Bản full năng lực cạnh tranh của các khách sạn 4 sao thuộc tổng công ty du lịch sài gòn tại thành phố hồ chí minh luận văn ths du lịch - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐOÀN THỊ MAI

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC KHÁCH SẠN
4 SAO THUỘC TỔNG CÔNG TY DU LỊCH SÀI GÒN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Hà Nội, 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 5
2. Mục đích nghiên cứu 6
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7
5. Ý nghĩa của đề tài 11
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
7. Kết cấu của đề tài 13
Chương 1. CÁC VẤN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN 14
1.1. Khái quát về kinh doanh khách sạn 14
1.1.1 Khái niệm khách sạn và kinh doanh khách sạn 14
1.1.2. Đặc điểm kinh doanh khách sạn 16
1.1.3. Nội dung kinh doanh khách sạn 19
1.2. Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn 20
1.2.1. Các khái niệm 20
1.2.2. Vai trò của cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn 24
1.2.3. Sự tất yếu của cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn 26
ặc điểm của cạnh tranh trong kinh
doanh khách sạn 27
1.2.5. Nguyên nhân của cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn 31
1.2.6. Một số nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của khách sạn 32
1.2.7. Phƣơng pháp đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh khách
sạn 33
Chương 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC KHÁCH SẠN
4 SAO THUỘC TỔNG CÔNG TY DU LỊCH SÀI GÒN 38
2.1. Giới thiệu về Tổng công ty du lịch Sài Gòn 38
2.2. Khái quát về các khách sạn nghiên cứu 39
2.2.1. Khách sạn Continental (Hoàn Cầu) 39

3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
SGT
Sài Gòn Tourist
NLCT
Năng lực cạnh tranh
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
4 sao của
Saigontourist tại thành phố Hồ Chí Minh 39
4 sao của Saigontourist tại
thành phố Hồ Chí Minh 40
Palace 4 sao của Saigontourist tại
thành phố Hồ Chí Minh 41

tranh 42
58

63

64
66
ản ứng củ ạ với các yếu tố
bên ngoài 71

Invesco đang xây dựng dự án khách sạn Novotel Saigon Center tại góc Hai Bà
Trƣng – Nguyễn Định Chiểu (quận 1) với quy mô 252 phòng theo tiêu chuẩn 4 sao
của tập đoàn Acor quản lý. 6
Nhƣ vậ , thị trƣờng kinh doanh lƣu trú ở phân
khúc cao cấ ễn ra sự cạnh tranh gay gắt bở
.
, các khách sạn 4 sao thuộc Tổng
công ty du lị
. Xuất phát từ
thực tế trên, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề “Năng lực cạnh tranh của các
khách sạn 4 sao thuộc Tổng công ty du lịch Sài Gòn tại thành phố Hồ Chí Minh”
làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
các khách sạn 4 sao thuộc Tổng công ty du lịch Sài Gòn tại TP.HCM.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là năng cạnh tranh của các khách sạn 4
sao thuộc Tổng công ty du lịch Sài Gòn.
- Phạm vi không gian: Hiện tại Tổng công ty du lịch Sài Gòn có 4 khách 4
sao tại thành phố Hồ Chí Minh, đƣợc phân chia cụ thể nhƣ sau:
TT
Khách sạn
Số
phòng
Số
Đường
Phường

Hoàng Việt
02
Tân Bình
Nhà nƣớc

ả lựa chọn 3 khách sạ , Palace và Kim Đô để
thực hiện nghiên cứu vì cả 3 khách sạn đều tọa lạc ở vị trí phƣờng Bến Nghé, quận
1 và duy chỉ có hình thức sở hữu là khác nhau. Hai khách sạn Continental và Kim
Đô thuộc sở hữu của nhà nƣớc, khách sạn Palace thuộc sở hữu cổ phần. 7
Phạm vi thờ ạn từ
- 2013 -2014.
4. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
4.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
4.1.1. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Vấn đề nghiên cứu lý thuyết về nâng cao lợi thế, khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trƣờng, tác giả đã nghiên cứu và tổng kết thành 2 trƣờng phái
nghiên cứu và 2 cách tiếp cận khách nhau. Cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, trƣờng phái nghiên cứu lợi thế cạnh tranh và chiến lƣợc cạnh tranh
của doanh nghiệp. Đại diện xuất sắc nhất là các công trình nghiên cứu của Micheal
Porter (1980, 1985, 1986). Các nghiên cứu này đƣa ra nhiều mô hình phân tích về
lợi thế cạnh tranh và chiến lƣợc cạnh tranh. Tuy nhiên, các nghiên cứu chƣa chỉ ra
đƣợc cách thức mà doanh nghiệp cần phải làm cũng nhƣ các yếu tố cần phải có để
đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh.
Thứ hai, các nhà nghiên cứu Barney (1991), Hamel và Prahalad (1994),
Teece, Pisano và Shuen (1997) tập trung nghiên cứu khả năng của doanh nghiệp
trên cơ sở xem xét nguồn lực nhƣ là yếu tố sống còn trong cạnh tranh. Ngoài ra các
nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác nguồn lực doanh

