Báo cáo thực tập kế toán tổng hợp công ty cổ phần chế tạo bơm hải dương - Pdf 30

MỞ ĐẦU
Chúng ta đều biết rằng học phải đi đôi với hành. Trong trường đại học chúng
ta được trang bị rất nhiều kiến thức để sau khi ra trường có thể vận dụng những kiến
thức đã học vào công việc. Nhưng nếu chỉ có lý thuyết không thì khi ra trường các
sinh viên sẽ rất bỡ ngỡ, lúng túng trong công việc, trong việc áp dụng. Vì vậy trước
khi ra trường các sinh viên sẽ được trải qua một kỳ thực tập để làm quen với môi
trường làm việc, tìm hiểu công việc mình sẽ làm sau này. Lý thuyết và thực tế
không phải lúc nào cũng đồng nhất, vì vậy giai đoạn thực tập là giai đoạn để chúng
ta so sánh giữa lý thuyết đã được học và thực tế. Môi trường học tập và môi trường
làm việc cũng khác nhau rất nhiều. Vì vậy khi đến cơ sở thực tập ta sẽ được tiếp xúc
với văn hóa kinh doanh, từ đó có những cách ứng xử với đồng nghiệp khi đi làm.
Nếu chỉ giỏi về chuyên môn thì chưa đủ, chúng ta cần hiểu về bộ máy quản lý, sự
sắp xếp công việc, các thao tác làm việc…Vì vậy giai đoạn thực tập tổng hợp này là
rất cần thiết và bổ ích. Nhất là đối với một kế toán, là người có nhiệm vụ tổng hợp
số liệu, mà số liệu liên quan đến các phòng ban. Vì vậy tìm hiểu chức năng của các
phòng ban là rất quan trọng. Có hiểu được chức năng của các phòng ban thì ta mới
có thể thấy được quy trình luân chuyển chứng từ, mới biết được chứng từ phát sinh
đã hợp lệ chưa để ghi vào sổ.
Công ty cổ phần chế tạo bơm Hải Dương là Công ty có lịch sử hình thành lâu
đời, trải qua nhiều giai đoạn phát triển,nhiều bước thăng trầm. Đã có lúc Công ty
gặp rất nhiều khó khăn, sản phẩm lạc hậu không tiêu thụ được nhưng với sự quyết
tâm của lãnh đạo cùng với sự đồng lòng, nỗ lực của cán bộ công nhân viên Công ty
đã vượt qua được khó khăn. Với nhiều chính sách được áp dụng, nhạy bén phù hợp
với sự phát triển của kinh tế thị trường. Hiện nay Công ty đã có uy tín trên thị
trường, sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú, chất lượng ngày càng được
nâng cao, mẫu mã ngày càng gọn nhẹ hơn, không những đáp ứng được nhu cầu thị
trường trong nước mà cả thị trường nước ngoài. Doanh thu, lợi nhuận ngày càng
tăng, đời sống công nhân viên ngày càng được cải thiện.
Báo cáo tổng hợp là việc ghi chép về việc tìm hiểu tổng quan về Công ty
như: Lịch sử hình thành và phát triển Công ty, bộ máy quản lý, chức năng của các
phòng ban, tìm hiểu về các phần hành kế toán. Là sinh viên mới bắt đầu được tiếp

