Bộ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
^IŨQ«Ổ>
s ỗ TlịỊ lỉp tlị LÊ
KHẢO SÁT, BÁNH GKÌHỆCHÍNH SÁCH VÀ
THựC TRẠNG CHI TRẢ TIỀN THIIÔC CHO CÁC » ố l
TƯỌMG BẢO HIỂM Y tê ' TROIVG «lA I BOẠN 3001-3004
CKHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHOÁ 2000-2005)
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Thái Hằng
Nơi thực hiện : Trường đại học Dược Hà Nội
Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Thời gian thực hiện : 01/2005-05/2005
HÀ NỘI THÁNG 5/2005
J 3 ^ & c M f^
ớ ớ
k ^ hm na. ti sdn ớm t Lt. Ixớớ n ó Au e A kớn h imn. li
^J)^S^^SJ1ớMt Q'hi ầJ^hi 'Tớ,^ Ui itọ hnij. ớlớt DL ia tt tỡn h ehi M^ ớỳt s^
tụ i tr^n. it (ớỏ trỡn h Lm. lun txn tụ t nijJtiờỗL.
ầợụi ổUt ehỏn ik ự n k eitL n Qka e i . ^ h iin t Jòiidnjg. SớUt- lt iujJhJổfL 4JL
ớèỏnt inh-
(Sụ^
hint ổõ h i (Z)il Qlant it ^ộớt tih iei tỡn h hờớU. dt acL ớèt s^ t i
tri. ỳớjc, ihu ih õfi t i Lit enớ. nh (Jtỳ^ ti nht. idn h mjiiiejtL hei le uý. bỳiL
trn. qxớ irỡn h tit h n h nhi^t eu.
ầ ợ ỷ i e U . ổ h i Im ớ tú l U , l u ớ H t i e c , ớ h . e ớ j j ỳ a t i^ tt . l A i t iụ i Q ju a n . l L
3(Juik iờ'^ e eti, nh tõớt e aỏe kớ eA it tn. ta nt ehi lỳa a d.
d tụ i 5 nm he.
(Xjul eAnt n^ tỏ'ớ eA ới ớ. iụiy ihni. it i lui ttiớ. Itnh ỳt fjiỳp. it tụ i
t m n i j . u ỳ t i h i ớ i a t h o a i fL.
^ u i e ự n . i i ổ i n h i
PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quát về bảo hiểm và bảo hiểm y tế 3
1.1.1 nguồn gốc và sự cần thiết của bảo hiểm 3
1.1.2 Vai trò quan trọng của bảo hiểm y tế 7
1.1.3 Bảo hiểm y tế trong mối liên hệ với bảo hiểm xã hội 11
1.2 Chính sách bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới.
12
1.3 Chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam 18
1.3.1 Hoàn cảnh ra đời của chính sách BHYT ở Việt Nam
18
1.3.2 Tổ chức bộ máy BHYT
18
1.3.3 Đối tượng tham gia BHYT
19
1.3.4 Phạm vi BHYT
20
1.3.5 Phương thức BHYT
.
20
1.3.6 Quỹ BHYT
21
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cú u
2.1. Đối tượng nghiên cứu 23
2.2. Phương pháp nghiên cứu 23
2.3. Nội dung nghiên cứu
45
3.4.2.3 Quản lý giá thuốc 49
3.5 Điều tra quá trình thực hiện thí điểm BHYT tự nguyện cho nông
dân tại huyện Sóc Sơn-Hà Nội 50
3.5.1 Tình hình thực tiễn 50
3.5.2 Bàn luận về mô hình BHYT tự nguyện
50
3.5.3 Một số giải pháp mở rộng và phát triển BHYT tự nguyện
51
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận 54
4.2 Đề xuất 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT Bảng
số
TÊN BẢNG
Trang
1 1.1
Sự khác nhau giữa BHYT xã hội và BHYT thương mại
5
2
1.2
So sánh các phương thức chi trả về chất lượng dịch vụ y tế,
khả năng kiểm soát chi phí và khả năng quản lý.
