I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH VÀ QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ
DICH VỤ VIỄN THÔNG MÊKÔNG.
1.Quá trình hình thành và phát triển của công ty (1999 – 2006)
Trong nền kinh tế bao cấp, mọi hoạt động của DN đều tuân theo sư chỉ đạo của
nhà nước, theo pháp lệnh của nhà nước, DN sẽ phải kinh doanh nhứng mặt hàng
nhất định, với số lượng nhất định và giá cả cố định. Các mặt hà
ng kinh doanh còn rất ít chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng. Các DN hầu
như không phải bận tâm mình có lãi hay không bởi lãi nhà nước phân phối, lỗ nhà
nước chịu. Như vậy dễ thấy một điểm rằng nền kinh tế này tất yếu kéo theo sự trì
trệ lạc hậu thói quen liêu của các nhà lãnh đạo.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường bước vào hội nhập kinh tế thế giới,
nền kinh tế nước ta đang có những bước phát triển mạnh mẽ. Các DN phát triển
nhanh cả về số lượng và loại hình kinh doanh nhưng các DN tự lo đầu vào, đầu ra
tự tổ chức phương thức kinh doanh nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận nhưng vẫn
tuân thủ sự giám sát của nhà nước. Khi đó các DN không thích ứng với điều kiện
mới sẽ bị đào thải tạo điều kiện cho những DN có chiến lược kinh doanh đúng đắn,
năng động và thích nghi với điều kiện mới sẽ có cơ hội tồn tại và phát triển.
Trong xu thế phát triển của đất nước ngày 19/01/1999 Công ty TNHH thương
mại, dịch vụ và viễn thông MÊKÔNG được thành lập với bộ máy quản lý giàu kinh
nghiệm và đội ngũ nhân viên trẻ có trình độ và năng động, Công ty đã cho mính
một vị thế vững chắc trong nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và đầy cạnh tranh để
sinh tồn.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đô thị hoá cao, đời sống của người dân
càng phát triển thì nhu cầu sử dụng các thiết bị dùng ga phục vụ cho cuộc sống hàng
ngày tăng nhanh và trong điều kiện hiện nay vai trò công nghệ thông tin là vô cùng
quan trọng. Mặc dù hiện nay trên thị trường có rất nhiều Công ty kinh doanh về các
mặt hàng này nhưng họ chưa nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng, chưa đáp
ứng mọi nhu cầu của họ về chất lượng cũng như giá cả phù hợp, nắm bắt được tình
hình này Công ty TNHH thương mại, dịch vụ và viến thông MÊKÔNG đã quyết
định đưa ra thị trường các sản phẩm dùng ga như bếp ga gia đình, bếp ga công
Giai đoạn từ ngày thành lập đến 2003: Đây là giai đoạn xây dựng,
trưởng thành vào bước đầu phát triển.
Những ngày đầu mới thành lập, Công ty còn gặp nhiều khó khăn về nguồn nhân
lực cả về số lượng và chất lượng về công tác tổ chức và về cơ sở vật chất kỹ thuật.
Trong giai đoạn này Công ty chỉ mới kinh doanh một số mặt hàng như bếp ga gia
đình, bình tắm nóng lạnh, máy hút khói phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Mặc dù còn gặp
nhiều khó khăn song giai đoạn này Công ty cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Bảng 1: Qui mô và kết quả kinh doanh của công ty từ 1999 2003
Đơn vị:1000đ
Chỉ tiêu ĐVT
1999 2003
Chênh lệch(%)
1. Số lao động Người 20 50 30 150
2. Tổng doan thu Nghìn đồng 30.121.269 75.352.398 45.231.129 133,56
3. Thu nhập bình quân Nghìn đồng
/ tháng
1041 1542 501 48,13
4. Vốn kinh doanh Nghìn đồng 25.419.000 39.200.000 13781.000 54,22
Vốn cố định Nghìn đồng 1.724.000 3.650.000 1.926.000 117,72
Vốn lưu động Nghìn đồng 24.695.000 35.550.000 10.855.000 43,96
5. Lợi nhuận Đồng 330.000.000 715.000 375.000 110,3
Căn cứ vào bảng kết quả trên ta thấy Công ty có hiệu quả kinh doanh cao các
chỉ tiêu đều tăng với tốc độ cao như:
Số lao động năm 2003 so với năm 1999 đã tăng 30 người tương ứng với tốc độ
tăng 150%. Chứng tỏ trong giai đoạn này Công ty có nhiều chính sách thu hút
nguồn nhân lực bên ngoài đồng thời có kế hoạch gửi nhân viên đi đào tạo nâng cao
chuyên môn nghiệp vụ.
