ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
* PHẠM VŨ CHƯƠNG
MÔ HÌNH TẦNG CHỨA CÁT KẾT MIOCEN HẠ
BỂ CỬU LONG, NGUỒN GỐC, QUI LUẬT PHÂN BỐ
VÀ KHẢ NĂNG TÍCH TỤ DẦU KHÍ Chuyên ngành: Thạch học-Khoáng vật học-Trầm tích học
Mã số: 1.06.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
Phạm Vũ Chương ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt và thuật ngữ tiếng Anh iv
Danh mục biểu bảng vi
Danh mục hình vẽ vii
Mở đầu 1
Chương 1: Lịch sử và phương pháp nghiên cứu 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu tầng Miocen hạ bể Cửu Long 7
1.2 Cơ sở tài liệu: 15
1.3 Các phương pháp nghiên cứu: 16
Chương 2: Cấu trúc, địa tầng và hệ thống dầu khí bể Cửu Long 26
2.1 Giới thiệu chung: 27
2.2 Các yếu tố kiến tạo 28
2.3 Địa tầng 35
2.4 Hệ thống dầu khí 43
Chương 3: Đặc điểm tầng chứa cát kết Miocen hạ bể Cửu Long 50
3.1 Lô 01-02 51
3.2 Lô 15.1 58
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VÀ THUẬT NGỮ TIẾNG ANH
Các thuật ngữ Viết tắt
Chỉ số hydrocarbon HI
Chỉ số trưởng thành nhiệt của đá mẹ Tmax
Hệ số phản xạ vitrinit Ro
Khả năng sinh của đá mẹ S1, S2
Liên doanh điều hành chung JOC
Tổng hàm lượng vật chất hữu cơ TOC
Vật chất hữu cơ tạo dầu/khí Kerogen
Tròn cạnh TC
Bán tròn cạnh BTC
Góc cạnh GC
Bán góc cạnh BGC
Điểm Đ
Đường Đu
Trôi nổi TN
Kém K
Rất kém RK
Trung bình TB
Khá Kh
Tốt T
Vết V
Tổng Công Ty Thăm Dò và Khai Thác Dầu Khí PVEP
Viện Dầu Khí VPI
Thuật ngữ tiếng Anh:
Toàn bộ tên đá, khoáng vật sử dụng theo “Thuật ngữ các khoa học trái đất Anh-
Việt” của GS.TSKH. Lê Như Lai-Nhà Xuất Bản Xây Dựng. Toàn bộ tên hóa đá
Hình 1.1: Sơ đồ tướng đá môi trường lục địa 20
Hình 1.2: Sơ đồ tướng đá môi trường ven biển-biển 20
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí bể Cửu Long 27
Hình 2.2: Vị trí kiến tạo 28
Hình 2.3: Hình thái kiến trúc bề mặt Moho bể Cửu Long 29
Hình 2.4: Mặt cắt thể hiện sự thay đổi bề mặt Moho
và bề dày vỏ lục địa trước Kainozoi bể Cửu Long 30
Hình 2.5: Bản đồ hình thái kiến trúc nóc móng bể Cửu Long 30
Hình 2.6: Các cấu trúc listric của tầng E 31
Hình 2.7: Nếp uốn sau trầm tích bên cạnh đứt gãy trong tầng D và C 32
Hình 2.8: Các pha biến dạng chính từ Jura đến nay 35
Hình 2.9: Cột địa tầng tổng hợp bể Cửu Long 36
Hình 2.10: Đặc điểm địa hóa đá sinh tầng E 44
Hình 2.11: Đặc điểm địa hóa đá sinh tầng D 45
Hình 2.12: Hệ số phản xạ vitrinit 45
Hình 2.13: Các đới chứa trong móng. 46
Hình 2.14: Mối quan hệ độ rỗng – độ thấm trong tầng F, bể Cửu long 47
Hình 2.15: Mối quan hệ độ rỗng – độ thấm tầng BI. 48
Hình 3.1: Sơ đồ phân bố các cấu tạo lô 01 và 02 49
Hình 3.2: Cát kết Arkos, kích thước hạt trung bình đến thô, chọn lọc kém 52
Hình 3.3: Cát kết Arkos và Fenspat Grauvac 53
Hình 3.4: Khoáng vật sét chủ yếu 53
Hình 3.5: Cấu tạo phân lớp xiên chéo, nhịp trầm tích mịn dần lên trên 54