công nhân viên lúc này chủ yếu là những người từ miền Nam tập kết ra Bắc.
Thời kỳ này, Công ty cùng với miền Bắc bước vào thời kỳ phát triển mới-
thời kỳ lấy xây dựng CNXH làm trọng tâm, với phong trào thi đua “Ba nhất” trong
công nghiệp, cán bộ công nhân viên nhà máy phải vừa sản xuất, vừa xây dựng cải
tạo nhà xưởng cũ, xây dựng mới xưởng cơ khí và nhà làm việc, nhiều sản phẩm của
nhà máy đã về với bà con nông dân các tỉnh phía Bắc, góp phần tăng năng suất
nông nghiệp. Cuối năm 1966, do nhu cầu phát triển công nghiệp của đất nước, phân
xưởng đá mài được tách thành nhà máy đá mài, nay là Công ty cổ phần đá mài Hải
Dương.
Năm 1964, giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhiều cán bộ
công nhân viên nhà máy đã rời sản xuất lên đường ra mặt trận, nhà máy đã hai lần
phải sơ tán về các vùng nông thôn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương. Trong lúc phương
tiện vận chuyển thiếu thốn, chủ yếu dùng sức người, nhưng với ý trí kiên cường
khắc phục mọi khó khăn, cán bộ công nhân viên nhà máy đã vận chuyển hàng trăm
tấn vật tư máy móc, thiết bị về nơi sơ tán, kịp thời sản xuất hoàn thành kế hoạch Bộ
giao hàng năm. Máy bay Mỹ ném bom miền Bắc, rồi những trận lũ lụt lớn đã làm
nhà máy gặp rất nhiều khó khăn, song cán bộ công nhân viên nhà máy vẫn giữ vững
sản xuất, góp phần cùng cả nước bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN và hết lòng chi
viện cho quân dân miền Nam trong sự nghiệp giải phóng đất nước. Nhà máy đã
được Nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng ba và nhiều phần thưởng
cao quý khác.
 Giai đoạn 1975-1990:
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhà máy bước vào thời kỳ phát
triển mới. Số lượng cán bộ công nhân viên đông thêm, có lúc lên đến 1200 người,
sản phẩm cũng đa dạng hơn, gồm nhiều loại máy bơm trong đó chủ yếu là bơm
nông nghiệp, các loại van, quạt và tuốc bin cỡ nhỏ. Năm 1975, nhà máy vinh dự
được Nhà nước giao thực hiện công trình KT75, góp phần cùng công nhân cả nước
xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1976, chiếc bơm 8000m
3
/h đầu tiên

lượng lớn đến 40000m
3
/h, nhiều loại sản phẩm đã đạt chất lượng tương đương hàng
nhập ngoại. Sản phẩm ổn định và phát triển, doanh thu ngày càng tăng. Đến năm
1993, doanh thu đã đạt trên 10 tỷ đồng và năm 2003 đạt 30 tỷ đồng. Công ty đã
từng bước mở rộng thị trường, đã trúng thầu và thực hiện nhiều gói thầu quốc tế, bắt
đầu có sản phẩm xuất khẩu sang một số nước trong khu vực và thế giới. Người lao
động có việc làm ổn định với mức thu nhập ngày càng được cải thiện.
Năm 1997, nhà máy được chuyển thành Công ty chế tạo bơm Hải Dương;
năm 2000 bắt đầu áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO
9001 và hệ thống quản lý ISO 14000. Kỷ niệm 40 năm ngày thành lập, Công ty
được vinh dự đón nhận huân chương độc lập hạng ba.
 Giai đoạn 2002 đến nay:
Đây là giai đoạn phát triển mới của Công ty. Đến giữa năm 2003, Công ty cổ
phần chế tạo bơm Hải Dương được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước theo
quyết định số 3065/QĐ-BCN ngày 14/11/2003 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp về
việc xác định giá trị công ty chế tạo bơm Hải Dương thuộc tổng Công ty máy và
thiết bị công nghiệp để cổ phần hóa và quyết định số 07/2004/QĐ-BCN ngày
12/01/2004 về việc chuyển Công ty chế tạo bơm Hải Dương thành Công ty cổ phần
chế tạo bơm Hải Dương và hoạt động theo giấy phép kinh doanh lần 2 số
0404000144 ngày 31/12/2004 do Sở kế hoạch và Đầu tư Hải Dương cấp. Theo đó
-Vốn điều lệ của Công ty là 17000 tỷ đồng trong đó: Tỷ lệ cổ phần Nhà nước
chiếm 51%, tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong Công ty chiếm 49%.
-Công ty cổ phần chế tạo bơm Hải Dương có trụ sở chính tại số 37-Đường
Hồ Chí Minh-TP Hải Dương-Tỉnh Hải Dương.
-Công ty có một chi nhánh hoạt động tại số 41-Độc lập-Phường Tân Thành-
Quận Tân Phú-TP Hồ Chí Minh, hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh số 41130116896 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp ngày
14/12/2004.
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do phải cạnh tranh gay gắt, phải chịu sự ảnh

