Tổ chức không gian ven biển trong
Chiến lược biển Việt Nam
TS. Hoàng Ngọc Phong
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nghị quyết số 09/NQ-TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã đề ra
nhiệm vụ của phát triển kinh tế biển gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng vùng biển
"Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ quốc phòng, an ninh để
vừa bảo vệ chủ quyền, vừa phát triển kinh tế; xây dựng ở vùng duyên hải các trung
tâm kinh tế, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất lớn gắn với các hoạt động kinh
tế biển để làm động lực quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước; ". Biển
Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế. Trong tổng
số 10 tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới hiện nay có tới 5 tuyến đi
qua Biển Đông hoặc liên quan đến Biển Đông.
Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt Nam) có vị trí địa kinh tế và địa chính
trị quan trọng như vậy nên từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong Chiến lược phát
triển kinh tê không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông, mà còn của một số cường
quốc hàng hải khác trên thế giới. Đó cũng là những lý do quan trọng của những tranh
chấp vẫn còn tồn tại ở vùng biển quan trọng này.
Việt Nam, với bờ biển dài hơn 3.200 km bao lấy lãnh thổ ở cả 3 hướng: Đông,
Nam và Tây Nam, trung bình khoảng 100 km
2
đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần
tỷ lệ này của thế giới), không một nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam lại cách xa biển hơn
500 km; vì vậy biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến mọi miền của đất nước.
Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển
và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên á) sẽ cho
phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hoá xuất nhập khẩu
tới mọi miền của Tổ quốc, đồng thời thu hút cả vùng Tây - Nam Trung Quốc, Lào,
lực của vùng như cảng biển, vận tải biển, du lịch, dịch vụ hàng không.
1.1. Định hướng phát triển các ngành chủ yếu
- Phát triển công nghiệp đóng tàu thủy ở Quảng Ninh- Hải Phòng;
- Phát triển cảng biển Cái Lân, Hải Phòng và các cảng khác của Quảng Ninh-
Hải Phòng với tổng CS đến 2020 đạt 120 triệu tấn/năm.
- Khai thác tổng hợp tài nguyên du lịch biển đảo Hạ Long-Cát Bà - Đồ Sơn.
Xây dựng một quần thể các công trình thể thao-giải trí với các phương tiện du lịch
hiện đại.
- Khai thác dầu khí và hình thành khu dịch vụ dầu khí trong vùng.
1.2. Định hướng bố trí không gian. Tổ chức lại không gian kinh tế của tiểu
vùng này phải đặt trong mối quan hệ tổng thể gắn kết chặt chẽ với các vùng nội địa.
Định hướng tổ chức không gian của vùng là: xây dựng khu vực Hải Phòng-Hạ Long
thành một trung tâm kinh tế biển mạnh, làm đầu tầu lôi kéo cả vùng phát triển. Với
việc xây dựng và hình thành khu Vân Đồn và Đình Vũ Cát Hải trở thành khu kinh tế
tổng hợp, là trung tâm hướng ra biển của phía Bắc theo 2 hành lang kinh tế Côn Minh-
Lào Cai-Hà Nội –Hải Phòng–Quảng Ninh và Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-HảI Phòng
và vành đai kinh tế Vịnh Bắc bộ.
Phát triển các ngành công nghiệp gắn với cảng và vận tải biển như cơ khí đóng
mới và sửa chữa tàu biển, sản xuất container và các thiết bị cảng, công nghiệp gia công
chế biến xuất khẩu… Tận dụng ưu thế về cửa mở và giao thông xuất nhập của cảng để
hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất ven biển để mở cửa mạnh mẽ và thu hút
đầu tư của nước ngoài. Đặc biệt phát triển tổng hợp du lịch và dịch vụ biển, sớm hình
thành một trung tâm du lịch-thể thao- giải trí ven biển hiện đại tầm cỡ quốc tế có thể
cạnh tranh với các nước trong khu vực. Phát triển khai thác nuôi trồng, chế biến hải
sản và dịch vụ nghề cá.
Như vậy, từ trọng tâm của phát triển cảng biển, các ngành khác trong khu vực
sẽ được phát triển mạnh, đặc biệt là công nghiệp, du lịch và dịch vụ biển, tạo cho khu
vực có bước phát triển “nhảy vọt” với tốc độ tăng trưởng bình quân 13-15%/năm, từng
bước trở thành một trung tâm kinh tế biển hiện đại, một “cực phát triển” lớn ở phía
Bắc, có sức thu hút mạnh các vùng nội địa phía trong, đồng thời làm bàn đạp vững
bằng sông Hồng) với các ngành ưu tiên là: Công nghiệp chế biến, chế tạo, du lịch và
dịch vụ.
