ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRIỆU THỊ NGA NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM
CANH GIỐNG LÚA AKITA KOMACHI TẠI
HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ
KHOA HỌC CÂY TRỒNG Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Quý Nhân
Tôi xin cam đoan:
- Tôi đã luôn luôn nỗ lực, cố gắng và trung thực trong suốt quá trình
nghiên cứu đề tài.
- Các thông tin trong luận văn đã được chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý
từ nhiều nguồn khác nhau và được đưa vào luận văn đúng quy định.
- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Triệu Thị Nga
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 5
1.2.2. Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam 9
1.3. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới và ở Việt Nam 12
1.3.1. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 12
1.3.2. Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam 15
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 23
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 23
3.3.1. Ảnh hưởng của phân bón đến thời gian sinh trưởng
của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 43
3.3.2. Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng đẻ nhánh
của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 44
3.3.3. Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây và khả năng chống đổ
của giống lúa Akita Komachi, vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 46
3.3.4. Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu bệnh hại
giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 46
3.3.5. Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 48
3.3.6. Ảnh hưởng của phân bón đến hiệu quả kinh tế
của giống lúa Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
1. Kết luận 52
2. Đề nghị: 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 6
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CT : Công thức
ĐBSCL : Đồng bằng Sông Cửu Long
BVTV : Bảo vệ thực vật
NSTT : Năng suất thực thu
NSLT : Năng suất lý thuyết
NL : Nhắc lại
TB : Trung bình
và khả năng chống đổ của giống lúa Akita Komachi vụ mùa 2013 và
vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa 46
vii
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu, bệnh hại giống lúa
Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa 47
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất giống Akita Komachi vụ mùa 2013 và vụ xuân năm 2014 48
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống lúa
Akita Komachi vụ mùa năm 2013 và vụ xuân năm 2014 tại huyện Định Hóa 50 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng bậc nhất ở nước ta
và đứng hàng thứ hai trên thế giới sau lúa mỳ. Khoảng 40% dân số thế giới coi
lúa gạo là nguồn lương thực chính và 25% dân số sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu
phần lương thực hàng ngày. Chính vì thế, việc tăng sản lượng và chất lượng của
lúa gạo để đáp ứng nhu cầu của con người vẫn luôn được thế giới quan tâm hàng
đầu nhằm đảm bảo an ninh lương thực và chất lượng cuộc sống. Trong các châu
lục sản xuất lúa thì Châu Á là châu lục có diện tích và sản lượng lúa lớn nhất thế
giới (chiếm trên 90% sản lượng lúa gạo thế giới).
Việt Nam là một nước nông nghiệp, sản xuất lúa gạo luôn là vấn đề quan
trọng, liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực và chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Việt Nam có trên 70% dân số sống ở nông thôn, gắn
liền với truyền thống và tập quán sản xuất lương thực, trong đó lúa gạo là chủ
yếu, chiếm gần 90% tổng sản lượng lương thực. Trong những năm gần đây,
hơn các giống khác (cao hơn từ 15 - 20cm) dễ đổ, do đó năng suất thấp, trung
bình đạt 48 - 50 tạ/ha, yếu điểm nữa là do lúa Bao Thai là giống dài ngày nên đã
ảnh hưởng rất lớn đến việc trồng cây vụ đông.
Giống lúa Akita Komachi là giống lúa thuần thuộc loài phụ Japonica,
có chất lượng gạo ngon, thời gian sinh trưởng ngắn (thời gian sinh trưởng ngắn
hơn cả giống Khang dân 18). Trong những năm qua, giống lúa này đã được
trồng ở một số địa phương như: Vĩnh Phúc, An Giang, Phú Yên…cho kết quả
tốt. Với ưu điểm của giống lúa này, xuất phát từ thực trạng sản xuất lúa và định
hướng phát triển ngành Nông nghiệp của huyện, tôi đã lựa chọn giống lúa này để
tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa
Akita Komachi tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên".