10
3
1.3 Mô hình tổ chức quỹ BHYT một số quốc gia trên thế giới
35
13
3.13 Mức phí BHYT đóng góp bình quân theo khu vực
35
14
3.14
Mức phí bảo hiểm y tế bình quân phân theo đối tượng bắt
buộc
36
15
3.15
Mức phí bảo hiểm y tế bình quân phân theo đối tượng tự
nguyện
37
16
3.16
Số thu BHYT qua các năm
38
17 3.17
So sánh nguồn tài chính BHYT với ngân sách y tế
38
18
3.18
Chi phí khám chữa bệnh và chi phí tiền thuốc 4 năm đối
với bệnh nhân BHYT
40
19 3.19
Chi phí khám chữa bệnh so với chi phí tiền thuốc của đối
tượng BHYT bắt buộc
41
Cơ cấu đối tượng tham gia BHYT qua từng năm.
31
8
3.8
Cơ cấu đối tượng tham gia BHYT qua các năm
33
9 3.9
Cơ cấu đối tượng tham gia BHYT phân theo khu vực
34
10 3.10
Mức đóng góp BHYT bình quân theo khu vực
35
11
3.11
Mức phí BHYT của đối tượng bắt buộc
36
12 3.12
Mức phí BHYT bình quân của đối tượng tự nguyện
37
13
3.13
Số thu BHYT qua các năm
38
14 3.14
Chi phí tiền thuốc so với chi phí khám chữa bệnh
40
15
3.15
Chi phí tiền thuốc so với chi phí khám chữa bệnh cho đối
tượng BHYT bắt buộc
ĐẶT VẤN ĐỀMỤC TIÊU
1. Khảo sát, tìm hiểu mô hình tô chức, cơ chế hoạt động và hệ thống
chính sách của BHYT ở Việt Nam
2. Bước đầu khảo sát và đánh giá thực trạng chi trả tiền thuốc cho các
đối tượng BHYT ở Việt Nam
3. Đề xuất và kiến nghị một số giải pháp hiệu quả và khả thi với hoạt
động của BHYT Việt Nani
TỔNG QUAN
* Tổng quát về bảo hiểm và bảo hiểm y tế
* Chính sách bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới
* Chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam
,Nội dung NC
/
*Chính sách
BHYTmột số
nước trên thế
giới.
*Chính sách
BHYTỞViệt
Nam
*Thực trạng
quản lý và sử
dụng quỹ BHYT
trong giai đoạn
2001-2004
/
Đối tượng NC
được xem là cương lĩnh hành động cho mỗi quốc gia trên thế giới; Phải chăm
lo bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng. Việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ là nhu
cầu thiết yếu của mỗi người dân và của cả cộng đồng.
Chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân theo định hướng công bằng là một
trong những quan điểm chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong
quá trình xây dựng và phát triển nền Y học Việt Nam. Ngay từ những năm còn
thực hiện chế độ bao cấp trong khám chữa bệnh, Nhà nước đã dành một tỷ lệ
ngân sách đáng kể cho y tế. Tuy nhiên nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
ngày một tăng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như: sự gia tăng
của chi phí y tế, giá thuốc tăng, mô hình bệnh tật ngày càng đa dạng, các kỹ
thuật chẩn đoán mới và hiện đại được áp dụng ngày càng nhiều .do đó nguồn
ngân sách của Nhà nước khó có thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân.
Từ năm 1986, sau đại hội lần thứ VI của Đảng, nước ta bước vào một
thời kỳ đổi mới toàn diện về mọi mặt, ngành Y tế cũng có nhiều thay đổi
trong mọi lĩnh vực, từ khám chữa bệnh cho tới quản lý y tế. Bên cạnh nguồn
ngân sách nhà nước cung cấp, các cơ sở khám chữa bệnh được phép thu thêm
một phần viện phí và tìm nguồn tài chính hçfp lý để chi trả cho công tác chăm
sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong điều kiện xoá bỏ bao cấp.
Để tăng thêm nguồn kinh phí cho ngành Y tế, nâng cao chất lượng
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, thực hiện công bằng trong khám chữa
bệnh, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội chỉ có
một biện pháp duy nhất đó là thực hiện chính sách Bảo hiểm tế. Bảo hiểm y tế
thể hiện tính nhân đạo và công bẵng xã hội trong khám chữa bệnh
Bảo hiểm y tế Việt Nam ra đời theo nghị định 299/HĐBT ngày 15
tháng 8 năm 1992 của Hội Đồng Bộ trưcmg (nay là Chính phủ)» Sự ra đời của
Bảo hiểm y tế là khách quan và cần thiết, phù hçfp với nền kinh tế mới, diện
mạo mới của đất nước. Bảo hiểm y tế ra đời góp phần giải quyết những vấn đề
bức xúc trong hoạt động y tế nước ta hiện nay, thể hiện tính nhân đạo xã hội,
sự bình đẳng và công bằng trong khám chữa bệnh. Bảo hiểm y tế góp phần
sống, làm mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngưng trệ sản
xuất, kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Từ đó con người
dần có ý tưcmg về những hoạt động dự trữ, bảo hiểm.
