Phát triển công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực điện tử tại việt nam hiện nay luận văn ths kinh doanh và quản lý - Pdf 30



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ một
công trình nào khác.
LỜI CẢM ƠN Luận văn là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trƣờng, kết hợp với
kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác, với sự cố gắng nỗ lực của bản thân.
Lời đầu tiên tôi xin dành bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới cô giáo-
Tiến sĩ Trần Thị Lan Hƣơng là ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn khoa học, đã tận tình
hƣớng dẫn cho tôi cả chuyên môn và phƣơng pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi
nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn Trung tâm hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ - Cục
Phát triển Doanh Nghiệp- Bộ Kế hoạch & Đầu tƣ; Tổng cục Thống kê đã giúp đỡ

lĩnh vực Điện tử nói riêng, góp phần đấy nhanh quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại
hóa (CNH- HĐH) và phát triển bền vững của đất nƣớc.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển công nghiệp phụ trợ
trong lĩnh vực Điện tử tại Việt Nam hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực
Điện tử tại Việt Nam hiện nay; chỉ ra nguyên nhân của những ƣu điểm, tồn tại, thiếu
sót đồng thời rút ra những kinh nghiệm trong hoạch định phát triển công nghiệp phụ
trợ trong lĩnh vực Điện tử tại Việt Nam trong tƣơng lai.
- Dự báo về công tác quy hoạch và đề xuất phƣơng hƣớng cũng nhƣ các giải
pháp chủ yếu có tính khả thi, nhằm nâng cao chất lƣợng phát triển công nghiệp phụ
trợ trong lĩnh vực Điện tử trong giai đoạn hiện nay.
Những đóng góp mới của luận văn:
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển
CNPT trong lĩnh vực Điện tử tại Việt Nam hiện nay
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc phát triển CNPT trong lĩnh vực Điện tử
giai đoạn từ 2007 đến nay, luận văn đề xuất các giải pháp chủ yếu có tính khả thi,
nhằm nâng cao chất lƣợng phát triển ngành công nghiệp này.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho việc sơ kết,
tổng kết, đánh giá về thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực Điện
tử tại Việt Nam hiện nay MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục bảng biểu ii

nay 49
3.2.2. Những tồn đọng yếu kém trong phát triển CNPT ngành Điện tử tại
Việt Nam hiện nay 57
3.3 Đánh giá thành tựu, hạn chế, và nguyên nhân của thực trạng phát triển
CNPT trong lĩnh vực Điện tử 67
3.3.1. Đánh giá về thành tựu của việc phát triển CNPT trong lĩnh vực Điện
tử hiện nay: 67
3.3.2. Đánh giá về các hạn chế của việc phát triển CNPT trong lĩnh vực Điện
tử tại Việt Nam hiện nay 68
3.3.3. Lý giải cho những thành công trong phát triển CNPT lĩnh vực Điện tử
tại Việt Nam 70
3.3.4. Nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển CNPT lĩnh vực Điện
tử tại Việt Nam 72
CHƢƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN
CNPT TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020, TẦM
NHÌN ĐẾN NĂM 2030 77
4.1. Bối cảnh mới ảnh hƣởng đến quy hoạch và phát triển CNPT 77
4.1.1. Bối cảnh thế giới hiện nay 77
4.1.2. Bối cảnh trong nước 78
4.2 Một số quan điểm phát triển CNPT lĩnh vực Điện tử cơ bản: 83
4.3. Giải pháp hoàn thiện phát triển CNPT trong lĩnh vực Điện tử tại Việt Nam
hiện nay 85
4.3.1. Xây dựng Quy hoạch và chiến lược phát triển cho ngành CNPT trong
lĩnh vực Điện tử 85
4.3.2. Hoàn thiện hệ thống chính sách và định hướng phát triển CNPT trong
lĩnh vực Điện tử 86 4.3.3. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển CNPT trong lĩnh vực
Điện tử với hoạt động của các doanh nghiệp điện tử 88

CNH-HĐH
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
7.
DNVVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
8.
Doanh nghiệp FDI
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
9.
JETRO
Tổ chức xúc tiến thƣơng mại Nhật Bản
10.
KCN
Khu công nghiệp
11.
KCX
Khu chế xuất
12.
GTSX
Giá trị sản xuất
13.
TĐĐQG
Tập đoàn đa quốc gia
14
CSDL
Cơ sở dữ liệu
15
KH-CN
Khoa học – Công nghệ
16