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp cho giống lúa
Akita Komachi nhằm đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều
kiện canh tác tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ gieo cấy đến khả năng sinh trưởng,
khả năng chống chịu và cho năng suất của giống lúa Akita Komachi tại huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá hiệu quả của một số công thức phân bón đến khả năng sinh
trưởng, phát triển và cho năng suất của giống lúa Akita Komachi trong điều
3
kiện áp dụng thử nghiệm các biện pháp canh tác mới tại huyện Định Hóa, tỉnh
Thái Nguyên.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định đặc tính nông học, năng suất và khả năng chống chịu sâu,
bệnh hại, khả năng chống đổ của giống lúa Akita Komachi qua các biện pháp
2
(N), số
hạt/bông (n), tỷ lệ hạt chắc (F) và khối lượng 1000 hạt (W). Mối quan hệ phụ
thuộc trên có thể biểu diễn bằng công thức:
Y= N * n * W * F * 10
-5
(tấn/ha)
Các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan mật thiết với nhau. Số
bông/m
2
phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ nhánh, mật độ cấy. Khi cây đẻ nhánh khỏe,
nhiều dảnh thì số bông tăng. Khi số bông/m
2
tăng quá cao thì bông lúa ngắn
và bé đi, số hạt/bông giảm, tỷ lệ hạt chắc/bông và khối lượng hạt cũng giảm.
Để đạt được năng suất cao cần điều khiển cho lúa có số bông tối ưu, đảm bảo
số hạt/bông nhiều, tỷ lệ hạt chắc cao và khối lượng hạt lớn (Nguyễn Văn
Hoan, 2006) [14].
- Yếu tố ảnh hưởng đến số bông/m2: Số bông/m2 được quyết định bởi
2 yếu tố chủ yếu là mật độ cấy và tỷ lệ nhánh đẻ (Nguyễn Văn Hoan, 2006)
[14]. Muốn cho lúa đẻ nhánh tốt thì ngoài cấy mạ khỏe, đúng thời vụ, việc
bón phân thúc đẻ và thúc đòng ảnh hưởng có tính chất quyết định. Thời kỳ đẻ
nhánh cần được bón đủ đạm, lân và kali; thời kỳ làm đòng cần bón đạm và
kali (Lê Vĩnh Thảo, 2004) [26].
- Yếu tố ảnh hưởng đến số hạt/bông: Số hạt/bông là do số lượng hoa
phân hóa và số lượng hoa thoái hóa quyết định (Nguyễn Văn Hoan, 2006)
[14]. Tỷ lệ hoa phân hóa liên quan chặt đến chế độ chăm sóc, trong đó phân
5
6
thập kỷ gần đây thể hiện qua Bảng 2.1.
Bảng 2.1. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới
giai đoạn 1970 - 2013
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
1970 132.873 23,51 312.452
1980 144.412 27,30 394.345
1990 146.960 35,10 515.871
2000 154.060 38,74 596.926
2005 154.988 40,78 632.176
2010 161.188 43,55 701.998
2011 162.799 44,60 726.121
2012 162.317 45,47 738.187
2013 166.084 44,86 745.172
(Nguồn: FAO STAT, 2014)
Qua Bảng 2.1 ta thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa qua các
năm có xu hướng tăng lên. Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90
của thế kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI. Về
năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập
niên 70, 80. Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất
lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,51 tạ/ha
năm 1970 lên 44,86 tạ/ha vào năm 2013. Điều này cho thấy “cuộc Cách mạng
xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế
(Nguồn: FAO STAT, 2014)
Hiện nay, châu Á có diện tích lúa cao nhất với 146,17 triệu ha, sản
lượng 674,7 triệu tấn. Các nước có sản lượng lúa cao nhất đó là Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản.
Tuy nhiên, năng suất lúa cao nhất lại tập trung ở các nước phát triển ở châu
Úc, châu Âu… Nước có năng suất lúa cao nhất là Australia 102,17 tạ/ha, Ai
Cập 96,42 tạ/ha, Trung Quốc 67,24 tạ/ha, Mỹ 86,23 tạ/ha, Nhật Bản 67,28
tạ/ha. Năm 2013, ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới đó là Ấn Độ (9,61
triệu tấn), Thái Lan (6,79 triệu tấn) và Việt Nam (6,74 triệu tấn).