Paul Ingram và Peter W Robert (2000) trong nghiên cứu về tăng cƣờng khả
năng cạnh tranh ngành khách sạn tại Úc chỉ ra sự hợp tác thiện chí giữa các doanh
nghiệp cạnh tranh lẫn nhau trong ngành kinh doanh khách sạn có thể nâng cao hiệu
quả hoạt động khách sạn thông qua cơ chế thúc đẩy hợp tác lẫn nhau, giảm nhẹ sự
cạnh tranh và có sự trao đổi thông tin tốt hơn. Nghiên cứu này xem xét khía cạnh tối
ƣu hóa doanh thu của khách sạn thông qua sự hợp tác giữa các khách sạn là đối thủ
của nhau. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra cách thức hợp tác giữa các khách
sạn với nhau nhằm tăng cƣờng lợi thế cạnh tranh chung của các khách sạn.
Hai học giả Kevin K.F Wong và Cindy Kwan (2001) đã phân tích chiến lƣợc
cạnh tranh của các khách sạn Hồng Kông và Singapore. Trong nghiên cứu của
mình, họ đã tiến hành phân tích sự giống nhau và khác nhau về chiến lƣợc cạnh
tranh của các khách sạn và đại lý lữ hành tại Hồng Kông và Singapore trong việc
cạnh tranh thu hút khách lẫn nhau. Kết quả nghiên cứu cho rằng lợi thế cạnh tranh 9
về chi phí, khả năng huy động nhân lực và đối tác, xây dựng hệ thống phân phối sản
phẩm dịch vụ nhanh chóng hiệu quả là ba chiến lƣợc hàng đầu mà giám đốc áp
dụng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh khách sạn
Một nghiên cứu khác liên quan đến cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn,
trong một nghiên cứu ứng dụng của Brown, J (2002) về hiệu quả cạnh tranh thị
trƣờng của thƣơng hiệu khách sạn bằng công cụ phân tích DEA (data
envelopmemnt analysis) đánh giá độ thỏa mãn của khách hàng và cung cấp giá trị
cho khách hàng. Nhà nghiên cứu cho rằng hiệu quả cạnh tranh các thƣơng hiệu
khách sạn phụ thuộc phần lớn vào việc giải quyết phàn nàn của khách, việc tuyển
dụng nhân viên lễ tân, diện tích phòng ngủ theo tiêu chuẩn,
Nổi bật trong các nghiên cứu về cạnh tranh trong ngành kinh doanh lƣu trú
trên thế giới gần đây là nghiên cứu về cấu trúc thị trƣờng cạnh tranh của ngành kinh
doanh lƣu trú tại Hoa Kỳ và những ảnh hƣởng của cấu trúc thị trƣờng cạnh tranh lên
hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh lƣu trú của nhà nghiên cứu Mantovic