Bảo hiểm thưomg mại là loại hình bảo hiểm có tính kinh doanh xuất
hiện khá sớm. Trước Công nguyên, ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết
thành lập quỹ tương trợ để giúp đỡ nạn nhân trong các vụ tai nạn. Từ đó, hoạt
động mang tính chất bảo hiểm phát triển-dần theo sự phát triển của xã hội loài
người. Thế kỷ XIX đánh dấu sự ra đời của hàng loạt các công ty bảo hiểm ở
các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức. Các loại hình bảo hiểm
cũng được mở rộng do sự xuất hiện của nhiều loại rủi ro mới như tai nạn máy
bay, xe cơ giới. Bảo hiểm ngày càng trở nên quan trọng đối với nền kinh tế, nó
trở thành nhu cầu của mọi người, mọi đơn vị kinh tế, là động lực phát triển
kinh tế, đóng góp xứng đáng vào GDP của mỗi quốc gia.[20],[24],[29],[30].
Đối với mỗi cá nhân, ai cũng muốn sống khoẻ mạnh, ấm no và hạnh
phúc. Tuy nhiên những rủi ro như ốm đau bệnh tật có thể xảy ra bất cứ lúc
nào, không loại trừ một ai và không đoán trước được hậu quả, có thể sẽ gây
khó khăn về kinh tế cho bản thân người bệnh, cho gia đình, đặc biệt là những
người có thu nhập thấp [29]. Để đảm bảo nguồn vốn tài chính đầy đủ và ổn
định dành cho việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân và giảm bớt gánh nặng cho
ngân sách nhà nước cần phải huy động sự đóng góp của các thành viên trong
xã hội, lập nên quỹ khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế. Bảo hiểm y tế là nhu cầu
tất yếu khách quan của người lao động. Nhu cầu đó đã xuất hiện khá sớm và
phát triển theo quá trình phát triển của xã hội. Năm 1883, nước Phổ (Cộng hoà
liên bang Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế
giới, đánh dấu sự ra đời của Bảo hiểm y tế [20],[24]. Ngày nay, hầu hết các
nước trên thế giới đều có hệ thống Bảo hiểm y tế ở một hình thửc nào đó. Tuy
nhiên, hệ thống Bảo hiểm y tế của các nước là rất khác nhau về hình thức tổ
chức, tỷ lệ đối tượng tham gia, chế độ hưởng Bảo hiểm y tế cũng như hiệu quả
của hệ thống Ngày nay, Bảo hiểm y tế đã trở thành một trong những quyền
con người được cả xã hội thừa nhận. Chính phủ của một số nước cũng tích cực
Bên cạnh chính sách Bảo hiểm y tế xã hội còn có các loại hình Bảo
hiểm y tế thương mại hoạt động vì mục đích lợi nhuận, thường được cung cấp
bởi các công ty bảo hiểm thưofng mại. Cần phân biệt rõ sự khác nhau cơ bản
giữa hai loại hình bảo hiểm này[29],[30]:
Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa BHYT xã hội và BHYT thương mại
BHYTxãhội
Mức phí
Theo khả năng đóng góp của cá
nhân (theo thu nhập)
Theo nguy cơ rủi ro ốm đau của đối
tượng tham gia bảo hiểm
Mức hưởng
Theo nhu cầu chi phí KCB thực
tế. Không phụ thuộc mức đóng
Theo số tiền mà cá nhân đã đóng
góp khi tham gia bảo hiểm
Vai trò của
nhà nước
Có sự bảo trợ của nhà nước
Thường không có sự hỗ trợ tài
chính từ phía nhà nước
Hình thức
tham gia
Bắt buộc
Tự nguyện
Mục tiêu
hoạt động
Vì chính sách xã hội. Không kinh
doanh vì lợi nhuận
Kinh doanh. Hoạt động vì mục tiêu
nước là đều giống nhau, cho dù pháp luật và các quy định về Bảo hiểm xã hội
là khác nhau. Hoạt động BHXH là không thể thiếu được đối với bất cứ một
quốc gia nào. ở mọi nước đều coi mục tiêu xã hội là kim chỉ nam cho mọi
hoạt động của BHXH. Mục tiêu chính của mọi hệ thống Bảo hiểm xã hội là
đền bù thu nhập, nâng cao sức khoẻ và chất lượng cuộc sống cho người được
Bảo hiểm. Do có chức năng phục vụ xã hội quan trọng Bảo hiểm xã hội luôn
được nhà nước đảm bảo về hỗ trợ pháp luật, ưu tiên trong các hoạt động kinh
tế, trợ giúp về tài chính, cơ sở vật chất [29],[30],[32],[33]
1.1.2 Vai trò quan trọng của Bảo hiểm y tế
Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm y tế cho thấy từ lâu Bảo
hiểm y tế đã có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là một bộ phận
khồng thể thiếu trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia.