Hình 3.6: Kết quả minh giải địa vật lý giếng khoan tầng BI.2 mỏ RB 55
Hình 3.7: Sét kaolinit bán tự hình 56
vii
viii
Hình 3.36: Cát kết Arkos, Fenspat Grauvac 78
Hình 3.37: Sơ đồ phân bố các cấu tạo lô 09-3 79
Hình 3.38: Cát kết Arkos, Fenspat Grauvac 80
Hình 3.39: Cát kết Fenspat Grauvac hạt trung bình đến thô 80
Hình 3.40: Khoáng vật sét chủ yếu là smectit 81
Hình 3.41: Kết quả minh giải địa vật lý giếng khoan tầng BI.2 cấu tạo ĐM 81
Hình 3.42: Cát kết Fenspat Grauvac hạt trung bình đến thô 82
Hình 3.43: Khoáng vật sét smectit 83
Hình 3.44: Cát kết Arkos, Fenspat Grauvac 83
Hình 3.45: Kết quả minh giải địa vật lý giếng khoan tầng BI.1 cấu tạo ĐM 84
Hình 3.46: Sơ đồ phân bố các cấu tạo lô 16 85
Hình 3.47: Cát kết Arkos, Fenspat Grauvac 86
Hình 3.48: Cát kết Fenspat Grauvac hạt mịn, chọn lọc kém 87
Hình 3.49: Kết quả minh giải địa vật lý giếng khoan tầng BI.2 mỏ TGT 87
Hình 3.50: Cát kết trung bình-thô, chọn lọc kém 89
Hình 3.51: Cát kết Arkos, Arkos mảnh đá, Fenspat Grauvac 89
Hình 3.52: Ảnh chụp từ mẫu lõi 90
Hình 3.53: Kết quả minh giải địa vật lý giếng khoan tầng BI.1 mỏ TGT 91
Hình 4.1: Mặt cắt địa chấn-địa chất theo hướng
Tây Bắc-Đông Nam ở khu vực phía Bắc 95
Hình 4.2: Mặt cắt địa chấn-địa chất theo hướng
Tây Bắc-Đông Nam ở khu vực trung tâm 95
Hình 4.3: Mặt cắt địa chấn-địa chất theo hướng
Tây Bắc-Đông Nam ở khu vực phía Nam 96
Hình 4.4: Mặt cắt địa chấn-địa chất theo hướng
Đông Bắc-Tây Nam ở khu vực rìa phía Tây 96
Hình 4.5: Mặt cắt địa chấn-địa chất theo hướng
Đông Bắc-Tây Nam ở khu vực trung tâm 97
Hình 5.6: Bản đồ cấu tạo tầng BI.1 W, V X và Y 124
1
MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của luận án:
Dầu khí ở thềm lục địa Việt nam được khai thác trong ba đối tượng chính: móng
phong hóa nứt nẻ trước Đệ Tam, trầm tích cát kết Oligocen và Miocen. Đối
tượng trầm tích cát kết Miocen hạ là đối tượng chứa dầu đầu tiên được phát hiện
khi khoan và thử vỉa giếng BH-1 vào năm 1975, nhưng chỉ đến khi việc khai thác
những tầng dưới sâu gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là sau khi công ty dầu khí Việt
Nhật và liên doanh điều hành chung Cửu Long phát hiện dầu thương mại trong
tầng này thì tầng chứa này mới được tập trung nghiên cứu tỉ mỉ. Việc phát hiện ra
dòng dầu thương mại trong tầng này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới, một
triển vọng mới cho ngành công nghiệp dầu khí nước nhà.
Trải qua hơn 30 năm, các công ty dầu khí đã khoan hơn 80 giếng thăm dò và
thẩm lượng, với xác suất thành công khoảng 52%. Nếu chỉ tính riêng giếng thăm
dò, xác suất thành công chỉ khoảng 30%, một con số không hề cao trong một
diện tích chỉ tập trung phần lớn ở trung tâm của bể Cửu Long. Thực tế trên đòi
hỏi cần phải có những nghiên cứu nhằm đánh giá tiềm năng thật sự của tầng chứa
này, nhằm nâng cao hiệu quả trong thăm dò và cả trong khai thác.