4
Bảng 3.3
Mục tiêu và tỷ lệ thực tế nội địa hóa của một số
ngành trong CNPT
64
iii

DANH MỤC HÌNH

STT
Hình
Nội dung
Trang
1
Hình 3.1
Tổng doanh thu công nghiệp phụ trợ điện tử
Viêt Nam
51
2
Hình 3.2
Số lƣợng doanh nghiệp sản xuất điện điện tử

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng Khoa học-công nghệ
và quá trình toàn cầu hóa kinh tế mở rộng nhƣ hiện nay, các nền kinh tế quốc gia,
khu vực đang có xu hƣớng hợp nhất và trở thành một bộ phận quan trọng trong
mạng lƣới hợp tác phân công lao động toàn cầu. Trình độ phân công lao động quốc
tế và phân chia, chuyên môn hóa quá trình sản xuất đã đạt đến mức cao. Các sản
phẩm công nghiệp hầu hết không còn đƣợc sản xuất toàn vẹn tại một không gian
vào cùng một thời gian mà đƣợc phân chia thành các công đoạn khác nhau ở nhiều
vùng miền châu lục khác nhau. Khái niệm Công nghiệp phụ trợ (CNPT) hay còn
đƣợc gọi là Công nghiệp hỗ trợ đã ra đời với nội dung cơ bản là chuyên môn hóa
sâu sắc các công đoạn trong quá trình sản xuất, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy các
doanh nghiệp sản xuất trong việc phát triển kinh tế cũng nhƣ tham gia chuỗi cung
ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.
CNPT là các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, phụ kiện, phụ tùng linh
kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, chế biến, lắp ráp
các sản phẩm hoàn chỉnh là tƣ liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Một điểm đặc
trƣng là CNPT chủ yếu do các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đảm nhiệm. Qua
20 năm đổi mới Việt Nam đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ chuyển sang kinh tế
thị trƣờng và bƣớc đầu hội nhập vào kinh tế thế giới, tuy vậy tỉ lệ giá trị gia tăng trong
sản xuất công nghiệp lại có dấu hiệu đi xuống. Một trong những lý do đã đƣợc đề cập
và đem ra mổ xẻ là sự yếu kém của CNPT. Sự manh mún trong cách thức thiết lập vận
hành các ngành CNPT cho một số ngành nhƣ Da giày, Dệt may, Điện tử… đã khiến
bộ mặt của CNPT nƣớc ta đang thực sự chƣa khởi sắc mặc dù các công ty điện tử, may
mặc, lắp ráp ô tô… lớn đã thiết lập nhiều nhà máy chế tạo và lắp ráp tại Việt Nam. Đi
kèm cùng sự xây dựng và lắp ráp các nhà máy chế tạo đó là sự kì vọng vào việc cắt
giảm chi phí vận chuyển và rủi ro đồng thời giúp tạo ra cơ hội lớn cho các nhà cung
cấp phụ tùng trong nƣớc phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Tuy nhiên,
điều này đem lại không ít thách thức cho ngành CNPT ở Việt Nam, đặc biệt là khi Việt


này, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nƣớc.

3

Xuất phát từ thực tế đó, em xin chọn đề tài “Phát triển Công nghiệp phụ trợ
trong lĩnh vực Điện tử tại Việt Nam hiện nay” làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành
Quản lý kinh tế tại Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội với mong
muốn đánh giá thực trạng phát triển của CNPT thuộc ngành CNĐT ở Việt Nam hiện
nay và mạnh dạn đề xuất một số giải pháp khắc phục những yếu kém còn tồn đọng.
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: Làm thế nào để ngành CNPT thuộc ngành
CNĐT ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế gắt gao
nhƣ hiện nay?
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
*Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và phân tích thực trạng phát triển của CNPT
thuộc ngành CNĐT ở Việt Nam, mục đích của luận văn là đi sâu, làm rõ những cơ
sở khoa học và đề xuất những giải pháp tích cực góp phần nâng cao chất lƣợng,
nâng cao năng lực cạnh tranh của CNPT thuộc ngành CNĐT trong bối cảnh toàn
cầu hóa nhƣ hiện nay. Thông qua đó sẽ giúp phát triển CNPT, làm gia tăng giá trị
kinh tế và thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp Việt Nam nói chung và CNPT
trong lĩnh vực Điện tử nói riêng, góp phần đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa –
Hiện đại hóa (CNH- HĐH) và phát triển bền vững của đất nƣớc.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của CNPT trong lĩnh vực Điện tử
- Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển CNPT trong lĩnh vực Điện tử hiện
nay; chỉ ra nguyên nhân của những ƣu điểm, tồn tại, thiếu sót, đồng thời, rút ra
những kinh nghiệm trong phát triển CNPT lĩnh vực Điện tử sau này.
- Dự báo về quy hoạch phát triển và đề xuất phƣơng hƣớng cũng nhƣ các giải pháp
chủ yếu có tính khả thi, nhằm nâng cao chất lƣợng CNPT trong lĩnh vực Điện tử hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu


5

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ TRONG LĨNH VỰC
ĐIỆN TỬ

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển CNPT
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nhiều nƣớc trên thế giới, vấn đề phát triển CNPT, đặc biệt là CNPT trong
các ngành công nghiệp chủ chốt nhƣ Điện tử, Cơ khí, Da giầy là chủ đề nghiên cứu
của nhiều môn khoa học.
Khái niệm CNPT lần đầu đƣợc xuất hiện tại Nhật Bản vào năm 1985 và đã có
rất nhiều nghiên cứu ra đời nhằm phân tích các đặc điểm cũng nhƣ khả năng phát
triển của các ngành CNPT. Cụ thể, tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng cho
các doanh nghiệp của Nhật Bản đã đƣợc phân tích, đánh giá trong “Chi nhánh các
nhà lắp ráp Nhật Bản ở Châu Á” (Japanese-Affiliated Manufactures in Asia) do Tổ
chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO) thực hiện năm 2003. Báo cáo chỉ ra
rằng, chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Ma-lay-xi-a
đã sử dụng hệ thống thầu phụ một cách rất hiệu quả với sự giúp sức của các doanh
nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tƣ của Nhật Bản.
Liên quan đến CNPT cho ngành công nghiệp điện tử, Goh Ban Lee (1998),
“Liên kết giữa các TĐĐQG và các ngành CNHT nội địa” (Linkage between the
Multinational Corporations and Local Supporting Industries) đã đánh giá cao vai trò
của chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của chính
phủ Malayxia giữa các tập đoàn điện tử gia dụng của Nhật Bản với các doanh
nghiệp nội địa sản xuất linh kiện cho ngành điện tử.
Halim Mohd Noor, Roger Clarke, Nigel Driffield (2002), “Multinational
cooperation and technological effort by local firm: a case study of the Malaysia
Electronics and Electrical Industry” (Tập đoàn đa quốc gia và nỗ lực công nghệ

Partnership) của Kenichi Ohno (VDF) (2008) tác giả đã nêu rõ đƣờng hƣớng và kế
hoạch thực hiện việc phát triển CNPT nói chung tại Việt Nam. Tác giả nêu ra đề
xuất cho một chính sách hợp lý cũng nhƣ xây dựng một nền CNPT năng động sáng
tạo thông qua việc tăng cƣờng các mối quan hệ trong chính các doanh nghiệp thực

7

hiện chức năng cung cấp các sản phẩm phụ trợ trên thị trƣờng. Điều đó sẽ giúp nâng
cao năng lực cạnh tranh cũng nhƣ chất lƣợng của các sản phẩm mà các doanh
nghiệp này cung cấp.
Trong hội thảo phát triển CNPT của diễn đàn phát triển CNPT APEC tại Hà
Nội tháng 8/2012 (APEC Supporting Industries Workshop) diễn giả Park Kim Sung
trong “Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Hàn Quốc: từ số 0 đến sự thịnh
vượng” (Experiences of Korea’s Industrial Growth: From nothing to Prosperity) đã
phân tích rất rõ cách thức chính phủ và ngƣời dân Hàn Quốc vƣợt qua các khó khăn
trở ngại ban đầu trong công cuộc đƣa ngành công nghiệp của Hàn Quốc phát triển
vƣợt bậc nhƣ hiện nay, trong đó đánh giá rất cao vai trò của việc phát triển các
ngành CNPT trong lĩnh vực Điện tử tại Hàn Quốc theo hƣớng chuyên môn hóa và
mang tính đồng bộ rất cao.
Goodwill consultant JSC và Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) trong
“Khảo sát dựa trên so sánh về bối cảnh, chính sách và kết quả đạt được cho sự
phát triển các ngành CNPT tại châu Á” (Survey on comparison of backgrounds,
policy and measures on outcome for development of supporting industries in Asian)
Nhà xuất bản Giao thông vận tải (2012) đã đi sâu vào phân tích Ma-lay-xi-a và Thái
Lan là hai trong số các nƣớc Asean có rất nhiều chƣơng trình dành cho CNPT từ
năm 1980. Thông qua việc phân tích các vấn đề nhƣ bối cảnh, tổ chức chính sách,
ảnh hƣởng chính sách kết quả đạt đƣợc…các tác giả đã đƣa ra những so sánh với
Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu thực trạng CNPT tại Việt Nam, những thành tựu và
bất cập về khung chính sách. Từ đó các tác giả đƣa ra bảy phát hiện chính từ kết quả
so sánh ví dụ khủng hoảng-chất xúc tác cho chính sách; tác động qua lại giữa lợi ích