Nhờ có chiến lược kinh doanh đúng đắn cộng với đội ngũ nhân viên có trình độ
tay nghề cao, năng động và nhiệt tình trong công việc đã làm cho doanh thu tăng
gần 50 tỷ đồng với tốc độ tăng hơn 150% đây là nhân tố báo hiệu tình hình kinh
3.Thu nhậpbình
quân
Nghìn đồng/
tháng
1542 1975 433.000 28,1
4.Vốn kinh doanh Nghìn đồng 39.200.000 59.300.000 20.100.000 51,28
Vốn cố định Nghìn đồng 3.650.000 7.550.000 900.000 24,65
Vốn lưu động Nghìn đồng 35.550.000 54.750.000 19.200.000 54
5. Lợi nhuận Nghìn đồng 715.000 1.350.000 635.000 88,81
Tình hình kinh doanh của Công ty ngày càng tốt thể hiện qua các chỉ tiêu trên
bảng đặc biệt thể hiện rõ nhất qua doanh thu của Công ty đã tăng lên rất nhanh chỉ
trong 3 năm doanh thu đã tăng được hơn 110 tỷ với tốc độ tăng hơn 150% thể hiện
số lượng hàng bán ra và số lượng khách hàng tăng lên nhanh. Ngoài ra các chỉ tiêu
khác của Công ty trong thời gian này đều rất tốt như lợi nhuận tăng với tốc độ
nhanh 88,81%, hay thu nhập bình quân đầu người cũng tăng lên 1.975 nđ trong năm
2006 mức thu nhập này là khá cao so với thời điểm hiện nay và đã kích thích được
cán bộ nhân viên tích cực cống hiến cho Công ty nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Bên cạnh đó Công ty luôn chấp hành nghĩa vụ với nhà nước thể hiện số thuế nộp
ngân sách đã tăng lên khá nhanh với tốc độ tăng 11,84%. Do Công ty mở rộng kinh
doanh thêm các thiết bị viễn thông vàđăng ký lại kinh doanh nên số vốn kinh doanh
của công ty tăng lên khá nhanh hơn 20 tỷ đồng với tốc độ tăng là 51,58%.
Biểu đồ phát triển doanh thu của công ty qua các năm
2.Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.
2.1.Phương thức tổ chức bộ máy quản lý
Để có thể tồn tại và phát triển hiện nay Công ty đang có một bộ máy quản lý,
đội ngũ công nhân viên giỏi tay nghề trong các lĩnh vực công nghẹ thông tin, điện
tử, điện lạnh, tự động hoá, marketing, kể toán tài chính được tốt nghiệp từ các
trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Đặc biệt Công ty chú trọng vào việc
nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy nhanh tốc độ bán hàng, đẩy mạnh hoạt động
quảng cáo, khuyếch trương giới thiệu sản phẩm, mở rộng kênh phân phối đến tận
doanh
bán lẻ
Phó giám đốc 1
Văn phòng Công ty
Phòng
nghiên cứu
phát triển
thị trường
Phó giám đốc 2
Phòng
kinh
doanh
bán buôn
Phòng tài
chính, kế
toán
Ban bảo
vệ
Hệ thống chi nhánh
Hệ thống cửa hàng HT xưởng, kho hàng
Chi nhánh
181
Chi nhánh
781/C9
CH
Khâm Thiên
CH
Thái Hà
CH
Giảng Võ
thành các chứng từ kế toán liên quan đến thanh toán tiền lương: Bảng chấm công,
bảng tính hệ số lương, bảng tính bảo hiểm xã hội….