Ngành kinh doanh khách sạn là ngành mới phát triển mạnh ở nƣớc ta trong
những năm gần đây, do đó, số lƣợng các bài viết, nghiên cứu về năng lực cạnh tranh
trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn đƣợc công bố còn rất hạn chế. Các đề nghiên
cứu đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn chủ yếu đều là công trình
của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hải. Trong đó, Tiến sĩ Hà Thanh Hải nổi bật với đề tài
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Việt Nam trong thời gian tới”. Hay
một số công trình nghiên cứu khác của Tiến sĩ nhƣ: “Các biện pháp quản lý để nâng
cao sức cạnh tranh của khách sạn”, “Tìm hiểu một số yếu tố cấu thành năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp khách sạn”, “Năng lực cạnh tranh của khách sạn Việt
Nam trong hội nhập quốc tế”, “Giải pháp thị trƣờng nâng cao năng lực cạnh tranh
và hiệu quả kinh doanh khách sạn”. Tuy nhiên các đề tài mới dùng lại ở việc cứu
một cách tổng thể các khách sạn ở Việt Nam và đƣa ra giải pháp mang tính nhà
nƣớc đối với ngành. Nhƣng chƣa có các nghiên cứu cho cụ thể một khách sạn nào.
Nhƣ thế cũng rất khó khăn cho các khách sạn muốn áp dụng phƣơng pháp đánh giá
năng lực cạnh tranh vào đánh giá cho khách sạn của mình. 11
5. Ý nghĩa của đề tài
Trƣớc hết, đề tài nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về năng lực
cạnh tranh cũng nhƣ phƣơng pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp kinh doanh khách sạn. Việc xây dựng các luận cứ khoa học dựa trên cơ sở cả
lý luận và thực tiễn sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh lƣu trú có những định
hƣớng hiệu quả hơn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Đề tài cũng đƣa ra xem xét sự phối hợp và hỗ trợ của các cơ quan quản lý
nhà nƣớc về du lịch đối với các doanh nghiệp khách sạn trong việc tạo môi trƣờng
kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực điều hành, chất lƣợng sản phẩm dịch vụ,
giảm giá thành sản phẩm để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ngoài ra, đề tài còn là tài liệu tham khảo cho các đối tƣợng có liên quan đến
hoạt động kinh doanh khách sạn nhƣ các cán bộ quản lý nhà nƣớc, các nhà quản lý

tiến hành điều tra theo nhiều đợt nhằm thu thập ý kiến của số lƣợt khách đến lƣu trú
tại các khách sạn.
Thời gian: Tiến hành phỏng vấn từ tháng 12/2013 đến tháng 2/2014. Có tổng
cộng 300 bảng hỏi đƣợc phát ra, số bảng hỏi thu về là 250, số bảng hỏi đƣợc đƣa
vào xử lý là 200 bảng hỏi.
Bảng hỏi đóng đƣợc thiết kế theo thang điểm từ 1 đến 5, để lấy đánh giá
mang tính định lƣợng của những đối tƣợng đƣợc khảo sát, làm cơ sở đƣa ra điểm số
chính xác về năng lực cạnh tranh của các khách sạn nghiên cứu.
: Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ (IFE) và ma trận đánh giá
các yếu tố bên ngoài (EFE)
Trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên gia, tác giả đã hệ thống đƣợc các yếu tố
bên trong và bên ngoài tác động trực tiếp và đóng vai trò quan trọng đến năng lực
cạnh tranh của khách sạn.
Các bảng hỏi đƣợc phát ra cho các nhà cung ứng dịch vụ du lịch, các công ty
lữ hành gửi khách và khách du lịch.
Trên cơ sở số điểm trung bình mà mỗi yếu tố nhận đƣợc, tác giả xác định
tầm quan trọng của yếu tố đó đến năng lực cạnh tranh của khách sạn và tiến hành
cho điểm từng khách sạn. 13
Kết quả cuối cùng thu đƣợc phản ánh tính chính xác tƣơng đối về năng lực
cạnh tranh của khách sạn.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu
làm 3 chƣơng:
Chương 1. Các vấn đề về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong kinh
doanh khách sạn
Chương 2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các khách sạn 4 sao
thuộc Tổng công ty du lịch Sài Gòn tại thành phố Hồ Chí

