Nghĩa vụ của người quản lý trong công ty TNHH một thành viên luận văn ths luật - Pdf 30



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHAN THỊ THU NHÀI

NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
MỘT THÀNH VIÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính
xác, tin cậy và trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Thị Thu Nhài
NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 35

2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý
trong công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam hiện nay. 35

2.1.1. Nhóm nghĩa vụ chung của người quản lý công ty TNHH một
thành viên theo quy định của pháp luật hiện hành. 35

2.1.2. Một số nghĩa vụ quy định riêng của những người quản lý công
ty TNHH một thành viên theo pháp luật hiện hành. 44
2.1.3. Những bất cập trong quy định pháp luật về nghĩa vụ người
quản lý trong công ty TNHH một thành viên. 53

2.2. Thực trạng việc thực thi nghĩa vụ của người quản lý trong công ty
TNHH một thành viên ở Việt Nam hiện nay. 59

2.2.1. Một số vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện nghĩa vụ
của người quản lý trong công ty TNHH một thành viên. 59

2.2.2. Những sai phạm thường gặp trong quá trình thực hiện nghĩa
vụ của người quản lý trong công ty TNHH một thành viên. 62

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG
TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN 74


CTCP : Công ty cổ phần
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
GĐ : Giám đốc
TGĐ : Tổng Giám Đốc
LDN : Luật Doanh nghiệp
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

DANH MỤC CÁC HỘP TT Nội dung Trang

không tiến hành cổ phần hóa thì phải chuyển đổi sang loại hình công ty
TNHH một thành viên hoặc hai thành viên. Khi đó Nhà nước là một chủ sở
hữu vô hình của các công ty TNHH một thành viên, còn tài sản của Nhà nước
lại được giao cho một số ít người quản lý trong bối cảnh pháp luật còn nhiều
lỗ hổng để cho những người quản lý đó xâm hại đến tài sản của Nhà nước.

2
Thực tế thời gian qua những tranh chấp trong quản lý nội bộ công ty
TNHH một thành viên, cũng như những sai phạm của người quản lý điều
hành công ty diễn ra cũng không ít như: Tổng giám đốc lạm dụng quyền lực
để tư lợi riêng, những hành vi gian lận, lừa đảo của nhóm người điều hành
công ty đối với chủ sở hữu công ty, những giao dịch liên kết giữa người quản
lý với công ty nhằm trộm cắp tài sản công ty, những người quản lý cao cấp
tham nhũng những khoản tiền khổng lồ… Cho đến nay, thực trạng này vẫn
còn xuất hiện khá nhiều và phổ biến. Những vấn đề nêu trên có thể ảnh hưởng
rất lớn tới sự lành mạnh hoá quản lý nội bộ của công ty, gây thất thoát tài sản
của ngân sách Nhà nước đối với những công ty TNHH một thành viên mà chủ
sở hữu là Nhà nước, đồng thời tác động không tốt đến môi trường kinh doanh.
Trong kinh doanh, gây dựng được niềm tin của Nhà đầu tư là điều rất
khó nhất là trong giai đoạn hiện nay khi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
ngày càng trở nên khốc liệt. Một loạt các công ty lớn trên thế giới đã bị phá
sản hay ở Việt Nam là sự sụp đổ của một số các tập đoàn lớn như Vinashins,
Vinalines…đặt ra nhiều vấn đề về quản lý điều hành trong công ty. Thiếu
vắng một cơ chế quản lý, điều hành công ty tốt quyền lợi của chủ sở hữu và
các Nhà đầu tư không được bảo vệ, những người có tiền sẽ ngại ngần khi đầu
tư vào các công ty, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của
công ty. Sự thành bại của một doanh nghiệp chịu tác động rât lớn của những
người “lèo lái” công ty. Do vậy người nắm quyền quản lý điều hành trong
công ty có vị trí quan trọng trong đối với sự tồn tại và phát triển của công ty,
chỉ khi họ thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình thì mới đem lại lợi ích