Phòng xuất nhập khẩu:
Vì các sản phẩm của Công ty là nhập khẩu trực tiếp Nhật Bản, Đài loan và một
số nước khác nên phòng này có chức năng tổ chức hoạt động kinh doanh nhập khẩu
theo điều lệ và giấy phép kinh doanh của Công ty. Nhiệm vụ cụ thể của phòng xuất
nhập khẩu là xây dựng kế hoạch nhập khẩu, tổ chức liên doanh liên kết với các tổ
chức xuất nhập khẩu trong nước và các nước khác nhằm thực hiện kế hoạch nhập
khẩu hàng hoá để kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu đó.
Phòng kinh doanh bán lẻ:
Với số lượng nhân viên nhiệt tình và có khả năng giao tiếp tốt, phòng này có
chức năng thực hiện cung cấp đến tận tay người tiêu dùng các sản phẩm của Công
ty, đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng. Các khách hàng chủ yếu của
phòng này là các hộ gia đình, học sinh, sinh viên, tập thể có nhu cầu mua hàng hoá
để phục vụ mục đích sử dụng của mình. Ngoài ra phòng này còn thực hiện chính
sách chở hàng đến nơi người tiêu dùng yêu cầu và tư vấn lắp đặt miễn phí.
Phòng kinh doanh bán buôn:
Thực hiện phân phối hàng hoá cho các Công ty thương mại, các đại lý, cửa
hàng trong địa bàn Hà Nội nói riêng và các đại lý trong các tỉnh trên cả nước nói
chung. Với uy tín chất lượng, giá cả hợp lý, phục vụ chu đáo làm cho số lượng
khách hàng của Công ty tăng lên rất nhanh uy tín của Công ty ngày càng mở rộng.
Công ty có hệ thống vận chuyển miễn phí đến các khách hàng ở các tỉnh đặt mua
với số lượng lớn.
Phòng kế toán tài chính:
Có chức năng nhiệm vụ quan trọng theo dõi ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh liên quan đến các hoạt động của Công ty một các chính xác, kịp thời, theo đúng
chế độ kế toán và chuẩn mực kế toán hiện hành vào sổ sách kế toán. Từ đó giúp
giám đốc quản lý theo dõi và giám sát hoạt động tài chính của Công ty, các hoạt
động kinh doanh và giúp ban giám đốc đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác,
kịp thời nhằm đạt mục đích lợi nhuận tối đa.
Ngoài các chiến lược kinh doanh trên Công ty còn tích cực tham gia các hoạt
động xã hội như tham gia các chương trình ủng hộ người nghèo, đồng bào bị lũ lụt,
giúp đỡ gia đình cán bộ nhân viên gặp khó khăn, các hoạt động xã hội trên địa bàn
phường, quận, thành phố.
Sau 8 năm hoạt động Công ty đã tạo được uy tín và ngày càng khẳng định vị trí
của mình trên thị trường. Đóng góp một phần không nhỏ vào GDP của cả nước, tạo
công việc làm cho một số lượng lớn lao động và tạo ra thị trường cạnh tranh lành
mạnh và phát triển.
4.Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
4.1. Ngành nghề kinh doanh
Công ty TNHH thương mại và dịch vụ viến thông MÊKÔNG là Công ty trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ tài chính
và có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản giao dịch tại các ngân hàng và được sử
dụng con dấu riêng theo qui định của nhà nước,hoạt động kinh doanh của Công ty
theo đúng pháp luật thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước. Các
thành viên góp vốn chịu trách nhiệm kinh tế và dân sự về các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi vốn đã cam kết vào Công ty.