Bảo hiểm y tế được coi là một công cụ chủ yếu nhằm đạt được các mục tiêu
của chính sách y tế. Càng ngày chính sách Bảo hiểm y tế càng tỏ ra không thể
thiếu trong đòi sống con người. Phần lớn các nước trên thế giới đều xem việc
chăm lo, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng và là một
phần của hệ thống các chính sách an sinh xã hội [24], Hàng năm, chính phủ
đều dành một phần ngân sách cho lĩnh vực y tế (từ 3-4% GDP ở các nước
đang phát triển, 8-10% GDP ở các nước phát triển). Tuy nhiên do sự gia tăng
về chi phí y tế và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân nên nguồn ngân
sách này không đủ đáp ứng. Để đảm bảo có được nguồn tài chính đầy đủ và
ổn định dành cho việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân và giảm bớt gánh nặng
cho ngân sách nhà nước cần phải huy động sự đóng góp của các thành viên
trong xã hội, lập nên quỹ khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế. Tham gia Bảo hiểm
y tế là giải pháp tích cực phục vụ cho bản thân mỗi ngưòi khi không may gặp
rủi ro, ốm đau, bệnh tật.[6],[14],[29],[30].
Nâng cao tính
gắn bó cộng
đồng
CSSK cho
hiểm theo mức phí quy định của cơ quan bảo hiểm và được hưởng các quyền
lợi khám chữa bệnh theo quy định của Bảo hiểm y tế . Cơ quan Bảo hiểm thực
hiện thu phí bảo hiểm, xây dựng và xác định phạm vi, quyền lợi của người
tham gia bảo hiểm và đảm bảo việc tổ chức cung cấp dịch vụ y tế cho người
tham gia bảo hiểm. Đơn vị cung cấp dịch vụ y tế là các cơ sở khám chữa bệnh,
bao gồm phòng mạch của các thầy thuốc, các phòng khám chuyên khoa hay
đa khoa tới các bệnh viện theo các tuyến khác nhau. Các cơ sở khám chữa
bệnh thực hiện việc cung cấp các dịch vụ khám, chữa bệnh theo họfp đồng vói
cơ quan bảo hiểm [4],[8],[12] để đảm bảo quyền lợi cho người có thẻ BHYT
khi họ đến khám chữa bệnh. Cơ quan Bảo hiểm có trách nhiệm chi trả cho các
cơ sở y tế phần chi phí khám chữa bệnh của các bệnh nhân Bảo hiểm y tế.
Việc lựa chọn một phương thức chi trả hợp lý giữa cơ quan Bảo hiểm và cơ sở
y tế là một vấn đề hết sức quan trọng vì nó quyết định rất lớn tới quyền lợi
thực tế của đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế khi đi KCB, ảnh hưởng đến tính
hấp dẫn của Bảo hiểm y tế đối với cộng đồng.
Bảng 1.2: So sánh các phương thức chi trả về chất lượng dịch vụ y tế, khả
năng kiểm soát chi phí và khả năng quản lý.