4
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn là toàn bộ các quy định của
pháp luật hiện hành về nghĩa vụ người quản lý trong công ty TNHH một
thành viên. Phân tích những tình huống thực tiễn gắn liền với việc thực hiện
nghĩa vụ của những người giữ vai trò điều hành công ty. Thực trạng của việc
thực hiện nghĩa vụ người quản lý, việc kiểm soát các giao dịch tư lợi của
những người đứng đầu công ty, cũng như các chế tài được áp dụng đối với
những hành vi vi phạm nghĩa vụ người quản lý trong công ty TNHH một
thành viên. Những biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao vai trò trách
nhiệm người quản lý trong công ty TNHH một thành viên.
3. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu giá trị đi
sâu tìm hiểu về Công ty TNHH một thành viên như: Luận văn thạc sỹ “ Chế
độ pháp lý về quản lý nội bộ của công ty TNHH theo Luật doanh nghiệp” của
tác giả Lương Thị Thu Hà; hay luận văn viết về việc chuyển đổi DNNN sang
công ty TNHH một thành viên như Luân văn thạc sỹ “ Pháp luật về chuyển
đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên” của tác giả Nguyễn Thị Huế.
Ngoài ra vấn đề quy định về người quản lý công ty cũng đã được đề cập trong
một số giáo trình và sách tham khảo của các trường đại học như: Giáo trình
Luật Thương mại – Phần chung và thương nhân của PGS.TS Ngô Huy
Cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội; Chuyên khảo Luật kinh tế
của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu này
chỉ đi sâu tìm hiểu về quản trị nội bộ trong Công ty TNHH một thành viên
hay vấn đề chuyển đổi từ DNNN sang hoạt động theo loại hình này. Trong đó
cũng có đề cập đến nghĩa vụ của người quản lý, điều hành nhưng chưa có
công trình nghiên cứu chính thức nào đi sâu tìm hiểu một cách cặn kẽ về
nghĩa vụ của người quản lý trong công ty TNHH một thành viên để có cái

5

kê, phương pháp lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp luật so
sánh để làm rõ các vấn đề liên quan đến quy định về nghĩa vụ của người quản
lý trong công ty TNHH một thành viên. Để từ đó đề xuất những kiến nghị góp
phần hoàn thiện quy định của pháp luật phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
6. Những đóng góp của Luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu các quy định pháp lý về
nghĩa vụ của người quản lý trong công ty TNHH một thành viên. Về mặt lý
luận, Luận văn đưa ra cái nhìn tổng quan về người quản lý, địa vị pháp lý của
họ trong công ty. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp quy định pháp luật điều
chỉnh và thực tiễn áp dụng pháp luật quy định về nghĩa vụ của người quản lý
công ty, Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề phù hợp và chưa phù
hợp trong quy định của pháp luật hiện hành về nghĩa vụ người quản lý trong
công ty TNHH một thành viên. Qua đó có những giải pháp để góp phần hoàn
thiện pháp luật doanh nghiệp, giúp cho việc quản trị công ty minh bạch, hiệu
quả, bảo vệ được quyền lợi của chủ sở hữu, nhà đầu tư và những người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
7. Kết cấu Luận văn
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận, Luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về người quản lý và nghĩa vụ của người
quản lý trong Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

7
Chương 2: Thực trạng pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý trong
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa
vụ của người quản lý trong Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên.


hành công ty. Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên cũng
không phải là một ngoại lệ. Đây là một loại hình doanh nghiệp tương đối đặc
biệt, chỉ có duy nhất một chủ sở hữu và chủ sở hữu công ty có thể là cá nhân
hoặc tổ chức. Do vậy mô hình quản trị công ty tùy thuộc vào đối tượng thành
lập công ty là ai và ai sẽ là người chịu trách nhiệm “lèo lái” công ty? Bởi lẽ
công ty là một thực thể pháp lý độc lập, mọi hoạt động của công ty phải thực
hiện thông qua người đại diện. Xác định đúng ai là người quản lý công ty và
quy định hợp lý các nghĩa vụ pháp lý phát sinh cho họ sẽ góp phần cho việc
quản trị công ty có hiệu quả, kiểm soát các giao dịch tư lợi nhằm bảo vệ
quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các bên có liên quan khác như người lao
động trong công ty, chủ nợ, khách hàng của công ty…
Trong Luật doanh nghiệp 2005, người quản lý doanh nghiệp được quy
định tại Khoản 13 Điều 4 như sau: “ Người quản lý là chủ sở hữu, Giám đốc
doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty Hợp danh, Chủ tịch Hội
đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc

9
hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy
định”.
Theo cách tiếp cận của Luật doanh nghiệp 2005 thì người quản lý trong
công ty TNHH một thành viên gồm có: “ Chủ tich Hội đồng thành viên, Chủ
tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do
điều lệ công ty quy định”. Công ty TNHH một thành viên có đặc trưng là Chủ
sở hữu công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Nên việc xác định người quản
lý trong công ty này còn tùy thuộc vào đối tượng thành lập công ty. Trường
hợp Chủ sở hữu công ty là một tổ chức (pháp nhân) thì tổ chức này sẽ ủy
quyền cho một hoặc một số người đại diện cho tổ chức để thực hiện việc quản
lý công ty. Người quản lý sẽ là Chủ tịch Hội đồng thành viên nếu có ít nhất từ
2 người trở lên được cử làm đại diện cho chủ sở hữu, hoặc là Chủ tịch công ty
nếu chỉ có một người được ủy quyền đại diện cho chủ sở hữu công ty. Hội