Qua Bảng 2.2 cho thấy: Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất
thế giới với diện tích là 43.500 nghìn ha (năm 2013), sản lượng lúa của Ấn
Độ là 159.200 nghìn tấn, chiếm 21,36% tổng sản lượng của thế giới. Năm
2013, Ấn Độ là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, xuất
8
khẩu gạo của Ấn Độ thất thường. Gạo Ấn Độ xuất khẩu chủ yếu là gạo
basmati. Theo dự báo của USDA trong thập kỷ tới, dự báo xuất khẩu gạo Ấn
Độ sẽ tăng trưởng hơn 30%, thị phần xuất khẩu gạo của Ấn Độ sẽ tăng từ
16% năm 2007/08 lên khoảng 17% đến năm 2016/17.
Trung Quốc có diện tích trồng lúa đứng thứ 2 thế giới. Trong vài thập
niên gần đây, Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong
đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân
năm 2013 đạt 67,24 tạ/ha, sản lượng đạt 205.015 nghìn tấn (đứng đầu về sản
lượng lúa trên thế giới). Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh
tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng
nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều. Đây cũng là
trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc.
Trung Quốc xuất khẩu trung bình 2,6 triệu tấn gạo trong giai đoạn
1998 - 2003, từ đó xuất khẩu gạo của Trung Quốc tiếp tục giữ ổn định ở
Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ. Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan
và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới.
Việt Nam xuất khẩu gạo hạt dài là chủ yếu. Thái Lan xuất khẩu gạo thơm, gạo
hạt dài đặc biệt và gạo dính. Một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng
sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Saharan Châu Phi,
Bangladesh, Philippines, Brazil.
Năm 2013, sản xuất lúa gạo trên thế giới nhìn chung không có thay đổi
lớn so với năm 2012 nhưng nhóm các nước tiêu dùng lớn như: Trung Quốc,
Indonesia, Philippines đang đẩy mạnh chiến lược tự cân đối nhu cầu trong
nước, do đó thị trường thế giới sẽ chỉ có đột biến khi bất ổn về thiên tai xảy ra.
1.2.2. Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam
Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á, nằm trong vành đai nhiệt đới
gió mùa, rất thích hợp cho phát triển cây lúa.
Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp
của Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và xuất
khẩu. Cây lúa đã gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước, trải dài từ Bắc
vào Nam và có 3 vùng trồng lúa chủ yếu là Đồng bằng Sông Hồng, Đồng
10
bằng Sông Cửu Long và vùng Duyên hải miền Trung. Trong đó, Đồng bằng
Sông Cửu Long (1,8 triệu ha) và Đồng bằng Sông Hồng (1,3 triệu ha) được
coi là 2 vựa lúa chính của cả nước.
Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm gần đây thể
hiện qua bảng sau:
Bảng 2.3. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam
giai đoạn 1970 - 2013
Năm
Diệ
n tích
11
đạt khoảng 21 tạ/ha. Năm 1990 năng suất lúa đã tăng lên 31,81 tạ/ha, năm
2000 là 42,43 tạ/ha, năm 2010 năng suất lúa đạt 53,22 tạ/ha và năm 2012 có
năng suất lúa cao nhất là 56,31 tạ/ha, tăng 13,88 tạ/ha so với năm 2000 và
tăng 35,51 tạ/ha so với năm 1980.
Do diện tích và năng suất tăng nên sản lượng lúa của nước ta tăng khá
cao, năm 2013 đạt 44.076,1 nghìn tấn. Có được thành tựu trên nhờ chúng ta
không ngừng cải thiện công tác giống trong sản xuất lúa, đây cũng chính là chiến
lược sản xuất của Việt Nam trong thời gian tới, phấn đấu đạt và duy trì sản lượng
lúa hàng năm là 45 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất giống lúa có chất lượng cao
xuất khẩu hàng năm từ 5 - 6 triệu tấn.
