý nghĩa thụ động được biểu thị bằng các từ “bị, được, mắc, phải, chịu ”.
Toàn luận văn đã nghiên cứu tổng quát về đoản ngữ, cụm động từ trong ngôn ngữ nói chung và
trong tiếng Hàn – tiếng Việt nói riêng. Đoản ngữ là loại tổ hợp gồm một trung tâm nối liền với các
thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ. Cấu trúc đoản ngữ dạng đầy đủ trong tiếng Hàn không có thành
tố phụ sau như trong đoản ngữ tiếng Việt vì thành tố trung tâm của đoản ngữ tiếng Hàn luôn đứng ở vị
trí cuối cùng. Những đoản ngữ có động từ làm trung tâm như thế được gọi là cụm động từ (hay động
ngữ). Do đó, cấu trúc cụm động từ tiếng Hàn cũng chỉ có hai thành phần là thành tố phụ trước và thành
tố trung tâm, trong khi cụm động từ tiếng Việt ở dạng đầy đủ có ba thành phần là thành tố phụ trước,
thành tố trung tâm và thành tố phụ sau. Động từ trung tâm trong tiếng Hàn có các phạm trù ngữ pháp
như thì, thời, thể, dạng, thức còn trong tiếng Việt chúng ta phải sử dụng một số từ phụ để diễn đạt các
ý nghĩa tương ứng.
Xét tổng thể, luận văn mong muốn được đóng góp vào việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu giữa
hai ngôn ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt từ trước đến nay. Tiếp theo, luận văn hướng tới sự đóng góp về
phương diện thực hành ngôn ngữ. Đó là việc học tập và giảng dạy tiếng Hàn cho người Việt và tiếng
Việt cho người Hàn hay việc phiên dịch, biên dịch từ tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngược lại. Cuối
cùng, khi thực hiện đề tài này chúng tôi hy vọng được góp phần nhỏ bé vào lĩnh vực nghiên cứu, đối
chiếu, so sánh hai ngôn ngữ. Cụ thể là giữa tiếng Hàn (một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ chắp
dính) và tiếng Việt (một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập).
Trong luận văn, khi tiến hành phân tích, đối chiếu trật tự từ trong cụm động từ tiếng Hàn và
tiếng Việt, chúng tôi dựa trên ba phạm vi nghiên cứu để xác định trật tự từ như sau:
- Trật tự từ là phương thức ngữ pháp tiêu biểu được sử dụng trong các ngôn ngữ phân tích tính
trong đó có tiếng Hàn và tiếng Việt.
- Trật tự từ với tính cách là sự phân bố các vị trí trong các cấu trúc ngữ pháp.
- Trật tự từ là đối tượng phân tích chức năng câu.
Luận văn đã tập trung chủ yếu phân tích sự phân bố các vị trí của các thành tố cấu tạo nên cấu
trúc cụm động từ trong hai ngôn ngữ. Cụm động từlà tổ hợp tự do có động từ làm trung tâm và quan hệ
cú pháp căn bản giữa thành tố trung tâm và các thành tố phụ là quan hệ chính – phụ.
Chúng tôi đã mô tả và phân tích khá kỹ cấu trúc cụm động từ của hai ngôn ngữ Hàn – Việt. Cấu
trúc cụm động từ của hai ngôn ngữ có nhiều điểm khác nhau. Sự khác biệt đó được phản ánh qua hình
thức trật tự từ. Tiếng Việt được coi là ngôn ngữ không có các phạm trù thì, thể, dạng như tiếng Hàn
nhưng có các cách diễn đạt tương ứng để biểu thị các ý nghĩa này.
13. John Lyons, Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, Vương Hữu Lễ dịch, Nxb. Giáo dục, 1997.
14. Bùi Trọng Ngoãn, Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt, Luận án tiến sỹ khoa học ngữ
văn, ĐHQGHN, 2004.
15. SONG JAE HEE, So sánh về hệ thống phụ âm đầu giữa tiếng Việt – tiếng Hàn Quốc, Hội thảo khoa
học sinh viên năm 2006, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp HCM, khoa Việt Nam
học và tiếng Việt cho người nước ngoài.
16. Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt tập II, Nhà xuất bản khoa học, 1964.
17. Nguyễn Kim Thản, Động từ trong tiếng Việt, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977.
18. Lê Quang Thiêm, Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, Nxb.ĐH và THCĐ, 1989.
19. Nguyễn Đông Thục, Bước đầu tìm hiểu những khó khăn trong việc học tiếng Hàn, ĐHKHXH&NV
Hà Nội, 2003.