+ Các tuyến hành lang kinh tế phát triển trong vùng này là:
- Hành lang kinh tế dọc đường 18: Đường 18 là một trong các tuyến giao thông
huyết mạch nối liền Thủ đô Hà Nội và các trung tâm kinh tế của vùng Bắc Bộ ra cửa
biển lớn Cái Lân. Các ngành kinh tế được ưu tiên phát triển trên tuyến này là công
nghiệp năng lượng, cơ khí sửa chữa và chế tạo lớn, chế biến khoáng sản, sản xuất vật
liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản và dịch vụ.
- Hành lang kinh tế dọc đường 5: Tại đây sẽ tập trung phát triển các ngành công
nghiệp chủ lực và mũi nhọn có công nghệ tiên tiến như: Kỹ thuật điện, điện tử, lắp ráp
ô tô, sản xuất máy móc thiết bị, công nghiệp luyện kim, đóng tàu, dệt da may, công
nghiệp thực phẩm và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp.
c) Tổ chức mạng lưới đô thị ven biển. Trong tương lai, sự hình thành và phát
triển cảng biển lớn, các khu công nghiệp tập trung, các trung tâm du lịch và dịch vụ.
Do vậy cần kiến thiết lại hệ thống đô thị ven biển một cách hợp lý, hình thành các
“cực thu hút” và các “tuyến lực” dọc ven biển để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội
trong vùng.
Phát triển Hạ Long thành một cực phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ và là trung tâm du lịch, thể thao, giải trí ven biển lớn của cả nước và quốc tế. Tập
trung hoàn thiện và phát triển các cơ sở hạ tầng, quy hoạch sắp xếp lại không gian, đổi
mới cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp sạch, phù hợp với chức năng của
thành phố công nghiệp cảng, du lịch và dịch vụ tổng hợp.
Mở rộng không gian thành phố về phía Đồ Sơn. Xây dựng một số khu phố mới
ở Bắc Sông Cấm. Đầu tư nâng cấp đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng trong khu vực nội
thành, cải tạo cảnh quan môi trường sạch đẹp, văn minh và hiện đại phù hợp với chức
năng là trung tâm kinh tế, văn hoá của một thành phố mở cửa.
Cùng với việc phát triển các thành phố trung tâm nêu trên, chú trọng quy hoạch
sắp xếp lại và phát triển các đô thị trung tâm hành chính cấp tỉnh như: Thái Bình, Nam
Định, Phủ Lý, Ninh Bình, Thanh Hoá, Hà Tĩnh. Phát triển các đô thị vừa và nhỏ dọc
ven biển và theo các tuyến lực, hình thành một mạng lưới các đô thị vệ tinh để hỗ trợ
khơi Biển Đông, kết hợp với bảo vệ chủ quyền và an ninh chính trị trên biển, nhất là
các vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.
Phát triển tổng hợp du lịch và dịch vụ biển. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển du
lịch biển với du lịch núi và du lịch di tích, danh thắng cùng với việc xây dựng tại khu
vực Huế - Đà Nẵng một quần thể du lịch lớn và hiện đại, đủ sức cạnh tranh với thị
trường du lịch trong nước và quốc tế. Đà Nẵng cũng sẽ là một trung tâm lớn về dịch vụ
thương mại, tài chính ngân hàng của cả nước.
b) Tổ chức các tuyến và dải hành lang phát triển kinh tế.
- Tuyến hành lang kinh tế ven biển. Tuyến hành lang kinh tế ven biển, mà
khung của nó là hành lang Quốc lộ 1, đường sắt xuyên Việt và các cực đô thị, trên đó
gắn với cảng biển, sân bay…là đầu mối giao thông từ các cảng biển tỏa đến các vùng
trong nội địa, nối với các nước lân cận thông qua các tuyến đường xuyên á. Đây là khu
vực có nhiều tiềm năng phát triển, là động lực chính của tiểu vùng.