Ngoài hàng loạt những biện pháp đổi mới của Chính Phủ, công tác cải
tiến giống lúa có vai trò quan trọng và sau đó là những thay đổi biện pháp kỹ
thuật trồng lúa như việc chuyển đổi mùa vụ, giải quyết vấn đề thủy lợi để tưới
tiêu, cải tạo đất phèn ở ĐBSCL. Năng suất và sản lượng lúa tăng còn do tăng
diện tích gieo trồng. Đặc biệt, việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật,
mở rộng diện tích giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao kết hợp với các
biện pháp thâm canh tổng hợp, thâm canh lúa cao sản đã góp phần chủ yếu
làm tăng năng suất lúa với tốc độ cao ổn định. Những năm gần đây chúng ta
có chính sách mở cửa nên nhập nội một số giống lúa từ các Viện lúa quốc tế
(IRRI), CIAT và của một số nước khác đặc biệt là Trung Quốc.
Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới
(đứng thứ 3 trên thế giới sau Ấn Độ và Thái Lan, năm 2013) và được chứng
minh bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều lợi thế cạnh tranh trong sản
xuất gạo so với những nhà sản xuất khác và lợi thế này ngày càng mạnh đối
với sản phẩm gạo chất lượng cao. Tuy nhiên vẫn còn những câu hỏi đặt ra là
làm thế nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như
hiện nay. Sự tăng trưởng đầy ấn tượng về năng suất và sản lượng lúa là thành
độ 300 cây/m
2
, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho
bông. Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182 - 242 dảnh/m
2
. Số
bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt/bông.
Mật độ cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự đẻ nhánh.
Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dầy thì đẻ nhánh ít.
Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và
13
quần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: các giống khác nhau phản
ứng với mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng
suất tăng nhưng vượt qua giới hạn đó năng suất không tăng mà còn giảm
xuống. Qua thực tế thí nghiệm nhiều năm đối với nhiều giống lúa khác nhau
S. Yoshida (1978) [50] cho rằng: Trong phạm vi khoảng cách 10 x 10 cm đến
50 x 50 cm khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất. Ông đã thấy rằng
năng suất của hạt giống IR - 154 - 451 (một giống đẻ nhánh ít) tăng lên với
việc giảm khoảng cách 10 x 10cm. Còn IR
8
(giống đẻ nhánh khỏe) năng suất
đạt cực đại ở khoảng cách cấy là 20 x 20 cm.
Các tác giả người Trung Quốc đã sử dụng tổ hợp lai 2 dòng PA
64S/9311 để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của tổ hợp lai. Các tác giả sử dụng hai công thức cấy
thưa (90.000 khóm/ha) và công thức cấy truyền thống của Trung Quốc
(300.000 khóm/ha). Kết quả nghiên cứu cho thấy:
+ Số nhánh đẻ ở công thức cấy thưa giảm đáng kể so với công thức
người ta dựa vào hàm lượng lân tổng số, phân lân bón cho lúa có hiệu quả
đứng thứ 2 sau đạm, nhưng trong một vài trường hợp, ở những đất nghèo màu
thì phân lân lại làm tăng năng suất nhiều hơn đạm. Tuy nhiên bón phân lân
cùng với đạm là điều kiện tốt để phát huy hiệu quả cao của phân lân. Khi cây
bị thiếu lân cây non có bộ lá hẹp, thường bị cuộn lại, sức đẻ nhánh giảm và đẻ
muộn, giai đoạn đẻ nhánh kéo dài. Ở thời kỳ lúa đẻ nhánh và tròn mình, phân
lân có ảnh hưởng tốt đối với cây lúa, nó làm cho trọng lượng của phần trên
mặt đất của cây lúa tăng khá lớn, sau đó đến thời kỳ chín mức tăng của trọng
lượng thân cây giảm. Ở những chân đất tương đối phì nhiêu, hiệu quả của
phân lân đối với năng suất lúa không lớn. Bón lân làm cho lúa cứng cây và
tăng khả năng chống đổ.