. Để có đƣợc cái
nhìn khái quát về ngành này, cần tìm hiểu một số khái niệm về kinh doanh khách sạn.
Khởi đầu, kinh doanh khách sạn chỉ là những buồng thô sơ, cho khách bộ hành thuê
chỗ ngủ qua đêm có trả tiền, nhƣng sau này cùng với sự đòi hỏi cao hơn của khách lƣu
trú các chủ kinh doanh đã tổ chức thêm các hoạt động kinh doanh ăn uống nhằm đáp
ứng nhu cầu của khách. Từ đó, các chuyên gia trong ngành này đã sử dụng những
khái niệm để chia việc kinh doanh khách sạn theo 2 nghĩa: 15
Theo nghĩa rộng, kinh doanh khách sạn là hoạt động cung cấp các dịch vụ
phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho khách. [17, tr.10]
Còn theo nghĩa hẹp, kinh doanh khách sạn chỉ đảm bảo việc phục vụ nhu cầu
ngủ, nghỉ cho khách. [17, tr.10]
Nền kinh tế hiện nay càng phát triển, đời sống vật chất của con ngƣời ngày
càng đƣợc nâng cao, con ngƣời có điều kiện chăm lo cho đời sống tinh thần hơn, số
ngƣời đi du lịch ngày càng tăng nhanh. Cùng với sự phát triển của hoạt động du
lịch, sự cạnh tranh giữa các khách sạn nhằm thu hút ngày càng nhiều khách và nhất
là những khách có khả năng tài chính cao đã làm tăng tính đa dạng trong hoạt động
của ngành. Ngoài hai hoạt động chính đã nêu, điều kiện cho các cuộc họp, cho các
mối quan hệ, cho việc chữa bệnh, vui chơi giải trí… cũng ngày càng tăng nhanh.
Các điều kiện đó đã làm cho nội dung của khái niệm kinh doanh khách sạn có them
hoạt động tổ chức các dịch vụ bổ sung (các dịch vụ giải trí, thể thao, y tế, dịch vụ
chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ giặt ủi…)
Nhƣ vậy, nội dung của hoạt động kinh doanh khách sạn ngày càng đƣợc mở
rộng và phong phú, đa dạng về thể loại. Do sự phát triển đó mà ngày nay ngƣời ta
vẫn thừa nhận cả nghĩa rộng và nghĩ hẹp của khái niệm “kinh doanh khách sạn”.
Tuy nhiên, ngày nay các khái niệm kinh doanh khách sạn theo nghĩa rộng hay nghĩa
hẹp đều bao gồm các hoạt động kinh doanh dịch vụ bổ sung. Các dịch vụ bổ sung
ngày càng nhiều về số lƣợng, đa dạng về hình thức và phù hợp với vị trí, thứ hạng,

lịch có quy mô từ 15 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lƣợng về cơ sở vật chất, trang
thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu
này các phân tích đƣợc giới hạn trong việc phân tích năng lực cạnh tranh của các
khách sạn 4 sao thuộc tổng công ty du lịch Sài Gòn tại thành phố Hồ Chí Minh. Do
đó, kinh doanh của các khách sạn 4 sao thuộc tổng công ty du lịch Sài Gòn tại thành
phố Hồ Chí Minh cũng mang nhƣng đặc điểm chung của hoạt động kinh doanh du
lịch tại Việt Nam.
 Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch và vị trí xây dụng
khách sạn
Đặc điểm chung của kinh doanh khách sạn là phụ thuộc tài nguyên du lịch và
vị trí xây dựng của khách sạn. Không chỉ dừng lại ở phụ thuộc mà tài nguyên du 17
lịch có tác động mạnh mẽ tới việc kinh doanh khách sạn. Ở góc độ nhất định, tài
nguyên du lịch, đặc điểm kiến trúc và cơ sở vật chất có tác động qua lại với nhau.
Một khách sạn đẹp, sang trọng, đầy đủ tiện nghi cũng làm tăng tính hấp dẫn của tài
nguyên du lịch. Thêm vào đó, hệ thống khách sạn tại các điểm du lịch đóng vai trò
cần thiết để du khách có thể khai thác các giá trị của tài nguyên du lịch. Ngoài ra,
đặc điểm của tài nguyên và sức chứa của tài nguyên ảnh hƣởng tới quy mô, loại
hình và thị trƣờng tiêu thụ của khách sạn. Chẳng hạn, Bình Thuận là tỉnh đƣợc thiên
nhiên ban tặng bờ biên dài với các bãi biển đẹp là điều kiện để các nhà đầu tƣ có thể
xây dựng các khu nghỉ dƣỡng dành cho đối tƣợng khách muốn thƣ giãn sau khoảng
gian vất vả để có thể gần gũi với thiên nhiên.
Do đặc điểm kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch cho nên
kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tời tiết tại điểm du lịch
đó. Điều này tạo ra tính mùa vụ cũng nhƣ làm cho lƣợng khách tới khách sạn có thể
co giãn theo yếu tố thời tiết đó. Đặc biệt là các khu nghỉ dƣỡng tại các vùng biển và
vùng núi chịu ảnh hƣởng theo mùa rất rõ rệt.
Địa điểm xây dựng khách sạn là một trong những yếu tố đầu tiên để giúp xếp