nấu kim loại 500, 750, 2000 kg/mẻ, dây chuyền đúc Furan, thiết bị làm khuôn, phun
bi làm sạch, sơn tĩnh điện…Các công nghệ tiên tiến cũng được áp dụng như: Nấu
luyện các mác gang, thép hợp kim, thép không gỉ, hợp kim đồng; đặc biệt Công ty
đã có quan hệ hợp tác liên doanh với những tập đoàn lớn của các nước phát triển
như: Ebara (Nhật Bản), AVK (Đan Mạch) để không ngừng cải tiến nâng cao chất
lượng, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm,duy trì và liên tục cải tiến nâng cao hệ thống
quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000.
Với hàng trăm loại mẫu mã, kiểu dáng liên tục được cải tiến phù hợp với các
điều kiện sản xuất, các địa hình khác nhau, sản phẩm của Công ty đã khẳng định
được vị trí số một trên thị trường Việt Nam hiện nay.
Năm 2003, Công ty đã chế tạo và lắp đặt một loạt các trạm bơm có công suất
lớn đến hàng trăm ngàn mét khối/giờ như Quế II (Hà Nam, 7 máy HTĐ8000- 6),
Bạch Tuyết (Hà Tây, 6 máy HTĐ8400-5,2), Tiêu nước Nam Nghệ An (6 máy
HTĐ9500-3,5)… Thị trường ngày càng được mở rộng, đã thành lập chi nhánh tại
TP Hồ Chí Minh và đại lý ở Cần Thơ, sản phẩm đến với nước bạn Lào và nhiều bạn
bè gần xa.
Hiện nay công trình đúc Furan đã được khởi công. Công trình hoàn thành sẽ
tạo điều kiện để Công ty nâng sản lượng đúc lên 3000 tấn/ năm và sẽ cho những sản
phẩm đúc đạt chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu chế tạo các loại bơm công nghiệp và
hàng xuất khẩu.
1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất và kinh doanh của Công ty cổ phần chế tạo
bơm Hải Dương.
1.2.1. Quyền hạn, chức năng nhiệm vụ của Công ty.
1.2.1.1. Quyền hạn
Công ty cổ phần chế tạo bơm Hải Dương có quyền quản lý, sử dụng vốn do
các cổ đông đóng góp, đất đai, tài nguyên được sử dụng và các nguồn lực khác để
xây dựng, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược sản xuất, kinh doanh của
công ty.
Công ty có quyền chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn đầu tư, hình thức
đầu tư, kể cả liên doanh, góp vốn vào doanh nghiệp, chủ động mở rộng quy mô và

nghề kinh doanh của Công ty theo quyết định của pháp luật với số vốn sau khi cổ
phần hóa là 17 tỷ và khoảng 400 cán bộ công nhân viên.
1.2.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần chế tạo bơm Hải
Dương
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, bộ máy quản lý của Công
ty được tổ chức khoa học, giúp cho nhà lãnh đạo của Công ty nắm bắt thông tin một
cách nhanh chóng để từ đó đưa ra được các quyết định kịp thời, nhanh chóng và
chính xác
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức thành các phòng ban và các phân
xưởng sản xuất, mỗi bộ phận thực hiện chức năng quản lý nhất định. Đây là mô
hình kết hợp (trực tuyến-chức năng). Theo mô hình này, những quyết định quản lý
do các phòng chức năng nghiên cứu, sau đó đề xuất với thủ trưởng, khi được thủ
trưởng thông qua biến thành mệnh lệnh được truyền đạt từ trên xuống dưới theo
tuyến đã quy định. Theo đó:
 Chức năng, nhiệm vụ của ban lãnh đạo Công ty
• Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan
quyết định cao nhất của Công ty cổ phần.
Đại hội đồng cổ đông có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
-Thông qua định hướng phát triển của Công ty:
-Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào,
bán, quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần.
-Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban
kiểm soát.
-Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng
giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Công ty.
-Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ Công ty, trừ trường hợp điều chỉnh vốn
điều lệ do bán thêm cổ phần mới trong phạm vi số lượngcổ phần được quyền chào
bán theo quy định của điều lệ Công ty.
-Thông qua báo cáo tài chính hàng năm.
-Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại.