Công ty hoạt động theo pháp luật nhà nước nói chung, luật DN và thương mại
nói riêng với các ngành nghề kinh doanh sau:
Bán buôn, bán lẻ các mặt hàng dùng ga như bếp ga gia đình, bếp ga
công nghiệp, bình nóng lạnh dùng ga, máy hút khói, nồi cơm ga…
Các sản phẩm này mang thương hiệu Sakura được nhập khẩu từ Đài Loan, và
thương hiệu Paloma được nhập khẩu từ Nhật Bản. Công ty được chọn là nhà phân
phối độc quyền của các hãng này ở Việt Nam. Chính vì vậy bộ phận xuất nhập khẩu
của Công ty có nhiệm vụ nhập khẩu trực tiếp và phân phối về các đại lý và khách
hàng trên cả nước và đây là lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty.
Bán buôn, bán lẻ, cài đặt máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử, điện lạnh,
máy tính, đồ gia dụng.
Bán buôn, bán lẻ các thiết bị bưu chính viễn thông như sim, thẻ, máy
điện thoại.
bảo đảm chất lượng, giá cả hợp lý, chi phí lưu kho, bảo quản hàng hoá là thấp nhất
nhưng vẫn bảo đảm chất lượng hàng hoá.
Hàng hoá của Công ty chủ yếu là nhập khẩu trực tiếp, mua từ các đơn vị bán
buôn. Trong đó nhập khẩu từ các nước là chủ yếu, Công ty là đại lý độc quyền của
hãng bếp ga Sakura của Đài Loan và Paloma của Nhật Bản, và là đại lý của các
hãng điện thoại như Vietle, Nokia, Samsung… Hàng hoá mua vào thực hiện theo 2
phương thức:
Phương thức mua hàng trực tiếp:
Công ty sau khi tìm hiểu chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng các chính sách bán
hàng…. nếu thoả mãn các yêu cầu thì Công ty cử người đến tận nơi cung cấp để
mua hàng và vận chuyển hàng hoá về nhập kho sau khi đã làm xong thủ tục thanh
toán với người bán.
Phương thức mua hàng theo gửi hàng:
Công ty có nhu cầu mua hàng, liên lạc với nhà cung cấp bằng điện thoại, fax,
hợp đồng cung cấp những thông tin về nhu cầu hàng hoá của mình cho nhà cung
cấp. Người bán hàng trên cơ sở đó sẽ chuyển hàng tới Công ty bằng phương tiện
vận chuyển của mình hoặc thuê. Công ty sẽ kiểm hàng, nhập kho và thanh toán cho
người bán.
Nhập khẩu hàng hoá chủ yếu là từ Nhật Bản và Đài loan và các nhà cung cấp
quen thuộc đã được thiết lập mối quan hệ từ nhiều năm nay. Khi Công ty có nhu
cầu nhập hàng thì sẽ liên lạc với nhà cung cấp nước ngoài để đặt hàng, làm hơp
đồng kinh tế. Sau đó làm hợp đồng mua ngoại tệ tại ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam để thanh toán cho người bán thông qua việc mở tín dụng L/C, sau đó
ngân hàng này sẽ là người giao dịch chuyển tiền thanh toán cho ngân hàng đại diện
cho bên cung cấp hàng hoá. Sau khi đã thoả thuận với nhau thì bên cung cấp hàng
hoá sẽ chuyển hàng cho hàng hoá. Sau khi đã thoả thuận với nhau thì bên cung cấp
hàng hoá sẽ chuyển hàng cho Công ty qua đường không, đường biển thông qua sân
bay Nội Bài hoặc qua cảng Hải Phòng. Phòng xuất nhập khẩu sẽ có trách nhiệm
nhận hàng về sau khi đã làm xong thủ tục Hải quan.