PHƯƠNG
THỨC CHI
TRẢ
KHÁI NIỆM KHẢ NÃNG
KIỂM SOÁT
CHI PHÍ
CHẤT LƯỢNG
DỊCH VỤ Y TẾ
KHẢ NĂNG
QUẢN LÝ
Chi trả theo
phí dịch vụ
Thực chi theo
Trong những năm qua chi phí y tế của tất cả các nước trên thế giới đều
tăng nhanh. Sự gia tăng chi phí y tế do nhiều nguyên nhân, có cả khách quan
và chủ quan như: mô hình bệnh tật của các nước trên thế giới ngày càng phức
tạp, khoa học kỹ thuật phát triển đưa nhiều máy móc chẩn đoán hiện đại vào
sử dụng trong ngành y tế, hiện tượng kháng thuốc ngày càng lửiiều, yêu cầu
phải sử dụng các thuốc thế hệ mới, đắt tiền dẫn đến tình trạng chung của các
nước trên thế giới là chi phí y tế gia tăng không ngừng[24]. Chính vì sự gia
tăng của chi phí y tế nên quỹ Bảo hiểm y tế của nhiều nước trên thế giới, kể cả
các nước đang phát triển, liên tục bị bội chi, Nhà nước phải bù từ ngân sách.
Do đó Chính phủ của nhiều nước đã thực hiện nhiều cuộc cải cách về chế độ
Bảo hiểm y tế và hệ thống chăm sóc sức khoẻ để kiểm soát và khống chế chi
phí y tậ^rong tất cả các phương án được đưa ra và chọn lựa thì cải cách về
phương thức chi trả được quan tâm nhiều nhất bởi phưcmg thức chi trả quyết
định sự an toàn của quỹ Bảo hiểm y tế [20],[24].
1.1.3 Bảo hiểm y tế trong mối liên hệ với Bảo hiểm xã hội:
Bảo hiểm y tế luôn là chính sách được ưu tiên hàng đầu trong quá trình
xây dựng chính sách an sinh xã hội trên thế giới. Bộ luật Bảo hiểm y tế đầu
tiên trên thế giới do thủ tướng Đức Otto von Bismarck ký và ban hành năm
1883 cũng chính là bộ luật Bảo hiểm xã hội đầu tiên trên thế giới, quy định về
Bảo hiểm y tế bắt buộc. Bảo hiểm y tế là những nội dung quan trọng nhất và
chiếm vị trí đầu tiên của chế độ Bảo hiểm xã hội. Việc xác định mối quan hệ
giữa Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm xã hội là rất quan trọng, đảm bảo cho việc
thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.
Trước hết cần hiểu rõ vị trí của Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm y tế là một cơ
quan nằm trong một tổ chức Bảo hiểm xã hội mới hoặc là mộl cơ quan độc
lập, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Y tế [2],[3],[8]. Trong các mục tiêu của
Bảo hiểm y tế thì mục tiêu đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động KCB, đảm
bảo sử dụng nguồn tài chính hiệu quả là quan trọng nhất. Do vậy, cần phải có
mối quan hệ chặt chẽ giữa Bảo hiểm y tế với các cơ sở y tế. Các khoản trợ cấp
của BHXH có thể được xác định tương đối dễ dàng cho từng trường hợp cụ thể
Cho đến nay đã có hơn 100 nước thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế. Phần lớn
các nước đều thực hiện Bảo hiểm y tế như là một phần của chính sách an sinh
xã hội, thông qua hệ thống thuế hoặc các quỹ BHYT. Các quỹ này có thể hoạt
động độc lập, được hỗ trợ bởi ngân sách nhà nước hoặc do một cơ quan chính
phủ quản lý tuỳ theo mô hình của từng nước nhưng đều phải tuân theo khung
chính sách về Bảo hiểm y tế được chính phủ ban hành [5],[20],[24],[32].