Công ty.
Quyết định lương, phụ cấp đối với người lao động trong Công ty.
Ngoài ra có các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, điều lệ
Công ty và quyết định của Hội đồng quản trị trong chi trả cho người lao động thúc
đẩy cho việc tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp.
• Phó Tổng Giám đốc kinh doanh: Chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh,
dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm, hợp tác liên doanh, liên kết sản xuất với các đơn vị bạn.
• Phó Tổng Giám đốc kỹ thuật: Phụ trách công tác kỹ thuật, công nghệ,
• Phó Tổng Giám đốc điều hành: Chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác quản lý
thiết bị, thiết kế chế tạo sản phẩm.
 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty
• Văn phòng Công ty: Có nhiệm vụ trợ giúp Ban giám đốc trong việc điều
hành, theo dõi toàn bộ các hoạt động trong công ty.
• Phòng kinh doanh: Là phòng chuyên môn giúp cho Ban giám đốc trong các
lĩnh vực sau: Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trung hạn và dài hạn, tiêu thụ sản
phẩm và trực tiếp tiêu thụ sản phẩm.
• Phòng thiết kế công nghệ: Có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế các mẫu kỹ thuật
sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, quản lý công nghệ sản xuất sản phẩm.
• Phòng quản lý tiền lương: Có nhiệm vụ theo dõi các khoản tiền lương, tiền
thưởng, các khoản phải trả cho cán bộ công nhân viên, xây dựng định mức về tiền
lương.
• Phòng Kế hoạch: Xây dựng định mức vật tư, điều động sản xuất các mặt
hàng, quản lý xuất nhập kho bán thành phẩm.
• Phòng Quản lý chất lượng: Có trách nhiệm quản lý vật tư mua về kho của
Phòng Kế hoạch, đồng thời cùng với các phân xưởng giám sát kiểm tra chất lượng
các sản phẩm dở dang sau khi kết thúc quá trình sản xuất ở phân xưởng này chuyển
sang phân xưởng tiếp theo. Phòng quản lý chất lượng còn có nhiệm vụ kiểm tra chất
lượng thành phẩm sau khi đã trải qua tất cả các khâu công nghệ trước khi nhập kho
thành phẩm.
• Phòng Kỹ thuật cơ điện: Có nhiệm vụ theo dõi chế độ làm việc và bảo dưỡng

-Bộ phận gia công cơ khí: Tiện, phay, bào khoan, sọc, doa,…các chi tiết có
yêu cầu độ chính xác cao như trục, bạc, ổ trượt…
-Bộ phận lắp ráp: Có nhiệm vụ lắp ráp các sản phẩm ở giai đoạn trên thành
thành phẩm hoàn chỉnh.
• Phân xưởng cơ dụng: Có nhiệm vụ sửa chữa máy móc thiết bị, bảo dưỡng
toàn bộ móc thiết bị của Công ty và sản xuất những chi tiết dụng cụ cho phân xưởng
sản xuất chính, theo dõi toàn bộ công suất hoạt động của từng máy móc thết bị
trong Công ty.
-Bộ phận mạ nhiệt luyện: Chế tạo các chi tiết có yêu cầu về độ bền, độ dẻo,
độ bóng cao, ít bị mài mòn khi cọ xát, công việc ở phân xưởng này là tôi, ram, ủ mạ
các chi tiết đã được chế tạo ở phân xưởng đúc, gia công cơ khí.
• Phân xưởng gò-hàn-rèn: Có nhiệm vụ chế tạo các chi tiết bằng sắt, thép, tôn
không cần qua đúc như êcu, rentaro.
Ngoài ra Công ty còn có đội xây dựng sửa chữa, đội vận tải, tổ cưa có nhiệm
vụ hỗ trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần chế tạo bơm
Hải Dương
1.2.4. Đặc điểm về vốn của Công ty
Khi mới thành lập, vốn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là do Bộ
và Nhà nước cấp. Sản xuất sản phẩm theo kế hoạch của Bộ giao xuống. Năm 2003
sau khi cổ phần hóa vốn chủ sở hữu của công ty là 17.143.300.000 đồng trong đó
vốn góp của Nhà nước là 8.743.100.000 đồng tương đương với 51% vốn. Kể từ khi
cổ phần hóa công ty chưa có kế hoạch tăng vốn chủ sở hữu. Vốn của Công ty bao
gồm: Vốn ngân sách, vốn tự bổ sung, vốn vay và các nguồn vốn khác.
Dưới đây là tình hình tăng giảm vốn chủ sở hữu
Sự biến động Vốn chủ sở hữu Vốn khác Tổng cộng
Số dư đầu năm 2005 17.143.300.000 700.000.000 17.843.300.000
Tăng vốn trong năm 2005 1.500.000.000 1.500.000.000
Lãi trong năm 2005 4.059.986.019 4.059.986.019
Giảm khác 4.059.986.019 4.059.986.019