Giá hàng hoá Công ty nhập khẩu tính theo giá CIF giao tại Việt Nam, và thanh
MÊKÔNG quyết định lựa chọn bộ máy kế toán cũng như chất lượng về hệ thống
thông tin kế toán.
Bộ máy kế toán của Công ty bao gồm các cán bộ nhân viên kế toán có trình độ
chuyên môn cao tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng trong cả nước đảm bảo
thực hiện khối lượng công tác kế toán phần hành với đầy đủ các chức năng thông
tin và kiểm tra hoạt động của đơn vị. Các nhân viên kế toán trong bộ máy kế toán
có mối liên hệ chặt chẽ qua lại xuất phát từ sự phân công lao động phần hành trong
bộ máy. Mỗi nhân viên đều được qui định rõ chức năng, nhiện vụ, quyền hành trong
bộ máy. Mỗi nhân viên đều được qui định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, để từ
đó tạo thành mối liên hệ có tính vị trí, lệ thuộc chế ước lẫn nhau.
Kế toán các phần hành có trách nhiệm quản lý trực tiếp, phản ánh thông tin kế
toán, thực hiện sự kiểm tra qua ghi chép phản ánh tổng hợp đối tượng kế toán phần
hành được đảm nhiệm từ giai đoạn hạch toán ban đầu tới các giai đoạn:ghi sổ kế
toán phần hành, đối chiếu kiểm tra số liệu trên sổ với thực tế tài sản, tiền vốn và
hoạt động lập báo cáo phần hành được giao. Các kế toán phần hành liên hệ với kế
toán tổng hợp để hoàn thành ghi sổ và lập báo cáo định kỳ chung.
Bộ máy kế toán theo kiểu tập trung còn gạo là tổ chức kế toán một cấp tức là kế
toán trưởng trực tiếp điều hành các nhân viên kế toán phần hành thong qua kế toán
tổng hợp.
Bộ máy kế toán của công ty bao gồm 7 người:
Kế toán trưởng: 1 người
Kế toán tổng hợp: 1 người
Kế toán xuất nhập khẩu: 1 người
Kế toán công nợ: 1 người
Kế toán thuế kiêm TSCĐ: 1 người
Kế toán bán hàng kiêm kế toán kho 1 người
Thủ quỹ( kiêm kế toán tiền lương và bảo hiểm xã hội) 1 người
Sơ đồ 2: Bộ máy kế toán của Công ty
Tại các chi nhánh và cửa hàng của Công ty có các bộ phận kế toán thường là kế
toán bán hàng. Bộ phận kế toán này chịu sự chỉ đạo ngành dọc của phòng kế toán
người giúp việc trong lĩnh vực chuyên môn kế toán, tài chinh cho giám đốc điều
hành. Là người chịu sự lãnh đạo trực tiếp về mặt hành chính của giám đốc Công ty.
Nhiệm vụ của kế toán trưởng là: Tổ chức bộ máy kế toán trên cơ sở xác định đúng
khối lượng công tác kế toán nhằm thực hiện hai chức năng cơ bản của kế toán là
thông tin và kiểm tra hoạt động kinh doanh để điều hành và kiểm soát hoạt động
của bộ máy kế toán chịu trách nhiệm về nhiệm vụ chuyên môn kế toán tài chính của
đơn vị, thay mặt nhà nước kiểm tra việc thực hiện chế độ, thể lệ quy định của nhà
nước về lĩnh vực kế toán cũng như lĩnh vực tài chính. Kế toán trưởng có quyền phổ
biến các chủ trương và chỉ đạo thực hiện các chủ trương về chuyên môn ký duyệt
các tài liệu kế toán, có quyền từ chối không ký duyệt vấn đề liên quan đến tài chính
DN không phù hợp với chế độ quy định….