Khâu đột phá chính của hành lang này là dải Đà Nẵng - Dung Quất, xương sống
của vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung với sự hình thành khu công nghiệp tổng hợp
Dung Quất, công nghiệp cảng và dịch vụ cảng kết hợp với phát triển du lịch, khai thác
và chế biến hải sản. Phát triển mạnh du lịch, công nghiệp nhẹ, khai thác hải sản và
dịch vụ vận tải ở các dải ven biển Huế-Đông Hà, Quy Nhơn-Vân Phong-Nha Trang-
Cam Ranh.
c) Hướng tổ chức không gian công nghiệp trong tiểu vùng là:
+ Hoàn chỉnh và đồng bộ hoá các khu công nghiệp hiện có. Dọc ven biển từ
Đèo Ngang đến Mũi Dinh đã hình thành các khu công nghiệp, phân bố tại các tỉnh từ
Quảng Bình đến Khánh Hoà. Các khu công nghiệp chủ yếu là chế biến lương thực-
thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng. Đối với các khu công nghiệp này hướng chủ
yếu là tổ chức sắp xếp lại sản xuất phù hợp với tính chất của các đô thị công nghiệp-
dịch vụ, đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ hiện đại. Phát triển mạnh công nghiệp chế
biến, lâm thuỷ sản đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu và phát triển lan tỏa kinh tế
khu vực nông thôn vùng sâu và phía Tây.
d) Tổ chức không gian các đô thị ven biển. Do đặc trưng của tiểu vùng là hẹp về
chiều ngang và kéo dài, địa hình bị chia cắt mạnh, nên sự gắn kết giữa các đô thị trong
trung chuyển quốc tế sẽ đem về cho Việt Nam nguồn thu lớn về kinh tế cũng như vị
thế của một quốc gia mạnh về biển.
Nếu nhìn từ góc độ địa lý hàng hải không có cảng biển nào ở Việt Nam tốt và
thuận lợi hơn cảng Vân Phong. Với luồng biển rộng 400m, độ sâu từ 25 - 41m, nằm
trong vịnh kín gió, bờ vịnh chiều dài 31 km có thể xây bến cảng, kho bãi chứa hàng,
bãi container. Ngoài ra, mặt nước vịnh kín là nơi lý tưởng để cho tàu chở nhiên liệu có
trọng tải đến 250.000 DWT chuyển tải an toàn, theo ước tính nếu mỗi năm có 20 triệu
tấn được thông qua thì ngân sách nhà nước sẽ thu trên 10.000 tỷ đồng.
Chọn Vân Phong rất phù hợp với “thiên thời và địa lợi”. Còn vấn đề “nhân
hoà”, đó là cho áp dụng cơ chế tương đồng của một cảng trung chuyển quốc tế, biến
khu kinh tế Vân Phong thành “khu kinh tế mở”và cảng Vân Phong thành“cảng tự do”,
đủ điều kiện phát triển và cạnh tranh với các cảng trong khu vực trong thời kỳ mở cửa,
hội nhập thế giới.
3. Vùng biển và ven biển Đông Nam bộ (Bà Rịa Vũng Tàu - T.P.Hồ Chí
Minh)
Vùng biển và ven biển Nam Bộ bao gồm 9 huyện, thị của 2 tỉnh có biển khu
vực Đông Nam Bộ (từ Bà Rịa-Vũng Tàu đến hết bờ biển của Thành phố Hồ Chí
Minh), diện tích 2.279,5 km
2
, dân số năm 2011 là hơn 1,9 triệu người. Vùng biển có
lợi thế đặc biệt là vùng khai thác dầu khí và nơi nghỉ mát nổi tiếng (Vũng Tàu). Thế
mạnh này hiện đang được khai thác và vẫn còn phát triển trong thời gian tới.
3.1. Phương hướng cơ bản tổ chức không gian tiểu vùng là:
a) Tổ chức sắp xếp lại hợp lý thành phố Vũng Tàu để phát triển thành trung
tâm kinh tế biển lớn của vùng và của cả nước.
Vũng Tàu nằm ở trung tâm tiểu vùng và là cửa ngõ ra biển lớn nhất của vùng
Nam bộ nhằm đẩy mạnh giao lưu kinh tế với nước ngoài, đồng thời là một cực phát
triển quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là khu vực tập trung lớn của
nhiều lợi thế và nguồn lực phát triển cả ở biển và ven biển. Để duy trì tốc độ phát triển
Thuận, Lê Minh Xuân, Cát Lái,sẽ tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp chế biến,
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, phát triển và thu hút nhiều lao động của vùng
cũng như các vùng lân cận.
4. Vùng biển và ven biển Tây Nam bộ (từ Tiền Giang - Cà Mau - Hà Tiên).
Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ là cửa ngõ của các tỉnh Đồng bằng sông
Cửu Long, bao gồm 33 huyện, thị của 7 tỉnh có biển từ Tiền Giang-Cà Mau đến Hà
Tiên (tỉnh Kiên Giang). Diện tích gần 14.924 km
2
, dân số năm 2011 là hơn 5,8 triệu
người. Đây là vùng biển chưa khai thác nhiều, nằm cả ở phía Đông và phía Tây, giáp
với Cămpuchia và Thái Lan.