Cùng với quá trình khoan thăm dò và thẩm lượng, công tác nghiên cứu địa chất,
địa vật lý được triển khai ngày càng mạnh mẽ, các vấn đề cơ bản về cấu trúc,
kiến tạo và hệ thống dầu khí cũng dần dần được sảng tỏ. Tuy nhiên những nghiên
cứu về đặc điểm, nguồn gốc, qui luật phân bố chưa được thực hiện một cách chi
tiết và khoa học cho toàn bể nhằm giúp cho việc phát hiện, quản lý mỏ hoàn thiện
Long sử dụng phương pháp thể tích kết hợp với phép tương tự. 3
Những luận điểm bảo vệ:
- Tầng Miocen hạ bể Cửu Long được chia thành 2 tầng BI.2 và BI.1. Cả 2
tầng đều có nguồn gốc từ đá granitoit, thành phần chủ yếu thuộc loại
Arkos và Fenspat Grauvac, độ chọn lọc từ kém đến trung bình, hình dạng
hạt từ bán góc cạnh đến bán tròn cạnh. Tuy nhiên chúng có sự khác biệt về
nguồn cung cấp vật liệu, khoảng cách vận chuyển và môi trường lắng
đọng trầm tích dẫn đến sự khác biệt về độ hạt, tổng hàm lượng ximăng và
matrix, độ rỗng, độ bão hòa nước và tỷ số chiều dày hiệu dụng/chiều dày
tổng.
- Các đặc tính chứa tốt tập trung ở khu vực phía Bắc trong tầng BI.2, ngược
lại các đặc tính chứa tốt lại tập trung ở khu vực phía Nam trong tầng BI.1.
Ranh giới của sự khác biệt nằm ở phía Tây lô 15-1, xuống trung tâm lô
15-2, qua phía Bắc lô 09-1 và 09-2.
- Tổng trữ lượng tiềm năng cho các cấu tạo đã được phát hiện và các cấu
tạo đã được vẽ bản đồ, dự báo sẽ được phát hiện của tầng BI.1 là 1,4 tỉ
thùng, tầng BI.2 là 2,4 tỉ thùng và tổng cộng cho cả 2 tầng là 3,8 tỉ thùng.
Những điểm mới của luận án:
- Về mặt phương pháp: đây là công trình đầu tiên sử dụng các tổng hợp các
phương pháp thạch học trầm tích, địa chấn, địa vật lý giếng khoan, xây
dựng mô hình và tính toán trữ lượng nhằm nghiên cứu đặc điểm tầng chứa
theo quan điểm định lượng, làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá tiềm
- Việc xây dựng các bản đồ giúp xác định qui luật phân bố, đặc biệt là bản
đồ tổng hợp đặc điểm tầng chứa cho phép tính toán nhanh trữ lượng dầu
khí tiềm năng đóng vai trò rất quan trọng trong định hướng thăm dò, trong
kế hoạch nâng cao hiệu quả thăm dò và khai thác không chỉ cho Tập Đoàn
Dầu Khí Việt Nam mà cả nhà đầu tư nước ngoài.
5Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 5 chương, 199 trang với 100 hình và 17 bảng
Chương 1 : Lịch sử và các phương pháp nghiên cứu
Chương 2 : Cấu trúc, địa tầng và hệ thống dầu khí bể Cửu Long
Chương 3 : Đặc điểm tầng chứa cát kết Miocen hạ bể Cửu long
Chương 4 : Qui luật phân bố tầng chứa cát kết Miocen hạ bể Cửu long
Chương 5 : Khả năng tích tụ dầu khí tầng chứa cát kết Miocen hạ bể Cửu longLời cám ơn
Luận án được thực hiện tại khoa Địa Chất trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên,
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Lan thuộc trường
Đại Học Khoa Học Tự Nhiên và TS Nguyễn Quốc Quân thuộc liên doanh điều
hành chung Thăng Long. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự
hướng dẫn, giúp đỡ của hai nhà khoa học trên cùng với sự giúp đỡ tận tình của
PGS.TSKH Vũ Quang Bính, PGS. TS Huỳnh Trung, TS Ngô Thường San và TS
Cù Minh Hoàng, nhận xét đóng góp ý kiến của GS. TSKH Trần Nghi, PGS. TS
hơn 110 giếng khoan được thực hiện,các nghiên cứu về cổ sinh, bào tử phấn hoa
và thạch học đã được thực hiện tại Viện Dầu Khí và Vietsovpetro. Kể từ đó, các
nghiên cứu về các thành tạo chứa dầu ở bể Cữu Long nói chung và trầm tích
Miocen hạ nói riêng được thực hiện một cách đầy đủ và chi tiết hơn.