Kế toán tổng hợp: Có chức năng nhiệm vụ cơ bản là tổng hợp số liệu từ các
chứng từ ghi sổ đã được duyệt để ghi vào các sổ tổng hợp, giám sát kiểm tra công
tác hạch toán của các nhân viên kế toán khác, thực hiện công tác kế toán cuối kỳ,
ghi sổ cái tổng hợp, lập báo cáo nội bộ cho bên ngoài theo định kỳ báo cáo.
Kế toán bán hàng kiêm kế toán kho: Có nhiệm vụ theo dõi vf phản ánh tình
hình tiêu thụ hàng hoá. Căn cứ vào các chứng từ như hoá đơn bán hàng, phiếu xuất
kho, phiếu nhập kho, biên bản giao kiểm nhận sản phẩm….Kế toán phản ánh vào
các tài khoản 155,156,632,511…Đồng thời kế toán này cũng theo dõi tình hình
nhập, xuất tồn hàng hoá, tính giá vốn hàng hoá xuất kho trong kỳ và lên báo cáo
hàng hoá tồn kho.
Kế toán xuất nhập khẩu: Theo dõi hàng hoá nhập khẩu, tập hợp chi phí phát
sinh liên quan đến các loại hàng hoá nhập khẩu để tính giá thực tế hàng nhập khẩu,
lập sổ chi tiết, sổ tổng hợp và các báo cáo có liên quan.
Kế toán công nợ: Có nhiệm vụ là hàng ngày phản ánh tình hình công nợ phải
thu, phải trả từ đó cung cấp thông tin cho giám đốc về tình hình công nợ của khách
hàng, các khoản nợ đến hạn phải trả, kế toán phản ánh vào các tài khoản 131, 331.
Đồng thời lập sổ, báo cáo có liên quan.
Kế toán vốn bằng tiền: Có nhiệm vụ là hàng ngày phản ánh tình hình thu, chi,
tồn quỹ tiền mặt, thường xuyên đối chiếu tiền mặt tồn quỹ thực tế với sổ sách kế
chịu trách nhiệm trước ban giám đốc Công ty về các nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên,
các phòng này có mối quan hệ hữu cơ với nhau tạo nên một khối thống nhất, hỗ trợ,
cung cấp các thông tin liên quan để hoàn thành nhiệm vụ của phòng ban nói riêng
và nhiệm vụ của toàn Công ty nói riêng. Từ đó, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của
Công ty ngày càng cao hơn.
Các phòng ban có vai trò rất quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của Công ty.
Trong đó phải kể đến sự đóng góp của phòng kế toán. Với quy mô hoạt động vừa
bộ máy kế toán được tổ chức theo kiểu tập trung đã hỗ trợ cho việc kiểm tra, giám
sát hoạt động của các phòng ban lãnh đạo Công ty. Nhờ vậy, ban lãnh đạo của lãnh
đạo của Công ty có thể tổng quan hoạt động của toàn Công ty, đưa ra các quyết định
khen thưởng, phạt tới các phòng ban, cá nhân một cách chính xác cũng như các
quyết định kinh doanh nhanh chóng kịp thời, phù hợp với nhu cầu của thị trường và
yêu cầu quản trị.
2. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của công ty.
Một số thông tin chung về tổ chức công tác kế toán của công ty
Niên độ kế toán: Từ 01/01 đến 31/12 hàng năm
Hình thức sổ kế toán áp dụng: Chứng từ ghi sổ
Phương pháp tính thuế GTGT: Phương pháp khấu trừ
Phương pháp kế toán HTK: Kê khai thường xuyên
Phương pháp tính giá HTK xuất: Phương pháp giá thực
tế bình quân cả kỳ dự trữ.
Phương pháp tính khấu hao TSCĐ: Phương pháp khấu
hao đường thẳng
Tỷ giá sử dụng trong quy đổi ngoại tệ: Tỷ giá thực tế
2.1. Hệ thống chứng từ kế toán
Trước khi có quyết định 15 ban hành 30/03/2006 Công ty áp dụng hệ thống
chứng từ theo quyết định 1141 - TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài Chính.