định chính sách công nghiệp ở Việt Nam”, Mitarai với chƣơng “Các vấn đề của ngành
CNHT ở các nước Asean và khuyến nghị với Việt Nam” đã phân tích bài học về tận
dụng lợi thế cạnh tranh quốc gia ở các nƣớc ASEAN khi phát triển CNĐT.
Nguyễn Hoàng Ánh (chủ nhiệm) (2008) trong “Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu
và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử Việt Nam” (Đề tài khoa
học cấp bộ, Đại học Ngoại Thƣơng) đã chỉ rõ trong chiến lƣợc phát triển các ngành
công nghiệp, Việt Nam nên lựa chọn, định hƣớng phát triển ngành CNĐT trở thành
ngành mũi nhọn, mang tính đột phá chiến lƣợc vì có nhiều ƣu thế và lợi thế cạnh

9

tranh. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, trong chuỗi giá trị toàn cầu Việt
Nam nên tập trung vào công đoạn sản xuất, là khâu có thể tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ
của các tập đoàn điện tử quốc tế chứ chƣa nên tham gia vào khâu thiết kế, phân phối
của chuỗi giá trị. Trong quá trình đó, ở công đoạn sản xuất, Việt Nam cần đầu tƣ
nhiều hơn vào hệ thống các sản phẩm hỗ trợ phục vụ cho mục đích phát triển CNĐT.
Trƣơng Thị Chí Bình, (2010), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành
điện tử gia dụng ở Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ kinh tế trƣờng Đại học Kinh tế quốc
dân. Tác giả đã phân tích các luận cứ lý thuyết và thực tiễn về cách thức phát triển
CNPT ngành điện tử gia dụng. Làm rõ bản chất, thành phần, các nhân tố ảnh hƣởng
đến CNPT, từ đó khẳng định quan điểm đúng đắn về phát triển CNPT dựa trên
mạng lƣới của “lý thuyết trò chơi”, với vai trò tích cực của các TĐĐQG và các nhà
cung ứng quốc tế. Tác giả đồng thời xác định phạm vi của CNPT ngành điện tử gia
dụng bao gồm 3 nhóm sản phẩm chính: linh kiện điện điện tử, linh kiện kim loại,
linh kiện nhựa và cao su. Tác giả nghiên cứu lý do CNPT ngành điện tử gia dụng ở
Việt Nam chƣa phát triển và khẳng định, CNPT ngành điện tử gia dụng có thể phát
triển khi Việt Nam tham gia đƣợc vào các lớp cung ứng trong mạng lƣới sản xuất
của các TĐĐQG. Trên cơ sở các luận cứ này, luận án kiến nghị một số giải pháp cụ
thể để phát triển CNPT trong ngành điện tử gia dụng: Xây dựng định hƣớng phát
triển CNPT ngành điện tử gia dụng Việt Nam với việc tập trung cung ứng các linh