Nợ phải trả lớn cho thấy công ty có uy tín nên nhà cung cấp mới cho nợ nhiều. Phần
lớn nợ phải trả là ngắn hạn, trong khi nợ phải thu dài hạn là tương đối lớn chứng tỏ
công ty bị chiếm dụng vốn nhiều hơn. Hơn nữa nợ phải trả lớn hơn vốn chủ sở hữu
cho thấy công ty chưa chủ động về tài chính. Có những điều này là do đặc thù của
công ty là sản xuất bơm nông nghiệp, công nghiệp có giá trị lớn, thời gian bảo hành
lâu, bán cho các trạm bơm nông nghiệp hoặc các công trình nên vốn thu hồi chậm.
Công ty cần có có chính sách thu hồi nợ và lập dự phòng nợ phải thu cho hợp lý.
Năm 2006 công ty không lập dự phòng khoản phải thu khó đòi dài hạn nhưng lập
dự phong phải thu ngắn hạn là 1.946.045.553 đồng. Công ty đang xây dựng xưởng
đúc gang Furan, nếu công trình này đi vào hoạt động thì có thể vốn kinh doanh của
công ty còn tăng nữa.
1.2.5. Đặc điểm về tình hình lao động của Công ty
Trải qua hơn 46 năm hình thành và phát triển số lượng và chất lượng công
nhân cũng có nhiều thay đổi. Những ngày đầu thành lập phần lớn công nhân là
những chiến sĩ từ miền Nam tập kết ra Bắc nên họ vừa làm vừa học hỏi nhau là
chính. Vì vậy sản phẩm lúc bấy giờ còn đơn giản phục vụ nông nghiệp là chủ yếu.
Tay nghề kỹ thuật của họ không cao vì không được đào tạo qua trường lớp cơ bản.
Số lượng công nhân thời kỳ này khoảng 500 người. Thời kỳ 1961-1975, thời kỳ này
đất nước vẫn còn chiến tranh nên công nhân phải vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Khi
đất nước cần, họ sẵn sàng cầm súng ra mặt trận.
Khi đất nước hòa bình, Công ty \ đã nắm bắt thị trường, mở rộng sản xuất. Đã
có lúc số lượng công nhân lên đến 1200 người. Sản phẩm lúc này đòi hỏi phải có
chất lượng cao, đòi hỏi máy móc kỹ thuật và tay nghề công nhân phải được nâng
cao. Nắm bắt được điều đó, công ty đã chú trọng vào đào tạo đội ngũ công nhân.
Hiện nay doanh nghiệp đã có gần 400 lao động bao gồm lao động trực tiếp và lao
động gián tiếp. Số lượng lao động gián tiếp là 100 người còn lại là lao động trực
tiếp tại phân xưởng. Đội ngũ lao động của Công ty đảm bảo cả về số lượng và chất
lượng. Lao động trực tiếp có tay nghề cao, được đào tạo bài bản, Công ty còn
thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng, mở các cuộc thi nâng cao tay nghề. Phát hiện
những người có tay nghề cao để bổ nhiệm vào các chức vụ phù hợp, xứng đáng.