quy định tại Điều lệ công ty”.
Như vậy người quản lý trong công ty TNHH một thành viên bao gồm:
Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh
công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Với
quy định này có thể thấy khi xác định người quản lý vẫn theo hướng liệt kê
một loạt các chức danh theo luật định và theo hướng mở. Đối với công ty
TNHH một thành viên có quy định thêm thành viên HĐTV cũng được coi là
người quản lý trong công ty thay vì trước đây chỉ có chủ tịch HĐTV là người
11
quản lý công ty. Tuy nhiên, định nghĩa về người quản lý này vẫn chưa thực sự
đầy đủ, rõ ràng.
Luật công ty của các nước theo hệ thống Common Law như
Newzealand, Canada, Singapo, Australia… xác định rất rõ ai là người quản lý
công ty và việc xác định dựa trên nguyên tắc: (i) là thành viên Ban giám đốc;
(ii) Giữ vị trí hoặc thực hiện vai trò trong vị trí của Giám đốc; (iii) Người đưa
ra các chỉ đạo để giám đốc làm theo. Như vậy khái niệm Giám đốc, người
quản lý công ty được hiểu khá rộng và bao gồm cả những người không được
chỉ định chính thức làm người quản lý công ty. Trong hoạt động xét xử, các
Tòa án xác định ai là người quản lý công ty theo chức năng, công việc mà
người đó làm chứ không phải chỉ theo chức danh. Vì thế một người không
được bổ nhiệm chính thức làm Giám đốc vẫn có thể bị Tòa án coi là Giám
đốc và phải chịu trách nhiệm như Giám đốc. Đấy là điểm khác biệt với
phương pháp xác định người quản lý công ty của Luật doanh nghiệp nước
ta[15].
Luật doanh nghiệp năm 2005 chưa định nghĩa một cách đầy đủ về người
quản lý mà chỉ đưa ra như có tính chất liệt kê những người nào được gọi là
người quản lý trong doanh nghiệp nói chung cũng như trong công ty TNHH 1
thành viên nói riêng. Theo quan điểm của chúng tôi, người quản lý trong
Doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH một thành viên nói riêng được

đồng thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được lựa chọn
bầu ra trong số các thành viên của Hội đồng thành viên. Nghĩa là chức danh
13
Chủ tịch Hội đồng thành viên trong công ty TNHH một thành viên do chủ sở
hữu công ty toàn quyền quyết định.
 Chủ tịch công ty.
Như đã nói ở phần trên, chủ sở hữu công ty là tổ chức có toàn quyền
quyết định áp dụng cơ cấu tổ chức theo mô hình Hội đồng thành viên hay mô
hình Chủ tịch công ty. Đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là một tổ chức
(pháp nhân) chỉ bổ nhiệm một người làm đại diện theo ủy quyền thì người đó
làm Chủ tịch công ty. Nghĩa là Chủ tịch công ty do chủ sở hữu công ty bổ
nhiệm. Còn trường hợp chủ sở hữu công ty là một cá nhân thì chủ sở hữu
công ty đồng thời là Chủ tịch công ty. Trong trường hợp này chủ sở hữu sẽ
đóng vai trò là người trực tiếp quản lý công ty, nhưng mọi hoạt động nhân
danh công ty của chủ sở hữu phải tách bạch với những chi tiêu cá nhân của
họ. Nhiệm kỳ hoạt động của chủ sở hữu không quá 05 năm, có thể được bổ
nhiệm lại hoặc thay thế. Chủ tịch công ty có thể kiêm Tổng giám đốc công ty.
Điều lệ công ty quy định Chủ tịch công ty hoặc Tổng giám đốc là người đại
diện theo pháp luật của công ty.
 Giám đốc ( Tổng giám đốc) và những người quản lý khác.
Trong pháp luật của một số nước, Giám đốc (Tổng giám đốc) là một
chức danh do điều lệ công ty quy định, là cơ quan trợ giúp điều hành hoạt
động trong công ty. Ở các nước này, Giám đốc (Tổng giám đốc) có địa vị
pháp lý như người giúp việc quản lý kinh doanh của một thương nhân. Họ
tham gia vào công ty với tư cách là người làm thuê, thông qua một hợp đồng
lao động. Nhìn chung đa số các nước trên thế giới đều nhận định rằng Giám
đốc (Tổng giám đốc) công ty không phải là người chủ, cũng không phải là
14
người làm thuê thông thường, mà họ là người có quyền chỉ huy điều khiển, và
có vị trí cao trong công ty.