4.1. Định hướng phát triển không gian kinh tế biển
a) Phát triển toàn diện ngành hải sản, xây dựng khu vực này thành tiểu vùng
kinh tế hải sản trọng điểm của cả nước.
Tập trung phát triển toàn diện ngành hải sản, bao gồm cả khai thác, nuôi trồng,
chế biến và hậu cần dịch vụ. Ngành hải sản thành ngành kinh tế biển mũi nhọn của
tiểu vùng, có tỷ trọng đóng góp lớn về GDP.
Phát triển mạnh nghề cá xa bờ. Đầu tư đồng bộ cho những đội tầu lớn, có công
suất lớn, làm lực lượng nòng cốt cho ngư dân phát triển khai thác các vùng khơi Vịnh
Thái Lan và vùng khơi Đông Nam bộ, đồng thời hỗ trợ cùng lực lượng quốc phòng
ngăn ngừa có hiệu quả các tàu thuyền nước ngoài xâm phạm đánh bắt trộm hải sản,
góp phần bảo vệ vững chắc an ninh và chủ quyền vùng biển của Tổ Quốc. Kết hợp
chặt chẽ giữa phát triển khai thác với phát triển đồng bộ mạng lưới các cơ sở chế biến
và hậu cần phục vụ nghề cá. Xây dựng hệ thống các căn cứ hậu cần mạnh ở ven bờ và
trên một số đảo quan trọng như Rạch Giá, Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du, Nam Căn,
Gềnh Hào, Hòn Khoai.
Phát triển nuôi trồng hải đặc sản mặn, lợ, đặc biệt là nuôi tôm xuất khẩu. Kết
hợp chặt chẽ giữa nuôi trồng hải sản với bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn. Xây
dựng các mô hình sản xuất nông, lâm, ngư phù hợp với đặc điểm sinh thái của từng
khu vực nhằm khai thác tổng hợp và có hiệu quả tiềm năng các bãi triều ven biển. Phát
với an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển Tây Nam của Tổ quốc.
d) Phát triển kết cấu hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi để đẩy mạnh các ngành
kinh tế biển.
Kết cấu hạ tầng kinh tế biển của vùng này hiện còn rất yếu và là một nhân tố
gây trở ngại lớn cho phát triển kinh tế xã hội trong tiểu vùng. Trong tương lai cùng với
việc cải tạo và đồng bộ hoá kết cấu hạ tầng của các trung tâm công nghiệp, các đô thị
ven biển cần dành nguồn vốn thoả đáng để đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
cho các vùng sâu, vùng xa và các hải đảo. Phát triển thông tin liên lạc, bảo đảm thông
tin nhanh và thông suốt đến các thị tứ ven biển và đến các đảo. Mở rộng mạng lưới
điện quốc gia đến tất cả các xã, các điểm dân cư tập trung, phục vụ sinh hoạt và phát
triển công nghiệp nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông lâm hải sản. Đầu tư
trang bị các trạm phát điện độc lập cho các đảo.
4.2. Xây dựng Phú Quốc trở thành trung tâm giao thương quốc tế, trung tâm
du lịch sinh thái đảo - biển của các nước và khu vực.
- Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 178/QĐ-TTg phát triển Đảo Phú
quốc trở thành trung tâm giao thương quốc tế, trung tâm du lịch sinh thái đảo - biển
của các nước và khu vực. Trong những năm trước mắt hình thành được một số khu du
lịch và giải trí chất lượng cao, góp phần đáng kể giải quyết việc làm, nâng cao đời
sống văn hoá, xã hội cho đảo Phú Quốc và các đảo nằm trong huyện Đảo
- Đến năm 2020 hoàn thành về cơ bản xây dựng Phú Quốc là trung tâm giao
thương quốc tế, ngành du lịch trở thành mũi nhọn phát triển ở trình độ cao, trở thành
trung tâm du lịch sinh thái đảo-biển lớn của cả nước, khu vực và quốc tế.
5. Không gian hải đảo. Vùng biển Việt Nam có khoảng 3.000 hải đảo lớn nhỏ,
trong đó có 2.773 hòn đảo ven bờ với tổng diện tích 1.700km và dân số khoảng 20 vạn
người. Các hải đảo phân bố khá đều từ bắc xuống Nam, nhưng tập trung nhất là ở
vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng gồm hơn 2.300 đảo, chiếm 77% tổng số đảo cả
nước.
Mỗi đảo là một“thỏi bạc”, bên cạnh các giá trị cảnh quan nổi, quanh đảo còn
quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi hải sản, đối với phát triển nghề cá
và du lịch sinh thái biển. Trên đảo có các làng cá, di tích văn hóa, lịch sử góp phần