tiêu chuẩn IS 9001:2000. Công ty cổ phần chế tạo bơm Hải Dương còn nhận thiết
kế chế tạo sản phẩm mới có các thông số kỹ thuật theo yêu cầu của khách hàng.
Chất lượng và mẫu mã sản phẩm luôn được cải tiến và nâng cao phù hợp với yêu
cầu của thị trường.
Hiện nay công ty đang xây dựng xưởng đúc Furan rất lớn và hiện đại. Khi
công trình này hoàn thành đưa vào hoạt động thì năng suất sản lượng đúc lên 3000
tấn/năm và chất lượng sẽ được tăng lên rất nhiều.
 Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty:
Từ nguyên vật liệu (gang, sắt, thép,…) qua giai đoạn tạo khuôn mẫu đúc ra
phôi của sản phẩm, sau đó được gia công cơ khí hoặc được gia công nhiệt luyện,
gò- hàn- rèn tùy theo tính chất của chi tiết cần gia công hay sản phẩm cần tạo ra ở
từng khâu, kết hợp với một số bán thành phẩm và thành phẩm mà công ty không
sản xuất như vòng bi, động cơ,… Tiếp theo, chúng được chuyển sang lắp ráp chạy
thử và hiệu chỉnh. Tại bước công nghệ này sản phẩm được đo kiểm kê các thông số
kỹ thuât xem có đạt hiệu quả hay không, sản phẩm nào đạt yêu cầu thì chuyển sang
bước tiếp theo là matít, sơn trang trí và hoàn thiện sản phẩm, sau đó đem nhập kho
thành phẩm.
Sơ đồ 1.2: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty từ
nguyên vật liệu
Nguyên
vật
liệu
(gang,
sắt, thép,
…)
Đúc
Lắp
ráp,
sau
đó tải

khí lắp ráp để gia công lắp ráp, bước tiếp theo sản phẩm được đưa đi chạy thử để
kiểm tra xem có đạt yêu cầu của khách hàng không. Nếu sản phẩm đạt yêu cầu sẽ
được đưa sang khâu sơn trang trí, giao thẳng cho khách hàng hay nhập kho thành
phẩm giao cho khách sau.
Sau đây là quy trình sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng của khách hàng:
Sơ đồ 1.3: Quy trình sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng của khách hàng
Hợp đồng của
khách hàng
Phòng Kinh
doanh
Kho
Khách hàng
Lắp ráp chạy thử
Mattít hoàn thiện
Mẫu - Đúc
Gia công cơ khí
Phòng Thiết kế
công nghệ
Gò- hàn- rèn -
Nhiệt luyện
Từ đó ta có thể khái quát quy trình sản xuất sản phẩm của công ty như sau:
Sơ đồ 1.4: Quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty
1.2.7. Đặc điểm tiêu thụ thành phẩm của Công ty
Khi mới bắt đầu sản xuất bơm, do máy móc đã quá cũ kỹ, lac hậu nên công ty
đã gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm sản xuất ra
không tiêu thụ được do không đáp ứng được với yêu cầu của thị trường. Lãnh đạo
công ty đã hết sức trăn trở tìm ra các giải pháp khắc phục. Thiếu vốn và kỹ thuật,
công ty đã hợp tác với các công ty nước ngoài để thay đổi dây chuyền công nghệ,
đồng thời gửi người đi đào tạo ở nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm nước bạn. Cải
tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì thế công ty dần khẳng định được

Chỉ tiêu 2004 2005 2006
1. Doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ
37.156.972.680
39.547.596.538 50.874.743.176
2. Các khoản giảm trừ doanh
thu
98.412.600
162.739.048 403.372.582
3. Doanh thu thuần
37.059.560.080
39.384.857.490 50.471.370.594
4.Giá vốn hàng bán
28.366.798.034
29.035.254.830 37.931.698.378
5. Lợi nhuận gộp
8.692.762.046
10.349.602.660 12.539.672.216
6. Doanh thu hoạt động tài
chính
95.587.110
150.342.697 236.464.173
7. Chi phí hoạt động tài chính
43.461.330
68.357.473 14.584
8. Chi phí bán hàng
748.156.520
1.226.481.772 2.162.427.369
9. Chi phí quản lý doanh
nghiệp