Trong hội nghị địa tầng thềm lục địa Nam Việt Nam vào năm 1993, Ngô Thường
San và đồng tác giả [86], trên cơ sở phân tích tài liệu địa chấn và mẫu lõi, đã
khẳng định trầm tích Miocen hạ phân bố rộng khắp bể và nằm bất chỉnh hợp lên
bề mặt mài mòn của trầm tích Oligocen. Thành phần bao gồm cát kết, bột kết xen
kẽ sét kết. Cát chủ yếu là loại Arkos, thành phần ximăng chủ yếu là kaolinit,
hydromica và canxit. Các đá này được thành tạo trong môi trường trầm tích gần
bờ và tướng đá thay đổi nhanh.
Cũng trong hội nghị trên, Đỗ Bạt và đồng tác giả [41] đã sử dụng tài liệu cổ sinh
ở các giếng khoan mỏ Bạch Hổ và ở lô 15, đã kết luận trầm tích Miocen hạ có bề
dày từ 400-800m, thành phần là cát kết xen kẽ với những tập sét mỏng, càng lên
trên thì có màu xám đến xám trắng. Tuổi của thành tạo được khẳng định qua sự
8
hiện diện của Magnastriatites, Florschuetzia Semilobata, Florschuetzia Levipoli,
Shorea và Pinuspollenites.
Trong hội thảo “Basment Reservoir and Hydrocarbon Potential of Cuu Long
Basin” (1995) tập thể tác giả Viện Dầu Khí [92] đã tổng hợp các tài liệu địa
chấn, cổ sinh, thạch học, địa hóa và các tài liệu tính chất vật lý vỉa để đi đến kết
luận là trầm tích Miocen hạ bể Cửu Long bao gồm cát kết xen kẽ với bột kết và
sét kết, được thành tạo trong môi trường ven biển và biển nông, độ rỗng biến đổi
từ 6-28%, độ thấm từ 0,25mD-6000mD, với tầng chắn khu vực là tầng sét Rotalia
và nguồn cung cấp là đá sét giàu vật chất hữu cơ tuổi Oligocen, với các dạng bẫy
là bẫy nếp lồi, bẫy địa tầng và bẫy thạch học.
được chia thành 4 bước: xây dựng bản đồ cấu trúc vỉa, mô hình hóa kiến trúc
tướng, mô tả đặc điểm tính chất vật lý vỉa và sau cùng là đồng nhất hóa các loại
sai số ngẫu nhiên có thể có của các loại thông số khác nhau. Phương pháp này có
thể tạo lập được mô hình phát triển mỏ cụ thể hơn, linh động hơn và cho phép
chúng ta thiết lập được vị trí giếng khoan một cách tối ưu để khai thác dầu.
Phạm Tuấn Dũng và Phạm Văn Hùng (2001) [12] đã nghiên cứu cấu trúc tầng
sản phẩm 23 Miocen hạ mỏ Bạch Hổ. Việc chi tiết hóa cấu trúc của tầng sản
phẩm 23 được thực hiện trên cơ sở các tài liệu của 220 giếng khoan và kết quả
minh giải tài liệu địa chấn. Kết quả nghiên cứu cho thấy tầng này gồm 1 đến 5
thân cát có bề dày khoảng 47m, và được phủ bởi tập sét dày 90-110m, thành phần
là cát kết Arkos hạt nhỏ đến trung bình. Đặc biệt mỗi thân cát chứa nhiều thân
dầu khác nhau, có chế độ vỉa khác nhau thay đổi từ chế độ suy giảm tự nhiên tới
chế độ thủy áp. Kết quả này giúp cho việc điều chỉnh mạng lưới giếng khoan vào
đối tượng này cũng như các thông số công nghệ khai thác nhằm đạt hiệu quả kinh
tế hơn.