lao động trong khách sạn cần phải có chuyên môn, tay nghề cao. Bên cạnh đó lại
phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách nên đòi đỏi lao động trực tiếp tƣơng
đối lớn so với các ngành khác. Điều này làm các nhà quản lý gặp không ít khó khăn
trong bài toán tuyển dụng và bố trí nhân sự vào mùa cao điểm và mùa thấp điểm.
 Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào môi trường kinh tế xã hội
Kinh doanh khách sạn chịu sự chi phối của môi trƣờng kinh tế xã hội. Thật
vậy, tăng trƣởng và phát triển kinh tế tạo ra lƣợng khách du lịch công vụ lớn, bên
cạnh đó làm tăng mức thu nhập cũng nhƣ nhu cầu nghỉ ngơi của con ngƣời, dẫn tới
việc tăng lƣợng cầu và khả năng chi trả của khách cho khách sạn. Trình độ phát
triển của nền kinh tế cũng tác động mạnh tới năng lực quản lý của các nhà quản lý
và chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động kinh doanh khách sạn. Nhƣ
vậy, có thể khẳng định rằng môi trƣờng kinh tế xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho
nhu cầu du lịch phát triển cũng nhƣ duy trì cho hoạt động kinh doanh khách sạn
đƣợc đảm bảo. 19
1.1.3. Nội dung kinh doanh khách sạn
Sản phẩm trong kinh doanh khách sạn bao gồm: Hàng hóa vật chấ ản
phẩm dịch vụ
* Hàng hóa vật chất bao gồm:
- Đồ ăn, thức uống và những hàng hóa bán kèm với nó. Hàng hoá này có
thể tự chế bởi nhân viên khách sạn hay sản phẩm thành phẩm của các ngành sản
xuất vật chất khác.
- Hàng lƣu niệm: Đây là loại hàng rất quan trọng đối với khách du lịch, nó
là chiếc cầu nối giữa điểm du lịch với khách du lịch. Nó là sản phẩm đặc trƣng cho
điểm du lịch đó, đặc trƣng cho phong cảnh, văn hoá, truyền thống… của điểm du
lịch.
- Các hàng hoá khác: hàng tiêu dùng sinh hoạt, hàng có giá trị cao…
Tất cả những hàng hoá là vật chất sau khi thực hiện bán cho khách đều có

Theo K. Marx, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ
bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa
để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tƣ bản chủ
nghĩa và cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh
tranh tƣ bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân và qua đó
hình thành nên hệ thống giá cả thị trƣờng. Quy luật này dựa trên những chênh lệch
giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dƣới giá trị của nó
nhƣng vẫn thu đựơc lợi nhuận.
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ
chế thị trƣờng đƣợc định nghĩa là "Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh
doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là
hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các
nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành
các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất.
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế
học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng, cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa 21
các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trƣờng. Hai tác
giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).
Ba tác giả Mỹ khác là D.Begg, S. Fischer và R. Dornbusch cũng cho cạnh
tranh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết. Một cạnh tranh hoàn hảo, là
ngành trong đó mọi ngƣời đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hƣởng tới
giá cả thị trƣờng, phải có nhiều ngƣời bán và nhiều ngƣời mua.
Cùng quan điểm nhƣ trên, R.S. Pindyck và D.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế
học vĩ mô cho rằng: Một thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều
ngƣời mua và ngƣời bán, để cho không có ngƣời mua hoặc ngƣời bán duy nhất nào
có ảnh hƣởng có ý nghĩa đối với giá cả.

tranh. Đối với quốc gia đó là giành phần lớn sự đầu tư từ nước ngoài vào nước
mình và biến những cái tiềm năng thành thứ đem lại lợi ích cho mình. Với các
doanh nghiệp thì cạnh tranh là việc mà cố gắng giành thị phần lớn hơn so với đối
thủ cạnh tranh trong lĩnh vực đang hoạt động. Để có cạnh tranh phải đảm bảo các
điều kiện sau:
- Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có
cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một
đối tƣợng mà chủ thể cùng hƣớng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với
chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tƣơng tự có cùng mục
đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia
canh tranh đều có thể làm ra và đƣợc ngƣời mua chấp nhận. Còn với các
chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua đƣợc các sản phẩm theo
đúng mong muốn của mình.
- Việc cạnh tranh phải đƣợc diễn ra trong một môi trƣờng cạnh tranh cụ thể,
đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân
thủ. Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp
chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng
buộc của luật pháp và thông kệ kinh doanh ở trên thị trƣờng. Còn giữa
ngƣời mua với ngƣời mua, hoặc giữa những ngƣời mua và ngƣời bán là
các thoả thuận đƣợc thực hiện có lợi hơn cả đối với ngƣời mua. 23
- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc
ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của
mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh). Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong
khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phƣơng,
một nghành) hoặc rộng (một nƣớc, giữa các nƣớc)
1.2.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể nhƣ hành vi của doanh nghiệp,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status