không cao. Do đó Việt Nam cần tạo điều kiện cho CNPT phát triển lên đỉnh hình
thang thông qua việc xây dựng, ban hành nghị định, luật về CNPT cũng nhƣ chƣơng
trình hành động quốc gia về CNPT.
Viện Nghiên cứu Chiến lƣợc và Chính sách công nghiệp – Bộ Công thƣơng
(2010), “Nghiên cứu chính sách tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ trong điều
kiện hội nhập”, đề tài khoa học cấp Bộ. Đề tài đã đƣa ra những vấn đề chung về
CNPT nhƣ: khái niệm, những nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển CNPT, sự cần thiết
phải phát triển CNPT ở Việt Nam và các lựa chọn ƣu tiên cho phát triển CNPT. Từ
đánh giá chung, nhóm tác giả đã đề xuất các chính sách và giải pháp phát triển
CNPT Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm Tất Thắng, (2013), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ: một số vấn đề đặt
ra”, Tạp chí Cộng sản điện tử, số tháng 10. Bài viết phân tích tƣơng đối sâu về vai

11

trò của CNPT và thực trạng CNPT trên 04 khía cạnh và khẳng định CNPT ở Việt
Nam đã tồn tại và đang phát triển tự phát. Chính sự yếu kém của CNPT cũng góp
phần vào thâm hụt cán cân thƣơng mại của Việt Nam. Từ sự phân tích, tác giả chỉ ra
04 khó khăn, yếu kém và 04 thách thức đối với quá trình phát triển CNPT ở Việt
Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra 06 quan điểm và 06 giải pháp thúc đẩy
CNPT trong thời gian tới đƣợc phát triển đúng hƣớng.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, (2013) “Kế hoạch trợ giúp phát triển
DNNVV trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-
2020”, Kế hoạch số 131/KH – UBND, ngày 13/08/2013. Kế hoạch đƣa ra 04 quan
điểm, 03 định hƣớng và mục tiêu, nhiệm vụ trợ giúp phát triển DNVVN đến năm
2020, đồng thời phát triển các chƣơng trình, dự án trợ giúp DNVVN trong lĩnh vực
CNPT. Kế hoạch còn đƣa ra 06 chƣơng trình, dự án trợ giúp phát triển DNVVN
trong lĩnh vực CNPT trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-2020.
Các công trình đƣợc nêu ra ở trên đã cung cấp những thông tin bổ ích dƣới các
khía cạnh và các mức độ khác nhau, nhất là lý luận về CNPT nói chung và CNPT

kinh tế, tăng tỉ lệ nội địa hóa, tạo công ăn việc làm cho một lƣợng nhân công lớn tại
Việt Nam cũng đƣợc các tác giả đề cập rất rõ nét trong các công trình nghiên cứu
của mình.
Nhìn chung, đã có không ít những công trình nghiên cứu đề cập đến việc phát
triển CNPT tại Việt Nam trong lĩnh vực Điện tử, góp phần làm rõ hơn quan niệm về
các chính sách cần làm cho ngành công nghiệp tiềm năng này và kinh nghiệm giải
quyết các tồn đọng đang khiến cho CNPT vẫn còn trì trệ. Những kết quả nghiên cứu
đó có những giá trị nhất định làm cơ sở cho việc đổi mới và hoàn thiện công tác quy
hoạch phát triển CNPT. Tuy nhiên, các công trình khoa học nêu trên chƣa nghiên
cứu một cách có hệ thống về công tác phát triển CNPT trong lĩnh vực điện tử tại
Việt Nam hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Cụ thể là các công
trình này chƣa luận giải rõ và đề cập đến:
- Nội hàm của CNPT dƣới góc độ quản lý kinh tế
- Vai trò của CNPT đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành công
nghiệp Việt Nam nói riêng
- Giải pháp cụ thể nhằm phát triển CNPT trong lĩnh vực điện tử
Luận văn này mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của việc
phát triển ngành công nghiệp trọng yếu này. Luận văn xin kế thừa và tiếp thu có
chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan để phục vụ cho mục
đích nghiên cứu của mình.

13

1.2. Cơ sở lý luận về phát triển CNPT trong lĩnh vực điện tử
1.2.1. Khái niệm CNPT và CNPT ngành điện tử
* CNPT
Cụm từ Công nghiệp phụ trợ đƣợc bắt nguồn từ Nhật Bản khi lần đầu tiên xuất
hiện trong “Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985” của Bộ Công Thƣơng Nhật
Bản. Bản thân cụm từ CNPT đƣợc dịch trực tiếp từ thuật ngữ gốc trong tiếng Nhật
là “Suso-no San Gyuo” trong đó Suso-no là “Chân núi” và San Gyuo là “Công


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status