Khi Bộ Tài Chính ban hành quyết định mới Công ty đã gửi các cán bộ nhân viên kế
toán đi học bỗi dưỡng nghiệp vụ theo quyết định 15. Tuỳ theo từng phần hành kế
toán cụ thế thì kế toán sẽ sử dụng các chứng từ kế toán cho phù hợp để phản ánh
2. Biên bản thanh lý TSCĐ (02-TSCĐ)
3. Biên bản đánh giá lại TSCĐ (04-TSCĐ)
4. Biên bản kiểm kê TSCĐ (05-TSCĐ)
5. Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ (06-TSCĐ)
B. Các chứng từ ban hành theo các văn bản pháp luật khác
1. Giấy chứng nhận nghỉ ốm hưởng BHXH
2. Danh sách người nghỉ hưởng trợ cấp ốm đau,thai sản
3. Hoá đơn giá trị gia tăng (01GTKT-3LL)
4. Hoá đơn bán hàng thông thường (02GTKT-3LL)
5.Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (03PXK-3LL)
6. Phiếu xuất hàng gửi bán đại lý (04HDL-3LL)
7. Bảng kê thu mua hàng hoá không có hoá đơn (04/GTGT)
Các chứng từ này được luân chuyển theo một trình tự sau: Các chứng từ bên
ngoài được tập hợp từ các phòng ban sau khi được Giám đốc Công ty kiểm tra và
ký duyệt sẽ được chuyển lên cho các kế toán phần hành kiểm tra và xin chữ ký của
Kế toán trưởng rồi từ đó lập các chứng từ đặc trưng cho từng phần hành kế toán của
mình. Và từ đó làm căn cứ để ghi vào chứng từ ghi sổ và các sổ sách tổng hợp liên
quan. Có thể khái quát quy trình luân chuyển chung của Công ty theo sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 3: Quy trình luân chuyển chứng từ chung
Kế toán phần hành
Giám đốc Công ty
Kế toán trưởng
Kế toán phần hành
Kế toán tổng hợp
Nhân viên các phòng
ban
Tập hợp chứng từ
Phân loại chứng từ
Lập chứng từ ghi sổ đặc
trưng cho mỗi phần
toán DN. Sang quý 4 khi các nhân viên kế toán được cử đi bồi dưỡng bổ sung quyết
định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Công ty đã
chuyển sang sử dụng hệ thống tài khoản theo quyết định 15. Công ty lựa chọn các
tài khoản thích hợp để vận dụng vào công tác kế toán. Một số tài khoản chi tiết
được mở theo yêu cầu theo yêu cầu của Công ty và phù hợp với chế độ mới như tài
khoản công nợ phải thu và phải trả được chi tiết cho từng đối tượng. Những tài
khoản được lựa chọn để vận dụng này tạo thành hệ thống tài khoản kế toán thống
nhất phục vụ cho lập các báo cáo kế toán của công ty.
2.3. Hệ thống sổ kế toán
Sổ kế toán là phương tiện để ghi chép có hệ thống thông tin kế toán trên cơ sở
chứng từ gốc, chứng từ kế toán khác sau khi đã được kiểm tra các thông tin trên
chứng từ đó.
Với hình thức chứng từ ghi sổ thì ở công ty có các loại sổ sau: Sổ cái và các loại
sổ, thẻ kế toán chi tiết.
Trong mỗi phần hành kế toán công ty mở các sổ, thẻ kế toán chi tiết phù hợp
với yêu cầu của từng phần hành. Một số loại sổ, thẻ kế toán chi tiết chủ yếu tại công
ty là:
Với phần hành kế toán vốn bằng tiền, tiền vay có Sổ chi tiết tiền mặt, Sổ chi tiết
tiền gửi, Sổ chi tiết tiền vay.