Công ty cũng chú trọng vào công tác quản ký và đào tạo, nâng cao tay nghề cho cán
bộ, công nhân viên, cố gắng phát huy khả năng sáng tạo và làm chủ của công nhân
đặc biệt trong điều kiện Công ty vừa mới cổ phần hóa. Năng lực tài chính vững
mạnh cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển vững mạnh của
Công ty, vì vậy Công ty luôn cố gắng tự chủ về tài chính. Dưới đây là một số chính
sách được Công ty áp dụng nhằm đạt kết quả tốt trong sản xuất kinh doanh.
1.2.9.1. Chính sách chất lượng:
Công ty cổ phần chế tạo bơm Hải Dương cam kết cung cấp các sản phẩm và
dịch vụ kỹ thuật về máy bơm, van, quạt công nghiệp, tuốc bin nước đảm bảo số
lượng, chất lượng và tiến độ giao hàng với giá cả hợp lý nhằm đáp ứng thỏa mãn
nhu cầu của khách hàng.
Thực hiện chính sách quan tâm tới khách hàng, trợ giúp việc tư vấn lựa chọn,
vận chuyển, lắp đặt, bảo trì sản phẩm.
Để đạt được cam kết công ty tiến hành:
-Duy trì thực hiện hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn ISO
9001:2000 để mọi nhân viên thấu hiểu chính sách chất lượng, nhận thức rõ trách
nhiệm cá nhân, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm
vụ.
-Liên tục cải tiến hệ thống quản lý chất lượng, đầu tư hiện đại hóa sản xuất,
chú trọng đào tạo để mọi nhân viên có đủ năng lực thực hiện có chất lượng công
việc được giao.
-Cộng tác chặt chẽ với khách hàng, không ngừng nghiên cứu phát triển để cải
tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm.
-Lựa chọn các nhà cung cấp để việc mua vật tư đảm bảo chất lượng và giá cả.
-Dự đoán trước và lập kế hoạch chuẩn bị cơ sở vật chất để sản phẩm đạt
thông số kỹ thuật, đúng tiến độ với chi phí hợp lý.
1.2.9.2. Chính sách môi trường.
Các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ tuân thủ hệ thống quản lý môi trường
theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001:2004 nhằm bảo vệ môi trường bền vững.
Để đạt được cam kết công ty thực hiện:

phương pháp giá thực tế. Xác định giá trị hàng tồn kho theo phương pháp bình quân
gia quyền. Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Cuối kỳ kế toán, khi giá trị thuần
có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì lập dự phòng giảm giá
hàng tồn kho. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa
giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện của chúng. Giá trị
thuần có thể thực hiện được do Hội đồng kiểm kê công ty xác định căn cứ vào đề
nghị của bộ phận kinh doanh, chất lượng hàng hóa và theo giá thị trường tại thời
điểm kiểm kê. Dự phòng “giảm giá hàng tồn kho ” hạch toán vào “giá vốn hàng
bán”.
Phần II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN CHẾ TẠO BƠM HẢI DƯƠNG
2.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cổ phần chế tạo bơm Hải
Dương
 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình kế toán tập trung, hay
còn gọi là mô hình kế toán cấp một. Phòng kế toán của công ty chỉ mở một bộ sổ kế
toán. Phòng kế toán của công ty phải thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu
nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích và tổng hợp của đơn vị.
Giữa phòng kế toán và bộ máy quản lý trong công ty có mối quan hệ khăng
khít với nhau. Phòng kế toán phải liên kết với phòng vật tư của công ty cần dựa trên
những định mức tiêu hao nguyên vật liệu để xác định chi phí nguyên vật liệu. Phòng
kế toán phải phối hợp với phòng tiền lương để xác định chi phí nhân công và ghi sổ,
trả lương cho công nhân viên.
Hiện nay phòng tài chính kế toán gồm 6 nhân viên kế toán, có trình độ
chuyên môn, năng lực công tác. Trong đó có 5 người có trình độ đại học. Nhân viên
phòng tài chính kế toán toàn là nữ. Trong đó mỗi người chịu trách nhiệm về một
phần hành kế toán.
• Kế toán tiền mặt và tiền gửi ngân hàng: Theo dõi tình hình thu chi quỹ tiền
mặt, đồng thời theo dõi việc gửi tiền và rút tiền ở các ngân hàng, các khoản vay dài
hạn, ngắn hạn, và tình hình thanh toán với ngân hàng.

tổng hợp
Kế toán
tiền mặt
và tiền
gửi
ngân
hàng
Kế toán
vật tư,
TSCĐ
Kế toán
thanh
toán
Kế toán
thành
phẩm,
tiêu thụ
và xác
định kết
qủa kinh
doanh
Thủ quỹ

Trích đoạn Quy trình luân chuyển chứng từ và hạch toán trên sổ kế toán Thành tựu đạt được
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status