Trần Văn Hồi, Phùng Đắc Hải, Trần Xuân Nhuận, Phạm Tuấn Dũng, Bùi Nữ
Diễm Loan (2003) [52] nghiên cứu đặc điểm địa chất, kiến tạo và địa vật lý giếng
10
khoan của đá chứa trầm tích trong mỏ Bạch Hổ và Rồng. Họ cho rằng trầm tích
Miocen hạ có bề dày khoảng 1000m, lắng đọng trong môi trường biển nông:
- Ở mỏ Bạch Hổ, tầng này gồm 5 tập cát có bề dày từ 5-23m, phân bố rộng
khắp trong mỏ, cát kết từ mịn đến trung bình, có khoáng vật sét là
montmorillonit và kaolinit, độ rỗng 14-20%, độ thấm 2,5-200mD.
- Ở mỏ Rồng, đá chứa Miocen hạ chỉ phát triển ở trung tâm và Đông Bắc
Rồng, bao gồm các tập sét cát xen kẹp, điện trở thấp (3-7Ohm), độ rỗng
và địa vật lý để nghiên cứu đặc điểm thạch học và biến đổi sau trầm tích của đá
chứa Miocen hạ mỏ Sư Tử Đen lô 15.1. Tác giả chứng minh rằng đá chứa cát kết
chủ yếu là Arkos, Arkos mảnh đá, hiếm Á Arkos, có thành phần khoáng vật vụn
giàu fenspat và mảnh đá, độ hạt mịn-trung, chọn lọc trung bình-tốt, ximăng và
khoáng vật thứ sinh chủ yếu là sét và cacbonat. Các đá này bị biến đổi ở giai
đoạn sớm, đặc trung bởi quá trình ximăng và nén ép yếu, phổ biến là sự kết tủa
của khoáng vật thứ sinh nhiệt độ thấp như smectit, clorit và kaolinit và có sự
chuyển hóa yếu của smectit thành illit-smectit. Độ rỗng trung bình của cát kết
sạch hơn 25%.
Chu Đức Quang (2004) [29] sử dụng phương pháp phân tích bào tử phấn hoa và
thành phần vật chất hữu cơ để xác định môi trường trầm tích và tướng hữu cơ của
trầm tích vụn Oligocen-Miocen hạ lô 15-1 phía Bắc bể Cửu Long. Ông cho rằng
các thành tạo trầm tích thuộc hệ tầng Bạch Hổ dưới chủ yếu được thành tạo trong
môi trường đồng bằng sông, giàu vật chất hữu cơ và vật chất hữu cơ đã trưởng
thành (chỉ số màu sắc bào tử từ 5-6), đây chính là tầng sinh địa phương và di
chuyển vào thân cát tướng lòng sông. Các thành tạo trầm tích thuộc hệ tầng Bạch
Hổ trên chủ yếu được thành tạo trong môi trường đồng bằng châu thổ và chuyển
tiếp sang biển nông, các thành tạo trầm tích đầm hồ chứa nhiều vật chất hữu cơ
gồm hữu cơ không cấu trúc Sapropel và Humic đóng vai trò là tầng sinh (chỉ số
12
màu sắc bào tử từ 5-6), chuyển hóa hydrocarbon vào tầng chứa thành tạo trong
môi trường nước lợ xa bờ.