Theo Yang (1999) [52] ở nhiều nước trên thế giới thường hay bón phân
chuồng và phân ủ cho lúa để làm tăng độ phì nhiêu cho đất như: Trung Quốc,
Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và các nước vùng Đông Nam Á. Trong thời gian
gần đây phân khoáng đã được dùng phổ biến và phân chuồng được dùng bón
lót làm tăng năng suất lúa và tăng hiệu quả của phân khoáng. Thí nghiệm của
15
Ying (1998) [53] cho thấy: sự tích luỹ đạm, lân và kali ở các cơ quan trên mặt
đất của cây lúa không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn được tích luỹ tiếp ở các
giai đoạn tiếp theo của cây.
Theo Sarker (2002) [46] khi nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài của lân đối
với lúa được đánh giá: “Hiệu suất của lân đối với năng suất hạt ở giai đoạn
đầu cao hơn giai đoạn cuối và lượng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu phân
phối ở các cơ quan sinh trưởng. Do đó, phải bón lót để đáp ứng nhu cầu dinh
dưỡng cho cây lúa”.
Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa. Muốn đạt năng suất,
sản lượng cao cần bón phân đúng liều lượng và đúng cách. Ngay những thập
kỷ 70, 50% sản lượng nông nghiệp tăng lên ở các nước phát triển là nhờ sử
thì cũng chỉ
đạt được 400 bông/m
2
nhưng số hạt trung bình 1 bông giảm xuống chỉ còn 73 hạt.
Như vậy mật độ tăng lên 2 lần cũng chỉ tăng được 1,25 lần số bông, còn số
hạt/bông giảm tới 1,78 lần (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14].
Mật độ cấy thích hợp tùy thuộc vào giống, mùa vụ, tuổi mạ, điều kiện
đất đai, phân bón và tập quán canh tác của từng địa phương Theo Nguyễn
Thị Trâm (2007)[31] sử dụng mạ non để cấy thì sau cấy lúa thường đẻ
nhánh sớm và nhanh. Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/khóm với mật độ 40
khóm/m
2
chỉ cần cấy 3-4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy nhiều
hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm.
Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2- 5 nhánh thì số dảnh cấy phải
tính cả nhánh đẻ trên mạ. Loại mạ này già hơn 10 - 15 ngày so với mạ chưa
đẻ vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải
đạt trên 70% số bông dự định. Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích luỹ, ra
lá lớn lên và thành bông. Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào 8 - 15
ngày sau cấy. Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn
cấy mạ non. Nguyễn Văn Hoan (1999) [14] cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40
khóm/m
2
thì để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non)
với loại mạ thâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được xác định lượng theo
số bông cần đạt nhân với 0,8.
Theo Nguyễn Thị Trâm (2001) [30] thì mật độ cấy càng cao thì số bông
càng nhiều. Tuy nhiên cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được
số bông/đơn vị diện tích theo dự định, các giống lai có thời gian sinh trưởng
trung bình có thể cấy thưa. Ví dụ: Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m
, với 9 bông/khóm cần cấy 33 dảnh/m
2
, với 10
bông/khóm cần cấy 30 dảnh/m
2
.
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh
trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh. Nguyễn Như Hà (1999) [12] kết luận:
Tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm. So sánh số
dảnh/khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m
2
và mật độ cấy dày 85
khóm/m
2
thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn
hơn 0,9 dảnh/khóm - 14,8% ở vụ xuân, còn ở vụ mùa lên tới 1,9
dảnh/khóm - 25%. Về dinh dưỡng đạm của lúa tác động đến mật độ cấy,
tác giả kết luận tăng bón đạm ở mật độ cấy dầy có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh
hữu hiệu. Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65
khóm/m
2
ở vụ xuân và 75 khóm/m
2
ở vụ mùa. Tăng bón đạm ở mật độ cao
trong khoảng 55 - 65 khóm/m
2
làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu.
Nguyễn Thạch Cương (2000) [7] đã làm thí nghiệm với tổ hợp Bồi tạp
Sơn Thanh trên đất phù sa Sông Hồng và đi đến kết luận:
+ Trong vụ xuân: Với mật độ cấy 55 khóm/m