lựa chọn người quản lý phù hợp cho doanh nghiệp là rất quan trong, về cơ bản
phải dựa trên những tiêu chuẩn nền tảng như: Năng lực quản lý, phẩm chất
đạo đức, các vấn đề về nhân thân…
Để đánh giá năng lực quản lý của những người đứng đầu doanh nghiệp
thông thường chúng ta dựa trên các yếu tố: Một là phải căn cứ vào trình độ,
kỹ năng chuyên môn cụ thể về nghề nghiệp. Hai là phải có sự am hiểu về
doanh nghiệp, ngành, các hoạt động liên quan cũng như các kiến thức về pháp
lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Nhìn chung họ phải có kỹ năng về
hoạch định, tổ chức và điều hành doanh nghiệp, cũng như đưa ra các dự báo
về khó khăn, trở ngại, biến động của môi trường kinh doanh một cách kịp thời
để đưa ra hướng phát triển cho doanh nghiệp.
Một tiêu chí quan trọng nữa để lựa chọn người quản lý doanh nghiệp đó
là yếu tố đạo đức. Người quản lý phải là người có phẩm chất đạo đức tốt,
trung thực, mẫn cán với hoạt động của công ty nhằm đem lại lợi ích tốt nhất
cho công ty, chủ sở hữu cũng như những người có quyền lợi liên quan đến
doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ lý do những người quản lý công ty là
những người biết rõ nhất mọi hoạt động của công ty. Do vậy rất cần những
nhà quản lý thiện tâm, trung thành với lợi ích của công ty.
16
Bên cạnh đó khi xét đến vấn đề nhân thân yêu cầu người quản lý phải có
đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý kinh
doanh, có nhân thân tốt.
Dựa trên những tiêu chí nền tảng trên Luật doanh nghiệp đã có những
quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với những người quản lý trong công ty
TNHH một thành viên như sau:
* Hội đồng thành viên và Chủ tịch Hội đồng thành viên
Đối với những công ty TNHH một thành viên tổ chức theo mô hình Hội
đồng thành viên, khi chủ sở hữu công ty bổ nhiệm người đại diện theo ủy
quyền phải dựa trên các tiêu chuẩn và điều kiện sau: Đủ năng lực hành vi dân
sự; Không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp; Có

cách khác, chức danh Chủ tịch Hội đồng thành viên trong loại hình công ty
này do chủ sở hữu công ty toàn quyền quyết định. Chủ tịch HĐTV cũng phải
thỏa mãn những tiêu chuẩn của thành viên HĐTV. Đối với Chủ tịch Hội đồng
thành viên của công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ được
chuyển đổi từ tổng công ty do Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập thì
không kiêm Tổng giám đốc; còn đối với những công ty khác thì chủ sở hữu
quyết định Chủ tịch hội đồng kiêm hoặc không kiêm Tổng giám đốc. Trường
hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc thì phải đảm bảo các
điều kiện: được doanh nghiệp đề nghị kiêm nhiệm và có đơn đề nghị của
người dự kiến kiêm nhiệm. Người được đề nghị kiêm nhiệm phải có sức khỏe
và đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện đối với cả hai chức danh này. Doanh
nghiệp phải quy định cụ thể và tách bạch trong thực thi chức năng, nhiệm vụ,
18
quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên và của Tổng
giám đốc. Người được đề nghị kiêm nhiệm phải chịu trách nhiệm đối với
chức năng, nhiệm vụ và vai trò là Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng
Giám đốc công ty.
* Chủ tịch công ty
Đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là một tổ chức (pháp nhân) chỉ
bổ nhiệm một người làm đại diện theo ủy quyền thì người đó làm Chủ tịch
công ty. Nghĩa là Chủ tịch công ty do chủ sở hữu công ty bổ nhiệm. Còn
trường hợp chủ sở hữu công ty là một cá nhân thì chủ sở hữu công ty đồng
thời là Chủ tịch công ty. Trong trường hợp này chủ sở hữu sẽ đóng vai trò là
người trực tiếp quản lý công ty, nhưng mọi hoạt động nhân danh công ty của
chủ sở hữu phải tách bạch với những chi tiêu cá nhân của họ. Chủ tịch công ty
có thể kiêm Tổng giám đốc công ty.
Chủ tịch công ty phải đáp ứng tiêu chuẩn quy định như Chủ tịch Hội
đồng thành viên. Trường hợp Chủ tịch công ty kiêm Tổng giám đốc phải đảm
bảo các điều kiện: được doanh nghiệp đề nghị kiêm nhiệm và có đơn đề nghị
của người dự kiến kiêm nhiệm. Người được đề nghị kiêm nhiệm phải có sức


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status