Với phần hành kế toán TSCĐ có Sổ TSCĐ, thẻ TSCĐ.
Với phần hành kế toán lương, các khoản trích theo lương và thanh toán với
người lao động có Sổ chi tiết tài khoản 334, tài khoản 338, tài khoản 141.
Với phần hành kế toán hàng tồn kho có Sổ chi tiết hàng hoá, Thẻ kho.
Với phần hành kế toán phải trả người bán và phải thu khách hàng có Sổ chi
tiết thanh toán với người bán (TK331), Sổ chi tiết thanh toán với người mua
(TK131).
Các loại sổ này được thiết kế, ghi chép, vận dụng một cách linh hoạt cho phù
hợp với yêu cầu, trình độ quản lý của Công ty.
Số lượng sổ và loại sổ kế toán này được liên hệ với nhau một cách chặt chẽ theo
một trình tự hạch toán tạo thành một hệ thống sổ kế toán. Hiện tại Công ty đang áp
chi tiết từ kế toán các phần hành, kế toán tổng hợp lập Trong phần hành kế toán
hàng hoá có:
Báo cáo chi tiết bán hàng theo từng ngày hoặc theo kỳ
Báo cáo nhập mua theo từng nhà cung cấp, thị trường, hợp đồng
Trong phần hành kế toán vốn bằng tiền có:
Báo cáo chi tiết tiền mặt, tiền gửi NH theo ngày hoặc theo kỳ
Trong phần hành kế toán TSCĐ có:
Báo cáo về nguyên giá, khấu hao và giá trị còn lại của TSCĐ theo từng bộ phận
sử dụng
Báo cáo tình hình tăng giảm TSCĐ theo kỳ
Trong phần hành kế toán công nợ (Phải thu khách hàng, phải trả
người bán) có:
Báo cáo theo dõi công nợ theo từng hoá đơn mua, bán hàng
Báo cáo chi tiết công nợ của từng đối tượng
các báo cáo này. Sau khi được sự phê duyệt của Kế toán trưởng và Giám đốc,
các báo cáo này gửi lên cơ quan Thuế là Cục thuế Hà Nội, không gửi lên sở Kế
Hoạch và Đầu Tư Hà Nội. Hệ thống báo cáo tài chính đó cụ thể là:
1. Bảng cân đối kế toán : Mẫu số B01-DN
2. Báo cáo kết quả kinh doanh: Mẫu số B02-DN
3. Báo cáo lưu chuyển tiền tề: Mẫu số B03-DN
4. Bản thuyết minh báo cáo tài chính: Mẫu số B09-DN
Ngoài ra Công ty còn lập báo cáo quản trị để cung cấp thêm thông tin cho quản
lý và điều hành hoạt động nội bộ trong Công ty.
3. Kế toán các phần hành chủ yếu
3.1. Kế toán giá vốn hàng bán
Khái niệm giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán là chi phí mà DN đã bỏ ra được kết tinh trong số hàng hoá đã
tiêu thụ trong kỳ. Vậy, giá vốn hàng bán chính là giá gốc của số hàng hoá đã tiêu
thụ trong kỳ.
Tài khoản sử dụng:
Sổ cái TK 157
Sổ chi tiết TK 632
Sổ cái TK 632
Sổ tổng hợp nhập, xuất, tồn kho hàng hoá
Kế toán giá vốn hàng bán: Có thể được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 5: Kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp KKTX
Bút toán 1: Xuất bán trực tiếp qua kho, xuất khuyến mại, xuất trao đổi, xuất
thanh toán
Bút toán 2: Hàng mua đi đường đã bán
(1)
TK156(1561)
TK156(1561)
TK 156(1562)
TK 111, 112, 131, 331
TK 632
TK 911
TK 157, 156(1561)
TK159
(2)
(3)
(4)
(5)
(9)
TK133
3
TK 159
TK 138(1381)
TK151
TK157
(10)