Bảng 1.3: Mô hình tổ chức quỹ BHYT một số quốc gm trên thế giói
TÊN NƯỚC TỔ CHỨC BHYT
Cơ QUAN QUẢN LÝ
Đức
Hệ thống các quỹ BHYT riêng biệt
có 1152 quỹ
Bộ Y tế Liên bang
Anh
BHYT thông qua NHS- National
Health service
BộYtế
Mỹ
Quỹ Medicaid BộYtế
Quỹ Medicare BHYTíưnhân
Pháp
Quỹ CNAMTS, MSA, CANAM Bộ các vấn đề xã hội
9 quỹ nhỏ khác Bộ Tài chúih
Nhật Bản
Quỹ BHYT quốc gia, quỹ BHYT
dành cho người lao động , các quỹ
khác
Bộ Y tế và phúc lợi
Hàn Quốc
Quỹ bảo hiểm y tế quốc gia
2
Cộng hòa Pháp 100
3
Hàn Quốc 100
4
Vương Quốc Anh
100
5
Mỹ
85
6
Thái Lan
80
7
Nhật Bản
100
8
Việt Nam
22
Thông thường mức phí Bảo hiểm y tế được tính dựa vào thu nhập của
người tham gia Bảo hiểm y tế và chi phí bình quân chung của cả cộng đồng
chứ không phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của từng cá nhân. Người có thu
nhập cao thì đóng nhiều hơn người có thu nhập thấp. Đây là điểm khác biệt rất
cơ bản giữa Bảo hiểm y tế mang tính xã hội và Bảo hiểm y tế thương mại
[5],[29],[30]. Có sự chia sẻ về phí bảo hiểm giữa chủ sử dụng lao động và
người lao động. Các đối tượng ưu đãi xã hội thưòỉng được nhà nước đóng toàn
bộ phí Bảo hiểm y tế và cấp thẻ miễn phí. Mỗi quốc gia có một phương thức
tính mức phí riêng nhưng tất cả đều phải đảm bảo được nguyên tắc cân đối
quỹ, tính toán theo quy luật số lớn, xác định mức đóng và mức hưởng thụ sao
cho quỹ được cân đối vững chắc. Đảm bảo được sự an toàn và phát triển bền
Chính phủ đóng 1/10
5
Cộng hòa Pháp
19,7
Người lao động đóng 6.9%
Chủ sử dụng lao động đóng 12,8%
6
Thái Lan
4,5
Người lao động đóng 1,5%
Chủ sử dụng lao động đóng 1,5%
Chính phủ đóng 1,5%
7
Trung Quốc
11
Người lao động đóng 1%
Chủ sử dụng lao động đóng
5
%
Chính phủ đóng
5
%
8
Nhật Bản
8,5
Người lao động đóng 4,25%
Chủ sử dụng lao động đóng 4,25%
9
CHLBNga 3,6
Chủ sử dụng lao động nộp 3,6%
Bệnh nhân tự trả 10 -30% chi phí KCB
Nhật Bản
Bệnh nhân tự trả 30% chi phí KCB
Hàn Quốc
Bệnh nhân tự chi trả 55% chi phí ngoại trú tuyến trên, 20% chi phí nội trú
Phi-lip-pin
Bệnh nhân tự thanh toán chi phí nội trú từ ngày 46, tự thanh toán toàn bộ
chi phí ngoại trú
Xin-ga-po
Bệnh nhân tự trả 15-50% chi phí ngoại trú, 20-100% chi phí điều trị nội trú
tùy thuộc loại dịch vụ và tuyến điều trị
Phần lan
Bệnh nhân tự trả 35-40 curon cho mỗi đom thuốc
Việt Nam
Bệnh nhân tự trả 20% chi phí điều trị
Hiện nay phưofng thức được nhiều nước áp dụng nhất là phưcmg thức chi
trả theo phí dịch vụ và áp dụng biện pháp cùng chi trả với đối tượng tham gia
Bảo hiểm, Trong phưoỉng thức này quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán cho bệnh viện
tất cả những dịch vụ và thuốc men được sử dụng cho bệnh nhân với mức giá
và khung giá được ban hành trên cơ sở sự thống nhất giữa quỹ Bảo hiểm y tế
và bệnh viện. Tại một số quốc gia, mặc dù đã áp dụng phương thức này song
kết quả đạt được vẫn không cao, quỹ Bảo hiểm y tế vẫn bị thiếu hụt do không
kiểm soát được việc chỉ định điều trị của bác sĩ và giá dịch vụ, sản phẩm y tế.
Nhiều nước đã dần thay đổi phương thức chi trả sang các phương thức khác
tiên tiến hcfn, kiểm soát được chi phí tốt hơn như phương thức khoán quỹ định
xuất và thanh toán theo nhóm chẩn đoán [5].
Bắt đầu từ năm 1984 Mỹ là quốc gia đầu tiên áp dụng phương thức
thanh toán theo nhóm chẩn đoán, hệ thống này định ra khoảng 470 nhóm chẩn
đoán, ơii phí điều trị mỗi bệnh nhân được quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán cho
bệnh viện theo giá của mỗi nhóm chẩn đoán mà bệnh nhân điều trị. Phương