Nguyễn Huy Ngọc (2005) [60] qua phân tích tài liệu địa chấn và địa chất giếng
khoan, đã chứng minh tầng chứa Miocen hạ lô 01-02 gồm các tập cát từ MI08-
MI60, bề dày từ 0-8m, nằm trong nhịp biển tiến từ mặt biển tiến ở dưới đáy đến
tầng Rotalia ở bên trên. Cát kết thuộc môi trường thay đổi từ biển nông, ven biển
đến bồi tích sông dẫn đến bề dày và chất lượng đá chứa cũng thay đổi, trong khu
để nghiên cứu hiện tượng điện trở thấp trong đá chứa cát kết Miocen hạ lô 01 và
cho rằng điện trở thấp trong tầng này là do nhiều nguyên nhân: phương pháp đo,
điều kiện thành giếng khoan, độ bão hòa nước dư, khoáng vật quặng và khoáng
vật sét ngậm nước. Trong đó đáng chú ý nhất là độ bão hòa nước dư, cấu trúc
phân lớp mỏng của cát sét (đặc biệt là sét trương nở). Ngoài ra các khoáng vật
quặng cũng ảnh hưởng mạnh đến giá trị điện trở. Tác giả cũng đề nghị sử dụng tổ
hợp các phương pháp đo ghi điện trở suất với các phương pháp độ rỗng để tính
độ bão hòa nước nhằm khắc phục nhược điểm của phương trình Archie khi sét và
pha cứng của đá cũng tham gia quá trình dẫn điện.
Nguyễn Hiệp và đồng tác giả (2007) [19] tổng hợp toàn bộ tài liệu trong khu vực
và cho rằng hệ tầng Bạch Hổ phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Trà Tân, có bề dày
100 đến 1500m, trung bình 400-1000m và được phân chia làm 2 phần rõ rệt:
- Phần dưới gồm cát kết có kích thước hạt khác nhau nằm xen kẽ với bột
kết và sét kết, đôi nơi có chứa vụn than hình thành trong đồng bằng
ven bờ, đồng bằng châu thổ đến biển nông.
- Phần trên gồm tập đá sét kết tương đối sạch, chứa nhiều hoá đá biển
nông Rotalia xen kẽ các lớp bột kết ít lớp cát kết hạt nhỏ, màu xám lục
14
chứa nhiều glauconit. Hoá đá cổ sinh tương đối phong phú bao gồm
bào tử phấn hoa, tảo và vi cổ sinh thuộc các phức hệ Magnastriatites
howardi/ Pediastrum/ Botryococcus chia làm 2 đới:
+ Đới Florschuetzia levipoli
+ Đới Rotalia
Tóm lại, qua tổng quan tài liệu nghiên cứu đã được thực hiện đến nay, tác giả
tài liệu địa chấn 3D, kết quả minh giải cho các tầng phản xạ
chính BI.1, BI.2, C, D, E/F và móng, và các bản đồ cấu trúc của tầng BI.1
và BI.2 của nhà thầu dầu khí và tổng công ty thăm dò khai thác dầu khí.
- Tài liệu địa vật lý giếng khoan bao gồm các đường cong và kết quả minh
giải địa vật lý giếng khoan cũng như các thông số vỉa của 52 giếng khoan
của nhà thầu dầu khí và Tổng công ty thăm dò khai thác dầu khí.
- Tài liệu phân tích mẫu bao gồm tài liệu mô tả mẫu vụn khoan, phân tích
mẫu lát mỏng (349 mẫu), phân tích Rơnghen (XRD) và kính hiển vi điện
tử quét (SEM) (140 mẫu) và mô tả mẫu lõi (11 đoạn mẫu) của Viện Dầu
Khí.
- Tài liệu phân tích thử vỉa nhằm xác định hệ số thành hệ cho tính toán trữ
lượng (9 giếng) của nhà thầu dầu khí.
Để xác định đặc điểm tầng chứa, xây dựng mô hình 2D và tính toán khả năng tích
tụ dầu khí tác giả đã phân tích 169 lát mỏng, 84 mẫu XRD và SEM và 4 đoạn
mẫu lõi; tham gia đề án minh giải cho các lô 15-1/05, 16-2, Tê Giác Trắng,
Azurit, Đông Bắc Sư Tử Trắng; tổng hợp số liệu phân tích nhằm xây dựng 6
tuyến liên kết qua bể cùng 16 bản đồ phân bố; thu thập toàn bộ bản đồ cấu trúc,
kết hợp với thông số tầng chứa sau đó chạy phần mềm phân bố và mô phỏng
Montercarlo để tính trữ lượng cho tầng BI.1 và BI.2 toàn bộ bể Cửu Long.